Bài tập hiến pháp Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trong bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quốc hội là đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Nguyên tắc này lần đầu tiên được quy định trong Hiến pháp năm 1946 : “Nghị viện nhân dân là cơ quan có quyền lực cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.” (điều 22).Tiếp đó nguyên tắc này được củng cố và quy định rõ ràng hơn trong Hiến pháp năm 1959: “ Tất cả quyền lực trong nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đều thuộc về nhân dân, nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân” ( Điều 4). Tại điều 82 Hiến pháp năm 1980 và điều 83 Hiến pháp 1992 đã khẳng định lại vị trí quan trọng của Quốc hội: “ Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”

doc10 trang | Chia sẻ: ngtr9097 | Ngày: 27/05/2013 | Lượt xem: 1575 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Bài tập hiến pháp Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
I, MỞ BÀI Trong bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quốc hội là đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Nguyên tắc này lần đầu tiên được quy định trong Hiến pháp năm 1946 : “Nghị viện nhân dân là cơ quan có quyền lực cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.” (điều 22).Tiếp đó nguyên tắc này được củng cố và quy định rõ ràng hơn trong Hiến pháp năm 1959: “ Tất cả quyền lực trong nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đều thuộc về nhân dân, nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân” ( Điều 4). Tại điều 82 Hiến pháp năm 1980 và điều 83 Hiến pháp 1992 đã khẳng định lại vị trí quan trọng của Quốc hội: “ Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” II . GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1 , Quốc hội – đại biểu cao nhất của nhân dân . Hiến pháp - luật cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tại Điều 2 đã khẳng định : “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức.” .Quốc hội được xem là đại biểu cao nhất của nhân dân, thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước.Tính đại diện cao nhất của Quốc hội nước ta thể hiện trên các 4 yếu tố sau: 1.1 , Về cách thức thành lập Quốc hội khóa I của nước ta được thành lập vào năm 1946 dưới tên gọi là Nghị viện nhân dân từ con đường bầu cử . Cách thức thành lập đến qua con đường bầu cử trực tiếp được duy trì cho những nhiệm kì tiếp theo và cho đến nay là Quốc hội khóa XIII. Quốc hội là cơ quan duy nhất do cử tri cả nước bầu ra theo 4 nguyên tắc : phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. ( Điều 1 ,Luật tổ chức Quốc hội năm 2001 ) . Cử tri cả nước (tức là những công dân Việt Nam đủ 18 tuổi và năng lực hành vi ) bầu ra những đại biểu Quốc hội thật sự ưu tú để nhân dân ủy quyền, thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước của nhân dân . Thông qua các đại biểu của mình cũng như các hình thức hoạt động của Quốc hội , nhân dân thể hiện quyền làm chủ của mình. Trong nhiệm kỳ, nếu đại biểu nào tỏ ra không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân có thể bị cử tri bãi nhiệm, miễn nhiệm . Đại biểu bị bãi nhiệm khi có quá nửa tổng số cử tri đơn vị bầu cử hoặc ít nhất 2/3 tổng số đại biểu bỏ phiếu bãi nhiệm. 1,2. Về cơ cấu, thành phần đại biểu Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ : “các đại biểu trong Quốc hội này không phải đại diện cho một đảng phái nào mà đại diện cho toàn thể quốc dân Việt Nam”, “Quốc hội là tiêu biểu cho ý chí thống nhất của dân tộc ta, một ý chí sắt đá không gì lay chuyển nổi”. Quốc hội  là nơi quy tụ được bộ phận tinh hoa của các tầng lớp nhân dân, các dân tộc anh em đang sống trên mọi vùng lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam . Quốc hội thể hiện khối đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh công nông dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam ,phản ánh tiếng nói toàn dân tộc. Để đảm bảo có số lượng thích đáng , số đại biểu là dân tộc thiểu số , phụ nữ do Uỷ ban thường vụ Quốc hội dự kiến theo đề nghị của Hội đồng dân tộc ,Đoàn Chủ tịch Ban chấp hành trung ương Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam ( theo điều 10, điều 10a Luật bầu cử Quốc hội năm 2001.) Trong Quốc hội khóa I , có 333 đại biểu được bầu ra trong đó có 34 đại biểu các dân tộc thiểu số và 57 % đại biểu các đảng phái khác nhau . Hiện nay , trong Quốc hội khóa XIII , tổng số đại biểu là 500 người, trong đó: 33.4% đại biểu ở các cơ quan trung ương; 65.8% đại biểu ở địa phương; 15.6% đại biểu là người dân tộc thiểu số; 24.4% đại biểu là phụ nữ; 8.4% đại biểu là người ngoài Đảng; 12.2% đại biểu là trẻ tuổi (dưới 40); 33.2% là đại biểu Quốc hội khóa XII tái cử; 98,2% đại biểu có trình độ đại học và trên đại học; 7% đại biểu thuộc khối doanh nghiệp; 33% đại biểu hoạt động chuyên trách ở các cơ quan của Quốc hội và các Đoàn đại biểu Quốc hội; 0.8% đại biểu là người tự ứng cử 1.3 , Về thẩm quyền Quốc hội có nhiệm vụ và quyền hạn to lớn để thiết lập trật tự chính trị, pháp lý trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội của đất nước. Ở nước ta, Quốc hội là cơ quan duy nhất có thẩm quyền quyết định những vấn đề thuộc chủ quyền quốc gia, những vấn đề trọng đại của đất nước : Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp, quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân, thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước ( Điều 1, Luật tổ chức Quốc hội năm 2001 ). Các quyết định của Quốc hội đều bắt nguồn từ ý chí, nguyện vọng của nhân dân cả nước và tất cả đều nhằm phục vụ cho lợi ích chung của dân tộc, của nhân dân và của đất nước. Trong kỳ họp Quốc hội, Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn về các vấn đề của đất nước, khác với đa số các nước tư bản với sự chất vấn chỉ là đại diện cho đơn vị bầu cử ra các nghị sĩ. Đây chính là một điểm tiến bộ của chế độ xã hội chủ nghĩa. 1.4, Quốc hội chịu trách nhiệm trước nhân dân Tính đại diện của Quốc hội còn thể hiện ở việc Quốc hội chịu sự giám sát và chịu trách nhiệm trước nhân dân. Đây là mối quan hệ ràng buộc hai chiều giữa đại biểu Quốc hội với nhân dân. Một trong những tiêu chuẩn của Đại biểu Quốc hội là : “ Liên hệ chặt chẽ với nhân dân ,lắng nghe ý kiến của nhân dân, được nhân dân tín nhiệm .” ( trích Điều 3 ,Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 2001 ). Như vậy , Bắt nguồn từ nhân dân và được sự tín nhiệm của nhân dân, các đại biểu quốc hội có trách nhiệm gần gũi, lắng nghe ý kiến của nhân dân, phản ánh tâm tư nguyện vọng của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân, phải xuất phát từ lợi ích của đông đảo nhân dân để quyết định các vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội. Quốc hội và các đại biểu Quốc hội chịu sự giám sát của nhân dân thông qua việc bảo đảm cho nhân dân theo dõi quá trình làm việc của Quốc hội . Quốc hội họp công khai , khi Quốc hội họp công khai công chúng có thể được đến dự theo giấy mời của Văn phòng Quốc hội .Các cơ quan thông tấn, báo chí được mời dự các phiên họp công khai của Quốc hội để phản ánh kịp thời ,chính xác các hoạt động của Quốc hội đến với quần chúng nhân dân . Đại biểu Quốc hội là những người ưu tú thuộc mọi dân tộc trong cả nước được nhân dân tín nhiệm bầu ra nên chịu sự giám sát chặt chẽ của nhân dân, hoạt động phục vụ cho lợi ích của quần chúng nhân dân. Điều này đã được quy định rõ trong điều 97 Hiến pháp năm 1992( sửa đổi bổ sung năm 2001 ); các điều 51, 52, 53, 54 chương IV của Luật tổ chức Quốc hội năm 2001. Theo đó: Để cử tri có thể thực hiện được quyền giám sát của mình, Đại biểu Quốc hội phải thường xuyên tiếp xúc với cử tri, tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của cử tri; báo cáo với cử tri hoạt động của mình. Mỗi năm ít nhất một lần đại biểu phải báo cáo với cử tri về việc thực hiện nhiệm vụ của mình. Tiếp dân là nhiệm vụ thường xuyên của đại biểu Quốc hội, Đại biểu Quốc hội tiếp dân để nghe nhân dân góp ý xây dựng nhà nước đồng thời giúp dân giải quyết những thắc mắc, kiến nghị, khiếu nại và tố cáo … Nhiệm kì của Quốc hội là 5 năm, việc tuyển cử các đại biểu Quốc hội mới đảm bảm cho nhân dân có thể lựa chọn và bổ sung những đại diện mới vào cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của mình. 2, Quốc hội – cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Vấn đề này đã được khẳng định trong 4 bản Hiến pháp nước ta. Điều 22 Hiến pháp năm 1946 quy định: “ Nghị viện nhân dân là cơ quan có quyền lực cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa “.Điều đó được quy định rõ ràng hơn trong Hiến pháp năm 1959 : “ Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa “ (điều 43). Trong hai bản Hiến pháp năm 1980 và 1992 vai trò của Quốc hội tiếp tục được khẳng định : “ Quốc hội là cơ quan… quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.” Tính quyền lực cao nhất thể hiện trong chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội: Điều 83 Hiến pháp năm 1992 đã quy định rõ chức năng của Quốc hội bao gồm ba phương diện chính sau: “… Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chưc và hoạt động của bộ máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân. Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.” Các chức năng của Quốc hội đã được cụ thể hóa thành các nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội. Các nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội được quy định trong điều 84 Hiến pháp năm 1992 và được cụ thể hóa trong Luật tổ chức Quốc hội của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2001 . Bao gồm những lĩnh vực : Trong lĩnh vực lập hiến và lập pháp: Quyền “ đặt ra pháp luật ” của Quốc hội đã được quy định trong điều 23 Hiến pháp năm 1946 của nước ta. Đến Hiến pháp năm 1959, quyền lập pháp của Quốc hội được khẳng định tại điều 44: “ Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiên của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa.” .Trên cơ sở đó Hiến pháp năm 1980 đã quy định: “… Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp...” (điều 82) ,có quyền làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp , làm luật và sửa đổi luật ( khoản 1, khoản 2 điều 83). Hiến pháp năm 1992 đã bổ sung quyền quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh để đảm bảo cho hoạt động lập pháp của Quốc hội có hiệu quả hơn. Điều 84 Hiến pháp hiện hành quy định chỉ Quốc hội có nhiệm vụ và quyền hạn: “ Làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp, làm luật và sửa đổi luật, quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh.” “Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là luật cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất . ( điều 146 HIến phăp năm 1992 ), quy định các vấn đề quan trọng nhất về quyền lực Nhà nước và cách thức tổ chức quyền lực Nhà nước, về chế độ chính trị, chế độ kinh tế, chế độ văn hoá – xã hội, về cơ cấu tổ chức bộ máy Nhà nước, về quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân… Hiến pháp và Luật thể hiện đường lối cơ bản và những chủ trương lớn của Đảng đã được Nhà nước thể chế hoá và có hiệu lực thi hành trên toàn lãnh thổ nước ta. Luật là văn bản có hiệu lực pháp lý cao sau Hiến pháp.Các văn bản qui phạm pháp luật khác do các cơ quan nhà nước ban hành phải căn cứ vào Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội và không được trái với tinh thần, nội dung của Hiến pháp, Luật và Nghị quyết của Quốc hội. Chính vì vậy, chỉ có Quốc hội _ cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất mới có quyền định ra các quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lí cao nhất, điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản nhất của xã hội ta. Quyền lập hiến và lập pháp của Quốc hội xuất phát chính từ vị trí, tính chất của cơ quan quyền lực cao nhất đó. Phải là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất mới có quyền định ra các quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất, điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản nhất của xã hội ta. Quốc hội giữ quyền làm hiến pháp thì cũng có quyền sửa đổi hiến pháp; Quốc hội có quyền làm luật thì cũng có quyền sửa đổi luật.Quốc hội còn có quyền quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh. Trong lĩnh vực quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước: Là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, Quốc hội có quyền quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, qui định những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân. Trong Hiến pháp năm 1946, thẩm quyền của Quốc hội được quy định chung tại Điều 23: “Nghị viện nhân dân giải  quyết mọi vấn đề chung cho toàn quốc, đặt ra các pháp luật, biểu quyết ngân sách, chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ ký với nước ngoài”.Trong Hiến pháp 1980, phạm vi thẩm quyền của Quốc hội trong việc thực hiện chức năng quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước được mở rộng hơn. Theo Điều 82 của Hiến pháp năm 1980, “Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, những mục tiêu phát triển kinh tế và văn hóa, những quy tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân”. Hiến pháp năm 1992 khẳng định vị trí của Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội có chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Đến năm 2001, Hiến pháp 1992 được sửa đổi, bổ sung, trong đó có một số quy định mới điều chỉnh nhiệm vụ quyền hạn của Quốc hội nhằm khẳng định vai trò của  Quốc hội trong việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Cụ thể là ở Điều 84 của Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 quy định Quốc hội: “phân bổ ngân sách trung ương”; “quyết định chính sách tôn giáo của Nhà nước”; “phê chuẩn đề nghị của Chủ tịch nước về danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh; bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn” và “phê chuẩn hoặc bãi bỏ điều ước quốc tế do Chủ tịch nước trực tiếp ký”. Những vấn đề quan trọng của đất nước do Quốc hội quyết định gồm có: Về tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước ở trung ương: Quốc hội bầu, miễn nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Quốc hội, thành lập Chính phủ, bầu Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; quyết định thành lập, bãi bỏ các bộ và các cơ quan ngang bộ; thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương… Về lĩnh vực kinh tế- ngân sách: Quốc hội quyết định kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quyết định dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương; chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, quyết định đại xá. Vấn đề chiến tranh và hoà bình, Quốc hội quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia. Về đối ngoại, Quốc hội phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tế mà nước ta là thành viên theo tờ trình của Chủ tịch nước. Trong lĩnh vực tổ chức nhà nước: Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng, củng cố và phát triển bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương. Ngay từ Hiến pháp 1946, tại Điều 25 đã qui định: “Nghị viện không chỉ thay mặt cho địa phương mình mà còn thay mặt cho toàn thể nhân dân”; Nghị viện nhân dân có quyền bỏ phiếu bầu Chủ tịch nước tại Điều 45; bầu cử Thủ tướng và các bộ trưởng tại Điều 47 và chế độ trách nhiệm của Thủ trưởng, bộ trưởng trước Nghị viện nhân dân tại Điều 54. Điều 83 Hiến pháp năm 1992 quy định : “ Quốc hội quyết định…những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ;”.Bộ máy nhà nước ta từ trung ương đến địa phương, từ các cơ quan quyền lực nhà nước đến các cơ quan quản lí nhà nước, cơ quan xét xử và cơ quan kiểm sát được tổ chức theo mô hình nào đều do Quốc hội xem xét lựa chọn, được thể hiện trong Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức tòa án nhân dân, Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân, Luật tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân. Quốc hội có quyền bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm những người đứng đầu các cơ quan khác của nhà nước; nhiệm kỳ hoạt động của các cơ quan nhà nước do Quốc hội thành lập là theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Mặt khác, mỗi cơ quan nhà nước khi được thành lập có phạm vi thẩm quyền nhất định và có tính độc lập trong việc tổ chức thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn được giao trong phạm vi thẩm quyền đó và được quy định trong các văn bản luật tổ chức. Vai trò của Quốc hội còn được tăng cường trong việc xem xét và quyết định các vấn đề về nhân sự cấp cao. Trước năm 2001, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 đều giao cho cơ quan thường trực của Quốc hội là Hội đồng Nhà nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có quyền phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ và báo cáo với Quốc hội tại kỳ họp gần nhất của Quốc hội. Điều khỏan sửa đổi của Hiến pháp năm 1992 đã bãi bỏ thẩm quyền này của Uỷ ban thường vụ Quốc hội để bảo đảm Quốc hội là chủ thể duy nhất có quyền quyết định nhân sự cấp cao của nhà nước. Trong Báo cáo trình Quốc hội về vấn đề này, Uỷ ban dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 cho rằng đây là vấn đề quan trọng, phải thuộc thẩm quyền của Quốc hội, không nên giao cho cơ quan khác thực hiện. Về mặt thời gian, mỗi năm Quốc hội họp hai kỳ, thời gian giữa hai kỳ họp không dài. Do đó, việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức những người giữ các chức danh này không nhất thiết phải tiến hành trong thời gian Quốc hội không họp. Như vậy, việc bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội và các ủy viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ; phê chuẩn đề nghị của Chủ tịch nước về danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh sau khi Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi vào năm 2001 là hoàn toàn thuộc thẩm quyền của Quốc hội, thể hiện tinh thần và mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Quốc hội quyết định thành lập, bãi bỏ các bộ và các cơ quan ngang bộ của Chính phủ; thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, thành lập hoặc giải thể đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt. Quốc hội có quyền bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội. Quốc hội còn quy định hàm, cấp trong các lực lượng vũ trang nhân dân, hàm cấp ngoại giao và những hàm cấp Nhà nước khác ; quy định huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự nhà nước. Trong lĩnh vực giám sát tối cao toàn bộ hoạt động của Nhà nước, giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật: Giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật do nhiều cơ quan nhà nước tiến hành theo phạm vi thẩm quyền của mình nhưng sự giám sát của Quốc hội là sự giám sát cao nhất. Quốc hội thực hiện quyền giám sát nhằm đảm bảo cho những quy định của Hiến pháo, pháp luật được thi hành triệt để, nghiêm minh và thống nhất; làm cho bộ máy nhà nước ta hoạt động nhịp nhàng, không chồng chéo, chống các biểu hiện tham nhũng, quan liêu, hách dịnh và cửa quyền vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đối tượng giám sát của Quốc hội là việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội; hoạt động của các cơ quan Nhà nước ở trung ương là Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Các cơ quan này chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội. Lần đầu tiên, Hiến pháp năm 1980 đã xác định tính chất và đặc điểm chức năng giám sát của Quốc hội là “giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước”. Quy định này là căn cứ pháp lý quan trọng để phân định rõ hoạt động giám sát của Quốc hội với các hình thức giám sát khác việc thi hành pháp luật ở nước ta.Quy định đó đã được khẳng định lại trong điều 83 của Hiến pháp năm 1992. Cụ thể hóa quy định Quốc hội có quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước, điều khoản sửa đổi của Hiến pháp năm 1992 quy định Uỷ ban thường vụ Quốc hội chỉ có quyền trực tiếp hủy bỏ những văn bản trái với pháp lệnh
Luận văn liên quan