Bài tập lớn về hành vi chiếm đoạt tài sản

V không có việc làm ổn định và chuyên sống bằng nghề trộm cặp tài sản tại nhà ga (V đã có 4 tiền án về hành vi chiếm đoạt tài sản). Một lần, V rạch túi của một hành khách và lấy được một chiếc điện thoại di động trị giá 5 triệu đồng. Trong khi đang tìm cách tiêu thụ chiếc điện thoại đó, V bị bắt. Hành vi của V được xác định là phạm tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 BLHS. Câu hỏi: 1. Căn cứ vào khoản 3 Điều 8 BLHS, hãy phân loại tội phạm đối với tội cắp tài sản. 2. Dựa vào đặc điểm cấu trúc của các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm được cấu thành tội phạm phản ánh, hãy xác định cấu thành tội phạm đối với tội trộm cắp tài sản. 3. Hãy chỉ ra khách thể và đối tượng tác động của tội phạm mà V đã thực hiện. 4. Giả sử V và P cùng bàn nhau rạch túi hành khách để chiếm đoạt tài sản. P đứng canh gác, còn V trực tiếp rạch túi của chủ tài sản. V đã rạch túi và lấy được chiếc điện thoại nói trên, P có phải chịu trách nhiệm hình sự không? Tại sao? 5. Giả sử V 20 tuổi, V đã dụ dỗ P rạch túi hành khách để chiếm đoạt tài sản (P 12 tuổi). V có phải là người đồng phạm với vai trò xúi giục không? Giải thích rõ tại sao.

doc10 trang | Chia sẻ: ngtr9097 | Ngày: 25/05/2013 | Lượt xem: 2056 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Bài tập lớn về hành vi chiếm đoạt tài sản, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ĐỀ SỐ 4 V không có việc làm ổn định và chuyên sống bằng nghề trộm cặp tài sản tại nhà ga (V đã có 4 tiền án về hành vi chiếm đoạt tài sản). Một lần, V rạch túi của một hành khách và lấy được một chiếc điện thoại di động trị giá 5 triệu đồng. Trong khi đang tìm cách tiêu thụ chiếc điện thoại đó, V bị bắt. Hành vi của V được xác định là phạm tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 BLHS. Câu hỏi: Căn cứ vào khoản 3 Điều 8 BLHS, hãy phân loại tội phạm đối với tội cắp tài sản. Dựa vào đặc điểm cấu trúc của các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm được cấu thành tội phạm phản ánh, hãy xác định cấu thành tội phạm đối với tội trộm cắp tài sản. Hãy chỉ ra khách thể và đối tượng tác động của tội phạm mà V đã thực hiện. Giả sử V và P cùng bàn nhau rạch túi hành khách để chiếm đoạt tài sản. P đứng canh gác, còn V trực tiếp rạch túi của chủ tài sản. V đã rạch túi và lấy được chiếc điện thoại nói trên, P có phải chịu trách nhiệm hình sự không? Tại sao? Giả sử V 20 tuổi, V đã dụ dỗ P rạch túi hành khách để chiếm đoạt tài sản (P 12 tuổi). V có phải là người đồng phạm với vai trò xúi giục không? Giải thích rõ tại sao. MỞ ĐẦU Quan hệ sở hữu là một quan hệ cơ bản của xã hội. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam có rất nhiều ngành luật điều chỉnh quan hệ này, nếu như luật dân sự bảo vệ quyền sở hữu bằng việc quy định cụ thể về quan hệ sở hữu, về quyền sở hữu và những phương thức kiện dân sự để bảo vệ quyền sở hữu của chủ thể thì luật hình sự lại điều chỉnh quan hệ sở hữu bằng cách đặc trưng của luật hình sự, đó là quy định những chế tài đối với tội xâm phạm sở hữu. Một trong những tội đó là tội trộm cắp tài sản được quy định trong Điều 138 BLHS. BÀI LÀM 1. Căn cứ vào khoản 3 Điều 8 BLHS, hãy phân loại tội phạm đối với tội trộm cắp tài sản Căn cứ vào khoản 3 Điều 8 BLHS có thể phân loại tội phạm đối với tội trộm cắp tài sản trong trường hợp phạm tội tại khoản 1 Điều 138 là loại tội ít nghiêm trọng. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt. Như vậy, mọi tội phạm đều là những hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng không phải tội phạm nào cũng gây nguy hại cho xã hội với mức độ như nhau. Và đây cũng là cơ sở để thống nhất cho việc xây dựng khung hình phạt cho các tội phạm cụ thể. Khoản 3 Điều 8 quy định: “Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hiểm không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đới với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tôi phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.” - Xét về tính nguy hiểm cho xã hội: Khoản 1 Điều 138 quy định: “Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.” Trong tình huống trên, V đã trộm cắp tài sản có giá trị 5 triệu đồng nên đã phạm tội theo khoản 1 Điều 138, hành vi của V đã gây thiệt hại cho xã hội nhưng ở mức độ thấp, ít nghiêm trọng. Ngoài ra, V không còn những hành vi nào khác như dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm, hành hung để tẩu thoát,… - Về khung hình phạt áp dụng cho trường hợp phạm tội tại khoản 1 Điều 138 là “…thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.” Như vậy, mức cao nhất của khung hình được quy định là đến ba năm. Đối chiếu với khoản 3 Điều 8 BLHS, có thể kết luận loại tội được quy định trong khoản 1 Điều 138 là phạm tội ít nghiêm trọng. Lưu ý là khi phân loại tội phạm phải dựa vào mức cao nhất của khung hình phạt chứ không thể căn cứ và mức án mà tòa án tuyên phạt cho một tội phạm cụ thể. Bởi vì, bản án mà tòa án đã tuyên cho một tội phạm được căn cứ vào những quy định của BLHS và cả những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. 2. Dựa vào đặc điểm cấu trúc của các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm được CTTP phản ánh, hãy xác định loại CTTP đối với tội trộm cắp tài sản Loại CTTP đối với tội trộm cắp tài sản là CTTP vật chất. CTTP là tổng hợp những dấu hiệu chung có tính đặc trưng cho loại tội phạm cụ thể được quy định trong luật hình sự. Như vậy, CTTP là cơ sở pháp lí của trách nhiệm hình sự, là căn cứ pháp lí để định tội và định khung hình phạt. Các CTTP của tất cả các loại tội phạm cụ thể tuy đều là hình thức phản ánh trong luật hình sự nội dung của bốn yếu tố cấu thành tội phạm nhưng được xây dựng với những đặc điểm cấu trúc khác nhau. Việc xây dựng loại tội nào có CTTP cơ bản là CTTP vật chất hay CTTP hình thức là xuất phát từ cơ sở khách quan sau: - Nếu riêng hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thể hiện được đầy đủ tính nguy hiểm của tội phạm hoặc hậu quả nguy hiểm cho xã hội là hậu quả khó xác định thì CTTP thường được xây dựng là CTTP hình thức. - Nếu riêng hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa thể hiện được hoặc chưa thể hiện được đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm mà đòi hỏi phải có cả hậu quả nguy hiểm cho xã hội thì CTTP thường được xây dựng là CTTP vật chất. CTTP vật chất là CTTP có các dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi, hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả. Tội trộm cắp tài sản theo như mô tả trong CTTP ở trên đã đảm bảo thể hiện các dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi trộm cắp tài sản, hậu quả là trộm cắp được tài sản có giá trị từ bao nhiêu hay gây ra hậu quả nghiêm trọng như thế nào, mối quan hệ nhân quả là phải có hành vi trộm cắp mới có hậu quả mất tài sản, hành vi trộm cắp trực tiếp gây ra hậu quả là mất tài sản, như vậy CTTP của tội trộm cắp tài sản là CTTP vật chất. 3. Chỉ ra khách thể và đối tượng tác động của tội phạm mà V đã thực hiện * Khách thể của tội phạm: Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ nhưng bị tội phạm xâm hại bằng cách gây thiệt hại hoặc đe dọa trực tiếp gây thiệt hại ở một chừng mực nhất định. Nếu quan hệ xã hội không bị xâm hại thì không có hành vi nguy hiểm cho xã hội và tất yếu không có tội phạm. Do đó, khi đề cập đến tội phạm thì trước tiên cần phải xác định quan hệ xã hội mà luật hình sự bảo vệ bị xâm hại. Theo luật hình sự Việt Nam, những quan hệ được coi là khách thể bảo vệ của luật hình sự là những quan hệ xã hội đã được xác định tại khoản 1 Điều 8 BLHS bao gồm: Độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, sở hữu, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân… Xét trong tình huống trên: khách thể đã bị tội phạm xâm hại ở đây là quan hệ sở hữu. V đã có hành vi rạch túi một hành khách và trộm cắp được một chiếc điện thoại di động 5 triệu đồng, hành vi đó của V đã thỏa mãn những dấu hiệu cơ bản CTTP trộm cắp tài sản cơ. Hành vi của V đã xâm hại quan hệ sở hữu được nhà nước bảo vệ, cụ thể ở đây là sự sở hữu đối với chiếc điện thoại của hành khách kia, sự sở hữu hợp pháp mà tất cả mọi người đều phải tôn trọng và có nghĩa vụ đảm bảo. * Đối tượng tác động của tội phạm Đối tượng tác động của tội phạm là bộ phận của khách thể của tội phạm, bị hành vi phạm tội tác động đến để gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Các bộ phận của khách thể bị tác động trong trường hợp này là: - Chủ thể của các quan hệ xã hội (người hành khách bị mất tài sản). - Nội dung của các quan hệ xã hội: là hoạt động của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ xã hội (đó là hoạt động chiếm hữu, sử dụng, định đoạt với tài sản là chiếc điện thoại của người hành khách). - Đối tượng của các quan hệ xã hội: là các sự vật khác nhau của thế giới bên ngoài cũng như các lợi ích mà qua đó các quan hệ xã hội phát sinh và tồn tại (đối tượng mà hành vi trộm cắp của V trực tiếp tác động là chiếc điện thoại và lợi ích mà nó đem lại như có thể bán đi với giá trị cao). Bất cứ tội phạm nào cũng đều tác động làm biến đổi tình trạng của những đối tượng tác động cụ thể. Sự làm biến đổi tình trạng này là phương thức gây thiệt hại cho quan hệ xã hội. Thông qua việc xâm phạm đến các đối tượng tác động trên, V đã xâm phạm vào khách thể là quan hệ sở hữu, gây thiệt hại cho xã hội. 4. Giả sử V và P bàn nhau rạch túi hành khách để chiếm đoạt tài sản. P đứng canh gác, còn V trực tiếp rạch túi của chủ tài sản. V đã rạch túi và lấy được chiếc điện thoại nói trên. P có phải chịu trách nhiệm hình sự không? Tại sao? Điều 12 BLHS quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự: “1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự với mọi tội phạm. 2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.” Trường hợp P chưa đủ 16 tuổi mặc dù tội phạm được thực hiện là do V và P cùng nhau cố ý thực hiện. V và P cùng bàn bạc lên kế hoạch và cùng nhau thực hiện tội phạm nhưng loại tội mà V và P đã thực hiện ở đây là tội ít nghiêm trọng, vì vậy theo quy định tại khoản 2 Điều 12 như trên thì P không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đã phạm do chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Trường hợp P từ đủ 16 tuổi trở lên sẽ rơi vào trường hợp như khoản 1 Điều 12 BLHS, và theo quy định P sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, có nghĩa là mặc dù P chỉ phạm tội ít nghiêm trọng thì P vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự. Trong tình huống này, V và P bàn nhau rạch túi hành khách để chiếm đoạt tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 20 BLHS: “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.” thì trường hợp của V và P là đồng phạm với nhau vì đã bàn bạc có nghĩa là cùng cố ý thực hiện một tội phạm, hai người cùng có đầy đủ những điều kiện về chủ thể vậy nên hai người sẽ phải cùng chịu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản theo nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm. Vì vậy, trong trường hợp P từ đủ 16 tuổi trở lên thì P sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự. 5. Giả sử V 20 tuổi, V đã dụ dỗ P rạch túi hành khách để chiếm đoạt tài sản (P 12 tuổi). V có phải là người đồng phạm với vai trò xúi giục không? Tại sao? V không phải là người đồng phạm với vai trò xúi giục. Khoản 1 Điều 20 BLHS quy định: “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cùng cố ý thực hiện một tội phạm.” Như vậy, để có đồng phạm cần phải có những dấu hiệu sau: - Về mặt khách quan: phải có ít nhất từ hai người trở lên, những người này phải có đủ điều kiện của chủ thể của tội phạm (có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự) và những người này phải cùng cố ý thực hiện tội phạm với một trong bốn hành vi được quy định tại khoản 2 Điều 20 BLHS (người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức) - Về mặt chủ quan: những người thực hiện tội phạm đều có lỗi cố ý. Trong đồng phạm, mỗi người đều biết rõ hành vi của mình và những người khác là hành vi nguy hiểm cho xã hội, mỗi người đều thấy trước hậu quả nguy hiểm do hành vi của mình cũng như hậu quả chung của tội phạm mà họ tham gia thực hiện. Ngoài ra về ý chí, những người đồng phạm cùng mong muốn hoặc cùng có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra. Ở những tội mà dấu hiệu mục đích là dấu hiệu bắt buộc của CTTP, thì đồng phạm phải có cùng mục đích hoặc mục đích khác nhau nhưng họ biết rõ và tiếp nhận mục đích của nhau. Như vậy, trong tình huống trên, không thể nói là có đồng phạm vì chỉ có V (20 tuổi) là người có đủ tư cách chủ thể, còn P mới chỉ 12 tuổi, chưa đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 12 BLHS vì tội phạm ở đây là tội ít nghiêm trọng. Chính vì không có đồng phạm nên V không thể là đồng phạm với vai trò là người xúi giục mặc dù V đã có hành vi dụ dỗ P phạm tội. Vấn đề trách nhiệm hình sự sẽ không đặt ra cho P mà chỉ đặt ra cho V. Việc V dụ dỗ, xúi giục người chưa thành niên (P 12 tuổi) phạm tội là một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự cho V được quy định lại điểm n khoản 1 Điều 48 BLHS. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trinh luật hình sự Việt Nam, Tập 1, Nxb CAND, Hà Nội, 2007. Nguyễn Ngọc Hòa, Tội phạm và cấu thành tội phạm, Nxb.CAND, Hà Nội, 2008. Dương Tuyết Miên, Định tội danh và quyết định hình phạt, Nxb.CAND, Hà Nội, 2004. MỤC LỤC
Luận văn liên quan