Báo cáo Mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán và bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán tài chính

Đất nước tài khoản đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng luôn đạt ở mức cao và có sự mở rộng của nhiều thành phần kinh tế. Các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã và đang tạo ra được những thị trường sôi nổi trong hầu hết các ngành nghề kinh doanh. Song song với quá trình phát triển đó, yêu cầu đặt ra đối với sự minh bạch của các thông tin tài chính đối với toàn bộ nền kinh tế cũng như đối với các doanh nghiệp là hết sức cần thiết. Ngành kiểm toán là một ngành mới ra đời ở Việt Nam, tuy nhiên bằng tác dụng thực tiễn to lớn của mình, kiểm toán đã khẳng định vai trò tích cực trong việc đảm bảo các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán được chấp hành nghiêm chỉnh, thông tin tài chính được trình bày một cách trung thực và hợp lý… Yếu tố làm nên sự thành công của một cuộc kiểm toán là nhận định chính xác rủi ro kiểm toán và thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán cả về mặt chất lượng và số lượng làm cơ sở cho kiểm toán viên đưa ra ý kiến đúng đắn. Trên thực tế, rủi ro kiểm toán và bằng chứng kiểm toán có mối quan hệ mật thiết với nhau, rủi ro kiểm toán quyết định bằng chứng kiểm toán. Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề án gồm ba phần với nội dung như sau: Phần 1: Rủi ro kiểm toán Phần 2: Bằng chứng kiểm toán Phần 3: Mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán và bằng chứng kiểm toán

doc28 trang | Chia sẻ: dansaran | Ngày: 12/12/2012 | Lượt xem: 3673 | Lượt tải: 3download
Tóm tắt tài liệu Báo cáo Mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán và bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán tài chính, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI MỞ ĐẦU Đất nước tài khoản đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng luôn đạt ở mức cao và có sự mở rộng của nhiều thành phần kinh tế. Các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã và đang tạo ra được những thị trường sôi nổi trong hầu hết các ngành nghề kinh doanh. Song song với quá trình phát triển đó, yêu cầu đặt ra đối với sự minh bạch của các thông tin tài chính đối với toàn bộ nền kinh tế cũng như đối với các doanh nghiệp là hết sức cần thiết. Ngành kiểm toán là một ngành mới ra đời ở Việt Nam, tuy nhiên bằng tác dụng thực tiễn to lớn của mình, kiểm toán đã khẳng định vai trò tích cực trong việc đảm bảo các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán được chấp hành nghiêm chỉnh, thông tin tài chính được trình bày một cách trung thực và hợp lý… Yếu tố làm nên sự thành công của một cuộc kiểm toán là nhận định chính xác rủi ro kiểm toán và thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán cả về mặt chất lượng và số lượng làm cơ sở cho kiểm toán viên đưa ra ý kiến đúng đắn. Trên thực tế, rủi ro kiểm toán và bằng chứng kiểm toán có mối quan hệ mật thiết với nhau, rủi ro kiểm toán quyết định bằng chứng kiểm toán. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề đó, em chọn đề tài “Mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán và bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính” với hy vọng tìm hiểu chi tiết hơn về rủi ro và bằng chứng kiểm toán cũng như mối quan hệ giữa rủi ro và bằng chứng kiểm toán. Mặc dù đây là một chủ đề rộng, nhưng nhờ có sự hướng dẫn nhiệt tình của cô giáo Nguyễn Phương Hoa mà em đã hoàn thành đề tài này. Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề án của em gồm ba phần với nội dung như sau: Phần 1: Rủi ro kiểm toán Phần 2: Bằng chứng kiểm toán Phần 3: Mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán và bằng chứng kiểm toán PHẦN 1: RỦI RO KIỂM TOÁN 1.1 Cơ sở hình thành rủi ro kiểm toán Rủi ro luôn tồn tại trong kinh doanh. Không nằm ngoài quy luật đó, kiểm toán cũng là một nghề mà trong đó chứa đựng những loại rủi ro khác nhau. Cụ thể trong kiểm toán tài chính, do những hạn chế về mặt pháp lý đối với kiểm toán viên hoặc hạn chế của hệ thống kế toán, hệ thống kiểm soát nội bộ hoặc do những hành vi thông đồng của nhà quản lý và nhân viên …mà gian lận và sai sót luôn tồn tại ở các mức độ khác nhau. Chính điều này là nguyên nhân tạo ra các loại rủi ro khác nhau trong kiểm toán nói chung cũng như trong kiểm toán báo cáo tài chính nói riêng. Do giới hạn về thời gian và chi phí nên yêu cầu đặt ra đối với kiểm toán viên là phát hiện ra các sai phạm trọng yếu chứ không phải toàn bộ mọi sai phạm trên các báo cáo tài chính. Để làm được điều này kiểm toán viên sẽ không kiểm tra chi tiết tất cả các nghiệp vụ phát sinh mà chọn ra một mẫu để từ đó thực hiện các thủ tục kiểm toán và đưa ra kết luận cho toàn bộ tổng thể. Khi thiết kế thủ tục kiểm toán, kiểm toán viên phải xác định các phương pháp thích hợp để lựa chọn các phần tử thử nghiệm nhằm thu thập các bằng chứng kiểm toán thoả mãn các mục tiêu thử nghiệm kiểm toán. Hầu hết các thủ tục kiểm toán đều được thực hiện dựa trên cơ sở lấy mẫu kiểm toán. Việc lấy mẫu kiểm toán được tiến hành trên số phần tử ít hơn 100% tổng số phần tử của một số dư tài khoản hay một loại nghiệp vụ, sao cho mọi phần tử đếu có cơ hội được lựa chọn. Lấy mẫu sẽ giúp kiểm toán viên thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán về các đặc trưng của các phần tử được lựa chọn, nhằm hình thành hay củng cố kết luận về tổng thể. Lấy mẫu có thể được tiến hành theo phương pháp thống kê hoặc phi thống kê. Chính bởi đặc trưng của quá trình chọn mẫu nên rủi ro kiểm toán luôn tồn tại trong quá trình thực hiện các thủ tục kiểm toán. Liên quan đến chọn mẫu, người ta chia rủi ro trong kiểm toán làm hai loại: Rủi ro lấy mẫu và rủi ro ngoài lấy mẫu. Rủi ro lấy mẫu là khả năng kết luận của kiểm toán viên dựa trên kiểm tra mẫu có thể khác với kết luận mà kiểm toán viên đạt được nếu kiểm tra trên toàn bộ tổng thể với cùng một thủ tục. Trong thực tế có hai loại rủi ro lấy mẫu là rủi ro khi kiểm toán viên kết luận rủi ro kiểm soát thấp hơn mức rủi ro thực tế (đối với thử nghiệm kiểm soát) hoặc không có sai sót trọng yếu trong khi thực tế là có (đối với thử nghiệm cơ bản), loại rủi ro ro này ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của cuộc kiểm toán, và có thể dẫn đến ý kiến kiểm toán không xác đáng; và rủi ro khi kiểm toán viên kết luận rủi ro kiểm soát cao hơn mức rủi ro thực tế (đối với thử nghiệm kiểm soát) hoặc có sai sót trọng yếu trong khi thực tế không có (đối với thử nghiệm cơ bản), loại rủi ro này ảnh hưởng đến hiệu quả của cuộc kiểm toán vì nó thường dẫn đến các công việc bổ sung để chứng minh rằng các kết luận ban đầu là không đúng. Rủi ro ngoài lấy mẫu là rủi ro khi kiểm toán viên đi đến một kết luận sai vì các nguyên nhân không liên quan đến kích cỡ mẫu. Ví dụ: kiểm toán viên có thể sử dụng thủ tục kiểm toán không thích hợp hay kiểm toán viên hiểu sai bằng chứng và không nhận diện được sai sót. 1.2 Rủi ro kiểm toán và các yếu tố ảnh hưởng Khái niệm rủi ro kiểm toán Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 (VSA 400), rủi ro kiểm toán là rủi ro do kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến nhận xét không thích hợp khi báo cáo tài chính đã được kiểm toán còn có những sai sót trọng yếu. Rủi ro kiểm toán, theo cách tiếp cận của Alvin. Arens (Auditing – An integrated approach), là rủi ro mà kiểm toán viên kết luận báo cáo tài chính được trình bày trung thực và hợp lý và do đó một ý kiến chấp nhận toàn phần được đưa ra trong khi thực tế báo cáo tài chính vẫn còn có những sai phạm trọng yếu. Cả hai khái niệm về kiểm toán đều cho thấy rủi ro kiểm toán là yếu tố rất quan trọng mà kiểm toán viên phải xem xét trước mỗi cuộc kiểm toán. Rủi ro kiểm toán luôn luôn tồn tại, ngay cả khi cuộc kiểm toán được lập kế hoạch chu đáo và được thực hiện một cách thận trọng bởi đội ngũ kiểm toán viên lành nghề. Trên thế giới đã có không ít những trường hợp các công ty kiểm toán lớn phải đối mặt với nguy cơ phá sản do thất bại trong việc đưa ra ý kiến đúng đắn về sự trung thực và hợp lý trong việc trình bày các báo cáo tài chính. Do đối tượng kiểm toán là những thông tin được kiểm toán qua nhiều giai đoạn bằng các bộ máy kiểm toán khác nhau nên rủi ro kiểm toán cũng được xác định tương ứng với đối tượng kiểm toán từng loại: Rủi ro tiềm tàng (IR), rủi ro kiểm soát (CR), rủi ro phát hiện (DR). Xác định mức rủi ro kiểm toán mong muốn Rủi ro kiểm toán mong muốn là rủi ro được xác định một cách chủ quan mà kiểm toán viên cho rằng báo cáo tài chính không được trình bày một cách trung thực sau khi cuộc kiểm toán toán hoàn thành và đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần. Trước khi lập kế hoạch kiểm toán và thực hiện kiểm toán, kiểm toán viên cần phải quan tâm đến những đánh giá ban đầu về mức độ rủi ro kiểm toán mong muốn và có thể chấp nhận được cho cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính, điều này có ảnh hưởng tới việc xác định nội dung, lịch trình, phạm vi của các thủ tục cơ bản cho cơ sở dẫn liệu đó. Tuy nhiên mức rủi ro kiểm toán mong muốn xác lập bởi kiểm toán viên có thể thay đổi đối với những cuộc kiểm toán khác nhau và với những khách thể kiểm toán khác nhau. Thông thường mức rủi ro kiểm toán mong muốn bị ảnh hưởng bởi hai yếu tố là mức độ tin cậy đối với báo cáo tài chính của những người sử dụng bên ngoài và khả năng tình hình tài chính của doanh nghiệp sẽ xấu đi sau khi báo cáo kiểm toán được phát hành. Mô hình rủi ro kiểm toán Quan hệ giữa rủi ro kiểm toán và các thành phần của rủi ro kiểm toán có thể được phản ánh qua mô hình rủi ro sau đây: AR = IR x CR x DR Trong đó: AR là rủi ro kiểm toán IR là rủi ro tiềm tàng CR là rủi ro kiểm soát DR là rủi ro phát hiện Với mô hình này, kiểm toán viên có thể sử dụng để điều chỉnh rủi ro phát hiện dựa trên các loại rủi ro khác đã được đánh giá nhằm đạt được rủi ro kiểm toán ở mức thấp như mong muốn. Mô hình này cũng cho kiểm toán viên thấy được mối quan hệ giữa các loại rủi ro kiểm toán khác nhau và mối quan hệ của chúng với bằng chứng kiểm toán cần thu thập cả về chất lượng và số lượng. Rủi ro tiềm tàng Rủi ro tiềm tàng là rủi ro tiềm ẩn, vốn có do khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính chứa đựng sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp, mặc dù có hay không có hệ thống kiểm soát nội bộ. Rủi ro tiềm tàng trong mối quan hệ với các loại rủi ro khác của mô hình rủi ro kiểm toán là một trong những khái niệm quan trọng nhất của kiểm toán. Điều này thể hiện ở việc kiểm toán viên nên cố gắng dự đoán sai sót dường như có nhiều khả năng xảy ra nhất hoặc hiếm khi xảy ra trong các phần hành khác nhau của các báo cáo tài chính. Thông tin về rủi ro tiềm tàng ảnh hưởng đển số lượng bằng chứng kiểm toán viên cần thu thập và cách thức cũng như nỗ lực của kiểm toán viên trong việc thu thập đầy đủ các bằng chứng cần thiết với các phần hành khác nhau. Khi lập kế hoạch kiểm toán và chương trình kiểm toán chi tiết, kiểm toán viên phải đánh giá rủi ro tiềm tàng cho toàn bộ báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán và từ đó xác định cụ thể mức độ rủi ro tiềm tàng cho các số dư hoặc loại nghiệp vụ quan trọng đến từng cơ sở dẫn liệu. Mức độ đánh giá rủi ro tiềm tàng là căn cứ quan trọng để dự kiến các công việc, thủ tục kiểm toán sẽ được thực hiện cho các nghiệp vụ, các khoản mục trọng yếu trên báo cáo tài chính, hoặc các nghiệp vụ, các khoản mục mà kiểm toán viên cho là có rủi ro tiềm tàng cao. Trong thực tế, kiểm toán viên dựa vào các xét đoán chuyên môn của mình khi đánh giá rủi ro tiềm tàng trên các phương diện báo cáo tài chính và số dư tài khoản hay loại nghiệp vụ. Trên phương diện báo cáo tài chính, kiểm toán viên phải xem xét các yếu tố sau khi đánh giá rủi ro tiềm tàng: Sự liêm khiết, kinh nghiệm và hiểu biết cuả Ban Giám đốc cũng như sự thay đổi Ban quản lý xảy ra trong niên độ kế toán; trình độ và kinh nghiệm chuyên môn của Kế toán trưởng, của các nhân viên kế toán chủ yếu, của kiểm toán viên nội bộ và sự thay đổi (nếu có) của họ; những áp lực bất thường đối với Ban Giám đốc, đối với Kế toán trưởng, nhất là những hoàn cảnh thúc đẩy Ban giám đốc, Kế toán trưởng phải trình báo cáo tài chính không trung thực; đặc điểm hoạt động của đơn vị, như quy trình công nghệ, cơ cấu vốn, các đơn vị phụ thuộc, phạm vi địa lý, hoạt động theo mùa vụ; các nhân tố ảnh hưởng đến lĩnh vực hoạt động của đơn vị, như các biến động về kinh tế, về cạnh tranh, sự thay đổi về thị trường mua, thị trường bán và sự thay đổi về hệ thống kế toán đối với lĩnh vực hoạt động của đơn vị. Trên phương diện số dư tài khoản và loại nghiệp vụ, rủi ro tiềm tàng bị ảnh hưởng đáng kể bởi các yếu tố như Báo cáo tài chính có thể chứa đựng những sai sót như: Báo cáo tài chính có những điều chỉnh liên quan đến niên độ trước, báo cáo tài chính có nhiều ước tính kế toán, hoặc trong năm tài chính có nhiều thay đổi liên quan đến chính sách kế toán; việc xác định số dư và số phát sinh của các tài khoản và nghiệp vụ kinh tế như số dư các tài khoản dự phòng, nghiệp vụ kinh tế đối với chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu TSCĐ tính vào chi phí hay tính tăng nguyên giá TSCĐ…; mức độ dễ mất mát, biển thủ tài sản như phát sinh nhiều nghiệp vụ thu, chi tiền mặt, tạm ứng tiền với số lượng lớn, thời gian thanh toán dài…; mức độ phức tạp của các nghiệp vụ hay sự kiện quan trọng đòi hỏi phải có ý kiến của chuyên gia; việc ghi chép các nghiệp vụ bất thường và phức tạp, đặc biệt là gần thời điểm kết thúc niên độ; các nghiệp vụ kinh tế tài chính bất thường khác. Rủi ro kiểm soát Rủi ro kiểm soát là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà nếu hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ không ngăn ngừa hết hoặc không phát hiện và sửa chữa kịp thời. Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 (VSA 400) về đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ đã nêu rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ với mức độ rủi ro kiểm soát. Dựa trên hiểu biết về hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát đối với cơ sở dẫn liệu cho từng số dư tài khoản hoặc các loại nghiệp vụ kinh tế chủ yếu. Trên thực tế, bất kỳ một hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ nào dù được đánh giá là hoạt động hiệu quả cũng không thể đảm bảo hoàn toàn đạt được các mục tiêu quản lý do những hạn chế tiềm tàng của hệ thống đó, như: yêu cầu thông thường là chi phí cho hệ thống kiểm soát nội bộ không được vượt quá những lợi ích mà hệ thống đó mang lại; phần lớn các thủ tục kiểm soát nội bộ thường được thiết lập cho các nghiệp vụ thường xuyên, lặp đi, lặp lại, hơn là các nghiệp vụ không thường xuyên; khả năng hệ thống kiểm soát nội bộ không phát hiện được sự thông đồng của thành viên trong Ban quản lý hoặc nhân viên với những người khác trong hay ngoài đơn vị hoặc khả năng người chịu trách nhiệm thực hiện thủ tục kiểm soát nội bộ lạm dụng đặc quyền của mình…Chính vì lý do này mà rủi ro kiểm soát luôn tồn tại dù ở mức độ cao hay không cao. Rủi ro kiểm soát và rủi ro tiềm tàng có liên hệ chặt chẽ với nhau đồng thời là hai bộ phận quan trọng cấu thành nên mô hình rủi ro kiểm toán và có tác động trực tiếp đến các thủ tục kiểm toán cũng như bằng chứng kiểm toán cần thu thập nên kiểm toán viên cần kết hợp cùng một lúc việc đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát. Việc đánh giá rủi ro kiểm soát ban đầu dựa trên kiến thức và hiểu biết mà kiểm toán viên thu thập được về hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán. Rủi ro kiểm soát thường được đánh giá ở mức độ cao đối với cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính trong trường hợp hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ không đầy đủ hoặc không hiệu quả hoặc kiểm toán viên bị hạn chế trong việc thu thập thông tin cơ sở cho việc đánh giá sự đầy đủ và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng. Ngược lại, rủi ro kiểm soát được đánh giá ở mức độ không cao đối với cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính trong trường hợp kiểm toán viên có đủ cơ sở để kết luận hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết kế có thể ngăn ngừa, phát hiện và sửa chữa các sai sót trọng yếu hoặc kiểm toán viên có kế hoạch thực hiện thủ tục kiểm soát làm cơ sở cho việc đánh giá mức độ rủi ro kiểm soát. Đánh giá cuối cùng về rủi ro kiểm soát dựa trên những thử nghiệm cơ bản và các bằng chứng kiểm toán khác được thực hiện sau khi kiểm toán viên tiến hành các thử nghiệm kiểm soát để thu thập đầy đủ bằng chứng về tính hiệu quả của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ trên các phương diện thiết kế và thực hiện. Rủi ro phát hiện Rủi ro phát hiện là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên và công ty kiểm toán không phát hiện ra được. Alvin A.Arens đưa ra khái niệm về rủi ro phát hiện (trong cuốn Auditing – An integrated Approach) như sau: rủi ro phát hiện là rủi ro kiểm toán viên thất bại trong việc phát hiện ra các sai phạm trọng yếu trên các báo cáo tài chính sau khi áp dụng các thủ tục kiểm toán với giả định hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng cũng không có khả năng phát hiện và sửa chữa các sai phạm đó. Mức độ rủi ro phát hiện có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với mức độ rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát trong mô hình rủi ro kiểm toán. Việc đánh giá mức độ rủi ro phát hiện dựa trên cơ sở các đánh giá về rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát. Tuy nhiên, ngược lại với hai loại rủi ro này, kiểm toán viên phải có trách nhiệm thực hiện các thủ tục kiểm toán và thu thập các bằng chứng kiểm toán nhằm mục đích quản lý và kiểm soát đối với rủi ro phát hiện. Trong kiểm toán báo cáo tài chính, rủi ro phát hiện có ý nghĩa rất quan trọng, có liên quan trực tiếp đến thử nghiệm cơ bản của kiểm toán viên và qua đó quyết định đến bằng chứng mà kiểm toán viên lập kế hoạch thu thập trong suốt quá trình thực hiện kiểm toán. Mức độ rủi ro phát hiện là khác nhau đối với các khoản mục và nghiệp vụ khác nhau, nhưng khó có thể loại bỏ hoàn toàn loại rủi ro này ngay cả khi kiểm toán viên kiểm tra chi tiết toàn bộ các nghiệp vụ và số dư tài khoản. Rủi ro kiểm toán trong các đơn vị có quy mô nhỏ Mức độ đảm bảo đưa ra ý kiến nhận xét của kiểm toán viên về báo cáo tài chính là như nhau đối với mọi quy mô của đơn vị kiểm toán. Hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị lớn thường không phù hợp với đơn vị nhỏ (Ví dụ: Trong đơn vị lớn, người làm kiểm soát thường độc lập với người làm kế toán, trong khi trong đơn vị nhỏ, người làm kế toán có thể kiêm nhiệm công việc kiểm soát đã làm hạn chế vai trò của kiểm soát nội bộ. Trong đơn vị nhỏ, công việc kiểm soát thường tập trung vào một số ít người). Trường hợp công việc kiểm soát nội bộ bởi giới hạn bởi việc không phân chia nhiệm vụ thì ý kiến của kiểm toán viên về báo cáo tài chính phải hoàn toàn dựa trên bằng chứng thu thập được từ thử nghiệm cơ bản. Mối quan hệ giữa các loại rủi ro Sự biến động của rủi ro phát hiện dựa theo đánh giá của kiểm toán viên về rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát được thể hiện trong bảng sau đây:  Đánh giá của kiểm toán viên về rủi ro kiểm soát    Cao  Trung bình  Thấp   Đánh giá của kiểm toán viên vể rủi ro tiềm tàng  Cao  Thấp nhất  Thấp  Trung bình    Trung bình  Thấp  Trung bình  Cao    Thấp  Trung bình  Cao  Cao nhất   Trong đó: Mỗi loại rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát đều được chia thành ba mức: Cao, trung và thấp. Vùng tô đậm thể hiện mức độ rủi ro phát hiện. Loại rủi ro phát hiện được chia thành năm mức: Cao nhất, cao, trung bình, thấp và thấp nhất. Mức độ rủi ro phát hiện tỷ lệ nghịch với mức độ rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát. Ví dụ: Trường hợp mức độ rủi ro tiềm tàng được kiểm toán viên đánh giá là cao và mức độ rủi ro kiểm soát được kiểm toán viên đánh giá là thấp thì mức độ rủi ro phát hiện có thể đánh giá là trung bình nhằm giảm rủi ro kiểm toán xuống thấp đến mức có thể chấp nhận được. Ngược lại, nếu mức độ rủi ro tiềm tàng là thấp và rủi ro kiểm soát được đánh giá là trung bình thì có thể xác định mức độ rủi ro phát hiện là cao nhưng vẫn đảm bảo rủi ro kiểm toán là thấp có thể chấp nhận được. PHẦN 2: BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN Bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính Khái niệm bằng chứng kiểm toán Bằng chứng là một thuật ngữ xuất hiện trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là trong các hoạt động xác minh và bày tỏ ý kiến về một vấn đề cụ thể. Bằng chứng có thể tồn tại dưới nhiều hình thức như văn bản, lời nói hoặc hành động… Trong Luật học, bằng chứng được xem là các loại chứng cớ khác nhau đưa ra trước tòa nhằm mục đích hỗ trợ bên nguyên đơn hoặc người bào chữa trong một vụ kiện, bằng chứng được đưa ra đòi hỏi phải có tính xác đáng, phù hợp và có giá trị pháp lý (Evidence law in the trial process – Margaret T.Stopp). Xét trên góc độ hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính, trước hết có thể thấy thực chất của hoạt động này là quá trình thu thập và đánh giá các bằng chứng về các báo cáo tài chính của một tổ chức kinh tế cụ thể nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp của các báo cáo này với các chuẩn mực đã được thiết lập. Bằng chứng kiểm toán là tất cả các tài liệu, thông tin mà kiểm toán viên thu thập được liên quan đến cuộc kiểm toán và dựa trên các thông tin này kiểm toán viên hình thành nên ý kiến của mình (chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 500). Bằng chứng kiểm toán có một vai trò quan trọng, là cơ sở hình thành nên ý kiến kết luận kiểm toán. Đối với các tổ chức kiểm toán độc lập hoặc cơ quan kiểm toán nhà nước, cơ quan pháp lý, bằng chứng kiểm toán còn là cơ sở để giám sát, đánh giá chất lượng hoạt động của kiểm toán viên trong quá trình thực hiện kiểm toán. Bằng chứng kiểm toán có tính đa dạng và có thể được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, bao
Luận văn liên quan