Báo cáo Thực tập tại công ty Pin Hà Nội

Công ty Pin Hà Nội (trước đây là nhà máy Pin Văn Điển) được khởi công xây dựng từ năm 1958, đến tháng 1/1960 thì hoàn thành, trên diện tích 3ha tại thị trấn Văn Điển - huyện Thanh Trì - thành phố Hà Nội do Trung Quốc thiết kế xây dựng và viện trợ toàn bộ. Thời gian đầu Công ty Pin Hà Nội là nhà máy duy nhất ở miền Bắc lúc đó sản xuất và cung cấp Pin cho quân đội và các mục đích khác của nền kinh tế quốc dân. Theo thiết kế ban đầu, nhà máy có công suất 5 tr chiếc pin/ca/năm với khoảng 2000 lao động và các dây chuyền sản xuất thủ công, công nghệ lạc hậu. Từ lâu những năm 90, Công ty Pin Hà Nội đã bắt đầu quy trình đầu tư đổi mới. Đầu tiên là dây truyền sản xuất Pin R20s với công nghệ hồ điện, những năm sau đó là dây chuyền Pin tiểu R6P với công nghệ giấy tẩm hồ, dây chuyền R20P vỏ sắt tây, dây chuyền pin kiềm LR6, dây chuyền R14 và trong năm 99 đầu tư công nghệ mới gói giấy không quấn chỉ. Với trang thiết bị mới này năng suất lao động được nâng lên rõ rệt, chất lượng mẫu mã sản phẩm nâng lên rõ rệt, chất lượng, mẫu mã sản phẩm được cải tiến, giá thành sản phẩm giảm đã sinh ra một sức sống mới cho Công ty cạnh tranh được với các hàng hoá cùng loại của các Công ty khác và ngày càng chiếm lĩnh thị trường Việt Nam. Đến nay thị phần của Công ty ở thị trường trong nước đã vượt qua 40% đây là một kết quả mà không phải một Công ty nào cũng đạt được. Sản phẩm Pin "Con thỏ" đã quen thuộc với người tiêu dùng đặc biệt năm 1998, 1999 và năm 2000 pin "con thỏ" đã được người tiêu dùng bình chọn là hàng Việt Nam chất lượng cao năm 1999 sản phẩm của Công ty đã lọt vào top 50 hàng Việt Nam được ưa thích nhất. Nhằm mở rộng thị trường và khẳng định vị trí của mình trong ngành sản xuất pin ở Việt Nam, trong những năm tới Công ty vẫn tiếp tục đầu tư phát triển, tiếp tục đưa ra thị trường những sản phẩm mới có chất lượng cao.

doc22 trang | Chia sẻ: tuandn | Ngày: 09/04/2013 | Lượt xem: 1808 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Báo cáo Thực tập tại công ty Pin Hà Nội, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
BÁO CÁO THỰC TẬP TỔNG HỢP Lời mở đầu Trong những năm gần đây, nền kinh tế nước ta đã có những chuyển biến tích cực với nền kinh tế thị trường hiện nay, thương mại có mọt vị trí rất quan trọng. Thương mại là bộ phận hợp thành của tái sản xuất và tiêu dùng. Ở vị trí cấu thành của tái sản xuất, thương mại được coi như hệ thống dẫn liệu tạo ra sự liên tục và quá trình tái sản xuất. Tuy nhiên, vận động theo cơ chế thị trường, các doanh nghiệp luôn phải tuân theo quy luật cạnh tranh, điều này đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải thích ứng với môi trường cạnh tranh. Muốn có khả năng cạnh tranh, các doanh nghiệp tự xây dựng cho mình. những chiến lược và biện pháp cụ thể về nâng cao sức cạnh tranh để thúc đẩy việc tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, đối với một người sinh viên sắp tốt nghiệp ra tường, em thấy rằng ngoài việc học kiến thức lý luận về hoạt động sản xuất kinh doanh trên ghế nhà trường thì việc thực tập tại đơn vị thực tế là rất quan quọng trước khi ra trường. Được sự giúp đỡ của thầy giáo Nguyễn Cảnh Lịch về nội dung cũng như hình thức cùng với những kiến thức, tài liệu em thu thập được tại Công ty Pin Hà Nội (Pihano) dưới đây là: "Báo cáo thực tập của em tại Công ty Pin Hà Nội". 1- Tóm lược về Công ty Pin Hà Nội 1.1. Lịch sử hình thành Công ty Pin Hà Nội (trước đây là nhà máy Pin Văn Điển) được khởi công xây dựng từ năm 1958, đến tháng 1/1960 thì hoàn thành, trên diện tích 3ha tại thị trấn Văn Điển - huyện Thanh Trì - thành phố Hà Nội do Trung Quốc thiết kế xây dựng và viện trợ toàn bộ. Thời gian đầu Công ty Pin Hà Nội là nhà máy duy nhất ở miền Bắc lúc đó sản xuất và cung cấp Pin cho quân đội và các mục đích khác của nền kinh tế quốc dân. Theo thiết kế ban đầu, nhà máy có công suất 5 tr chiếc pin/ca/năm với khoảng 2000 lao động và các dây chuyền sản xuất thủ công, công nghệ lạc hậu. Từ lâu những năm 90, Công ty Pin Hà Nội đã bắt đầu quy trình đầu tư đổi mới. Đầu tiên là dây truyền sản xuất Pin R20s với công nghệ hồ điện, những năm sau đó là dây chuyền Pin tiểu R6P với công nghệ giấy tẩm hồ, dây chuyền R20P vỏ sắt tây, dây chuyền pin kiềm LR6, dây chuyền R14 và trong năm 99 đầu tư công nghệ mới gói giấy không quấn chỉ. Với trang thiết bị mới này năng suất lao động được nâng lên rõ rệt, chất lượng mẫu mã sản phẩm nâng lên rõ rệt, chất lượng, mẫu mã sản phẩm được cải tiến, giá thành sản phẩm giảm đã sinh ra một sức sống mới cho Công ty cạnh tranh được với các hàng hoá cùng loại của các Công ty khác và ngày càng chiếm lĩnh thị trường Việt Nam. Đến nay thị phần của Công ty ở thị trường trong nước đã vượt qua 40% đây là một kết quả mà không phải một Công ty nào cũng đạt được. Sản phẩm Pin "Con thỏ" đã quen thuộc với người tiêu dùng đặc biệt năm 1998, 1999 và năm 2000 pin "con thỏ" đã được người tiêu dùng bình chọn là hàng Việt Nam chất lượng cao năm 1999 sản phẩm của Công ty đã lọt vào top 50 hàng Việt Nam được ưa thích nhất. Nhằm mở rộng thị trường và khẳng định vị trí của mình trong ngành sản xuất pin ở Việt Nam, trong những năm tới Công ty vẫn tiếp tục đầu tư phát triển, tiếp tục đưa ra thị trường những sản phẩm mới có chất lượng cao. Hơn 40 năm hình thành và phát triển, Công ty Pin Hà Nội đã trải qua chặng đường gian nan, vất vả, đầy thử thách và vinh quang từ một nhà máy mới ra đời có sản lượng nhỏ bé, đến nay là một nhà máy sản xuất và cung cấp pin lớn nhất nước có nhiều công nghệ và thiết bị mới được đầu tư. Đó chính là những thành tựu to lớn mà Công ty đã đạt được và vị thế của Công ty Pin Hà Nội ngày càng được nâng cao trên thị trường. 1.2. Cơ cấu tổ chức của Công ty Pin Hà Nội Cấu trúc tổ chức của Công ty Pin Hà Nội là cấu trúc tổ chức theo chức năng. Công ty gồm có 8 phòng chức năng và 4 phân xưởng chịu sự quản lý trực tiếp của ban giám đốc. Giải thích sơ đồ: Bộ máy quản lý của Công ty gồm 1 giám đốc, 2 phó giám đốc (1 phó giám đốc sản xuất, một phó giám đốc tiêu thụ) dưới giám đốc và phó giám đốc là các phòng ban chức năng và các phân xưởng sản xuất trực tiếp Công ty Pin Hà Nội tổ chức quản lý theo kiểu quan hệ trực tuyến. Có nghĩa là các phòng ban chức năng tham mưu cho ban giám đốc theo từng chức năng, nhiệm vụ của mình, giúp ban giám đốc điều hành, ra những quyết định đúng đắn. Cơ chế quản lý của Công ty theo cơ chế thị trường. Theo cơ chế này Công ty có quyền tự chủ về mặt sản xuất kinh doanh sản phẩm của mình dưới sự quản lý của Nhà nước. Nói cách khái quát Công ty được tự do mua bán hàng hoá theo quan hệ cung cầu và do giá cả của thị trường quyết định trong khuôn khổ quản lý và pháp luật của Nhà nước ban hành. 1.3. Chức năng, nhiệm vụ của Công ty Trong thời kỳ khởi sự khi nhiệm vụ chính của Công ty là phục vụ quốc phòng và dân sinh còn Công ty có chức năng sản xuất các loại pin thuộc hệ Mn 02/NH4 Cl/Zn. Sản phẩm của nhà máy sản xuất ra được Nhà nước bao tiêu hết tức là sản xuất theo kế hoạch của Nhà nước đã đề ra từ trước. Nguyên vật liệu được Nhà nước cung cấp cho nhà máy. Kể từ khi chuyển sang cơ chế thị trường, nhà máy phải tự tìm nguyên vật liệu cho sản xuất và phải tìm kiếm thị trường tiêu thụ, nhà máy hạch toán độc lập lấy thu bù chi Trong hoàn cảnh đó ban lãnh đạo nhà máy đã đề ra nhiệm vụ mới cho nhà máy đó là sản xuất ra những sản phẩm phục vụ người tiêu dùng, trước hết đó là phục vụ nhu cầu người tiêu dùng trong nước. Vì thế Công ty nghiên cứu nhu cầu thị trường một cách cẩn thận và đi đến quyết định đầu tư thêm công nghệ sản xuất pin hiện đại do đó đã sản xuất những loại pin có chất lượng cao, được người tiêu dùng ưa thích như Pin R20C, pin R6P, pin R14C. Mục tiêu của Công ty đề ra là phải thoả mãn tối đa nhu cầu của khách hàng, không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến kỹ thuật, nâng cao công tác quản lý nhằm hạ giá thành sản phẩm, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh doanh . Hiện nay Công ty có chức năng sản xuất những mặt hàng pin thuộc các kích cỡ khác nhau như pin tiểu, pin trung, pin đại thuộc các hệ như pin kiềm (LR6), pin tẩm hồ (R6P), pin không quấn chỉ cực dương, pin hồ điện. 2- Môi trường kinh doanh của Công ty Pin Hà Nội Từ khi nền kinh tế nước ta chuyển từ cơ chế kinh tế bao cấp sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, Công ty Pin Hà Nội đã gặp nhiều khó khăn, thử thách nhưng Công ty đã đạt được những thành tựu đáng kể. Mọi hoạt động kinh tế đều được tự chủ, mạng lưới kênh phân phối nhiều rộng khắp trên mọi miền tổ quốc với mục tiêu phục vụ tốt, nhanh chóng cho khách hàng. Thị trường là yếu tố quyết định đến việc tiêu thụ hàng hoá của mỗi doanh nghiệp bởi chỉ khi nào sản phẩm được thị trường chấp nhận thì khi đó hoạt động tiêu thụ mới diễn ra. Thị trường sẽ điếu tiết, kích thích hay hạn chế các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh vì thế mọi doanh nghiệp hoạt động trên thị trường đều phải chịu sự tác độngcủa cơ chế thị trường và trong tình hình nước ta hiện nay thì doanh nghiệp còn phải chịu sự điều tiết của Nhà nước. Thông qua các chính sách kinh tế vĩ mô mà Nhà nước có thể định hướng, khuyến khích hay hạn chế sự phát triển của một lĩnh vực kinh doanh nào đó. Công ty Pin Hà Nội cũng là một đơn vị kinh doanh nên không nằm ngoài môi trường kinh doanh đó. Hiện nay sản phẩm của Công ty mới chỉ tiêu thụ được ở thị trường trong nước và vẫn được Nhà nước bào hộ một phần thông qua hệ thống thuế quan nhưng trong xu thế tự do hoá thương mại, hội nhập thu vực, toàn cầu hoá thì doanh nghiệp cần phải trang bị cho mình những hành trang để sẵn sàng cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trên thế giới. Công ty đang sản xuất và cung ứng cho thị trường các loại pin như sau: + Pin đại R20 không quấn chỉ cực dương + Pin đại K20 hồ điện + Pin R14 + Pin R6P tẩm hồ + Pin kiềm LR6 chất lượng cao. Ngoài ra nhà máy còn sản xuất đồng xu kẽm để bán cho nhà máy Pin Xuân Hoà, sản phẩm tiêu thụ chủ yếu của Công ty là Pin R6P và R20, đây là 2 mặt hàng đem lại sự thành công cho Công ty. Pin kiềm LR6 tiêu thụ được rất ít, đây không phải là do chất lượng kém vì nó được sản xuất ra trên công nghệ tiến tiến nhất ở Việt Nam và có chất lượng cao, tuy nhiên giá cả của nó khá cao so với Pin thông thường (2500 đ/c) Như ta đã biết, con người là yếu tố quan trọng trong sản xuất, trong xã hội và là một trong ba yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm. Công ty Pin Hà Nội hiểu rõ vai trò của người lao động trong Công ty, Công ty đã tạo lập ra các hình thức người lao động vào công tác quản lý như ban cổ phần cho cán bộ và công nhân viên. Công ty Pin Hà Nội ngay từ ngày đầu thành lập, đã tổ chức công đoàn nhằm bảo vệ những lợi ích của cán bộ công nhân viên trong Công ty, giúp đỡ bảo vệ cán bộ công nhân viên trước những khó khăn của cuộc sống, trước những vấn đề về hợp đồng lao động. Toàn bộ công nhân viên chức của Công ty đều tham gia vào công đoàn (688) thành viên. Lãnh đạo Công ty không chỉ quan tâm đến đời sống vật chất mà còn quan tâm đến đời sống vật chất tinh thần của anh chị em cán bộ và công nhân viên trong Công ty. Chính vì thế mà cán bộ công nhân viên đều rất gắn bó và phấn đấu cho sự phát triển chung của Công ty. Đặc điểm về vốn: Vốn là yếu tố cơ bản của quy trình sản xuất, nó giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc mở rộng quy mô sản xuất cải tiến công nghệ và duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh. Hiểu được tầm quan trọng đó, trong nhiều năm qua Công ty luôn tìm nguồn vốn vay từ bên ngoài để bổ sung cho nguồn vốn còn hạn hẹp của Công ty. Cụ thể là trong mười năm qua Công ty đã đầu tư xây dựng cơ bản bình quân mỗi năm hơn 2 tỷ đồng trong đó tổng số vốn vay của cán bộ công nhân viên là 12 tỷ đồng, ngoài ra Công ty còn vay vốn từ ngân hàng để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Biểu 1: Cơ cấu lao động Đơn vị tính: Ngày Các chỉ tiêu  Năm 1999  Năm 2000  Năm 2001  So sánh       CL  TL (%)   Lao động trực tiếp  640  563  589  26  +4,61   Lao động gián tiếp  80  96  99  3  +3,13   Lao động hợp đồng  38  41  43  2  +4,88   Lao động nữ  300  316  268  -48  -15,19   Lao động có trình độ CĐ trở lên  42  86  85  -1  -1,16   Tổng lao động  720  659  688  29  4,4   Biểu 2: Cơ cấu vốn Đơn vị: triệu đồng Chỉ tiêu về vốn  Năm 2000  Năm 2001   Vốn cố định  19.890  20.416   Vốn lao động  7.926  8.207   Tổng số vốn  27.816  28.623   Trong đó:     Vố tự có: 24.624  25.038    Vốn vay  3.192  3.585   3- Phân tích kết quả kinh doanh STT  Chỉ tiêu  ĐVT  TH năm 1999  TH năm 2000  TH năm 2001  So sánh %    1  2  3  4  5  6  7   1  GT tổng sản lượng  Trđ  78.707  86.050  88.148  2098  102,4   2  Sản lượng hiện vật  Nc  91.509  101.374  106.478  5.104  105,1   3  Doanh thu  Trđ  71.859  77.942  78.773  831  101,1   4  Lợi nhuận  Trđ  558  574  680  106  118,5   5  Chi phí  Trđ  71.301  77.368  78.093  725  100,9   6  Lao động  Người  720  659  688  29  91,5   8  Thu nhập bình quân  1000đ/tháng  1281  1.307  1.356  49  103,7   9  Nộp NSNN  Trđ  3957  4.198  4.490  292  106,9   Qua bảng kết quả kinh doanh ta thấy, hầu hết các chỉ tiêu kinh tế của doanh nghiệp đều tăng đáng kể. Mặc dù gặp nhiều khó khăn do các điều kiện khó khăn nhưng Công ty vẫn tăng được sản lượng tiêu thụ qua đó tăng được doanh thu cũng như lợi nhuận trọng doanh nghiệp. Đặc biệt đời sống cán bộ công nhân viên trong Công ty ngày càng được cải thiện, cụ thể năm 2001 thu nhập bình quân đầu người lên tới 1356.000 đồng/ người / tháng. Ngoài việc làm ăn kinh doanh có hiệu quả Công ty cũng đóng gópp đầy đủ cho ngân sách Nhà nước và thực hiện các nghĩa vụ đối với người lao động. Nếu như năm 2000 Công ty nộp cho ngân sách Nhà nước là 4.198.000.000 đồng thì năm 2001 là 4.490.000.000 đồng, tăng 292.000.000 đồng. Tóm lại, với nguồn lực hiện có cùng với sự nỗ lực của các thành viên trong Công ty thì Công ty sẽ ngày càng lớn mạnh và có vị thế vững chắc trên thương trường. 4- Đánh giá hoạt động kinh doanh của Công ty Pin Hà Nội 4.1. Đánh giá kết quả kinh doanh của Công ty Pin Hà Nội Trog những năm qua Công ty Pin Hà Nội đã đạt được những thành tích đáng kể về niều mặt trong hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như việc thực hiện nghĩa vụ đối với xã hội. Vừa thúc đẩy sự phát triển của Công ty, nâng cao tính cạnh tranh trên thương trường vừa góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho cán bộ công nhân viên trong Công ty. Doanh thu tiêu thụ năm sau so với năm trước tăng đáng kể, nếu như năm 1990 doanh thu bán hàng chỉ đạt 20 tỷ đồng thì năm 2001 đã lên tới hơn 77 tỷ đồng, về thu nhập của người lao động cũng ngày càng tăng. Sau đây là một số kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty trong một số năm. Về lợi nhuận Công ty luôn đạt mức lợi nhuận cao mà không phải Công ty nào cũng có thể đạt được. Duy nhất chỉ có năm 1999 lợi nhuận của Công ty bị giảm sút đáng kể nhưng cũng có thể lý giải được do một số nguyên nhân khách quan. Về thu nhập cho người lao động trong Công ty, mức lương bình quân luôn tăng, cụ thể năm 1999 tổng quỹ lương đã tăng thêm 906,2 triêu đồng do đó làm cho tổng chi phí gây ảnh hưởng đến lợi nhuận làm cho lợi nhuận bị giảm. Đối với Nhà nước, hàng năm Công ty đã nộp vào ngân sách Nhà nước bình quân 4700 triệu đồng và thực hiện đầy đủ các quy định, chính sách của Nhà nước, giải quyết một số việc làm cho xã hội, Vì thế mà tháng 2/2000 Công ty đã vinh dự được nhận huân chương lao động hạng nhất do Nhà nước trao tặng. Bằng việc hoạt động kinh doanh có hiệu quả, Công ty đã đầu tư mới hàng năm bình quân trên 2 tỷ đồng, tạo điều kiện cải tiến chất lượng sản phẩm, nâng cao năng xuất lao động tăng khả năng cạnh tranh cho sản phẩm và đã tạo cho Công ty một thế đứng vững chắc như hiện nay. Bên cạnh những kết quả đó Công ty vẫn còn một số hạn chế đặc biệt là trong công tác nghiên cứu nhu cầu thị trường, cụ thể là việc đầu tư thêm thiết bị công nghệ sản xuất Pin LR6 rất tốn kém nhưng sản phẩm làm ra lại hầu như không tiêu thụ được. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do Công ty đã không nghiên cứu kỹ nhu cầu tiêu thụ được sản phẩm sản xuất ra. Do đó khả năng thu hồi vốn đầu tư công nghệ này là rất khó vì thế Công ty có thể coi đây là một bài học kinh nghiệm rút ra để tránh mắc phải trong tương lai. Tóm lại, những thành công mà Công ty đã đạt được trong những năm qua một phần là do có sự kết hợp những hoạt động công tác giữa các phòng ban giữa các thành viên trong Công ty. Các phòng ban có chức năng, nhiệm vụ riêng biệt nhưng có sự tham mưu lẫn nhau nên mọi công việc đều tiến triển tốt đẹp, không có tình trạng chồng chéo lẫn nhau. 4.2. Đánh giá công tác quản trị hoạt động kinh doanh 4.2.1. Đánh giá kết quả kinh doanh theo chức năng quản trị hoạt động kinh doanh. Từ kết quả hoạt động kinh doanh cảu Công ty trong 3 năm qua ta thấy xu hướng biến động về doanh thu cũng như lợi nhuận là ổn định vè phát triển theo hướng tăng dần. Điều này thể hiện sự hoạt động có hiệu quả của cả bộ máy Công ty. Sự năng động, sáng tạo thích ứng kịp thời trong nền kinh tế thị trường đầy biến động như hiện nay. Cụ thể là: Như chúng ta đã biết quản trị trong doanh nghiệp là sức mạnh gắn bó mọi hoạt động ăn khớp, nhịp nhành . Một doanh nghiệp, một đội bóng, một lớp học... tất cả đều cần tới sự quản trị. Do đó để quản trị có hiệu quả nhà quản trị phải xác định đúng chức năng của quản trị bao gồm: Hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát. Để thực hiện có hiệu quả cao chức năng này đòi hỏi nhà quản trị phải có khả năng lãnh đạo và tài gây hứng thú cho người khác sẵn sàng làm việc với mình. Nhiệm vụ của nhà quan rtrị là phối hợp mục tiêu của các đồng sự dưới quyền và các bộ phận trong tổ chức của doanh nghiệp với mục tiêu của chính doanh nghiệp. Đói với Công ty Pin Hà Nội (PiHANO) mặc dù gặp rất nhiều khó khăn nhưng dưới sự chỉ đạo của ban giám đốc, các phòng ban trong Công ty đã định ra hướng đi đúng đắn, phát huy tốt khả năng của mình. Ngay từ những ngày tháng cuối của năm 2001, Ban giám đốc cảu Công ty đã chỉ đạo các đơn vị chủ động xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch năm 2002 Nhận định những khó khăn trước mắt cần khắc phục bên cạnh đó lãnh đạo Công ty cũng có những biện pháp tháo gỡ cụ thêm về vốn, mạng lưới, tổ chức cán bộ, nên khi triển khaithực hiện các chỉ tiêu thông qua tổ chức đại hội cán bộ công nhân viên chức được cán bộ công nhân viên tích cực tham gia đóng góp ý kiến để tìm ra cách làm tốt đạt hiệu quả cao, quyết tâm hoàn thành kế hoạch từ tháng đầu, quý đầu. 4.2.2. Đánh giá công tác quản trị theo tác nghiệp (mua bán, tài chính, chiến lược, nhân sự, Marketing). * Về công tác quản trị mua hàng: Như chúng ta đã biết, mua hàng là tiền tệ vật chất cho doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh của mình. Có tiêu thụ được sản phẩm thì Công ty mới thu tồn tại và phát triển được nhưng thực tế mua là tiền đề vật chất cho doanh nghiệp thực hiện việc sản xuất và bán sản phẩm, bán tốt phải bắt đầu từ việc sản xuất và bán sản phẩm, bán tốt phải bắt đầu từ việc mua tốt vật tư, trang thiết bị. Trong kinh doanh hiện nay hành vi hay bị sai lầm là mua hàng, khi đó nóa sẽ ảnh hưởng lớn đến chất lượng của sản phẩm sản xuất ra. Công ty pin Hà Nội có thuận lợi là có bộ phận phòng cung ứng vật tư riêng biệt độc lập chịu trách nhiệm chuẩn bị vật tư cho việc sản xuất kinh doanh. Hầu hết vật tư cho sản xuất là mua ở trong nước, duy chỉ có vật tư để sản xuất pin kiềm LR6 phải nhập từ Trung Quốc nên đôi khi bị ảnh hưởng tới việc sản xuất kinh doanh . * Về công tác bán hàng: Trong những năm vừa qua với một số mặt hàng tiêu thụ chủ yếu và sự đa dạng trong việc sản xuất kinh doanh, Công ty pin Hà Nội đã có chỗ đứng vững chắc trên thị trường bởi sự tín nhiệm về hcất lượng, giá cả cũng như hình thức bán hàng: bán hàng qua kho, bán buôn , vận chuyển thẳng, bán hàng đại lý và dịch vụ đi kèm. Chính điều này đã tạo được uy tín lớn đối với khách hàng và đã đem lại cho Công ty khối lượng sản phẩm tiêu thụ lớn, doanh thu cao. Nó giúp cho Công ty tồn tại và phát triển trong một môi trường cạnh tranh khốc liệt của Pin nội và pin ngoại * Về tình hình tài chính: Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp nước ta đặc biệtlà các doanh nghiệp Nhà nước đều thiếu vốn cho việc đầu tư kinh doanh. Công ty Pin Hà Nội cũng nằm trong tình trạng đó nên thường xuyên phải vay vốn và huy động vốn từ các nguồn vốn góp khác để đáp ứng đượcnhu cầu của sản xuất kinh doanh trong Công ty. Nhờ sự nhạy bén, năng động trong kinh doanh cho nên doanh thu của Công ty năm sau cao hơn năm trước, thu nhập của người lao động và nộp cho ngân sách Nhà nước đều tăng. Điều này chứng tỏ doanh nghiệp đã sử dụng vốn có hiệu quả. * Về thực hiện chiến lược kinh doanh của Công ty Trong cơ chế thị trường với nhiều thành phần tham gia kinh doanh thì việc cạnh tranh càng gay gắt đòi hỏi Công ty phải xác định được chiến lược hợp lý để từ đó có phương hướng kinh doanh đúng đắn, sử dụng có hiệu qủa nguồn tài chính, nguồn nhân lực của Công ty. * Về thực hiện chiến lược kinh doanh của Công ty Trong cơ chế thị trường với nhiều thành phần tham gia kinh doanh thì việc cạnh tranh càng gay gắt đòi hỏi Công ty phải xác định được chiến lược hợp lý để từ đó có phương hướng kinh doanh đúng đắn, sử dụng có hiệu quả nguồn tài chính nguồn nhân lực của Công ty. * Về nhân sự: Hiện nay với số cán bộ công nhân viên là 688 người, Công ty đã thực hiện cơ chế khoán sản phẩm đối với bên lao động trực tiếp, các phòng ban có quyền tự quyết định trong công việc tự tổ chức sắp xếp đội ngũ cán bộ công nhân viên cho công việc hợp lý và chịu trách nhiệm trước Công ty về mọi vấn đề có liên quan. Về cơ bản, cán bộ công nân viên của Công ty đều có trình độ, chuyên môn cao, đáp ứng được đòi hỏi của doanh nghiệp hiện nay. Bên cạnh đó cùng tồn tại một số đội ngũ cán bộ lâu năm, có kinh nghiệm tuy nhiên trình độ hạn chế, làm việc không năng động và đặc biệt là không phát huy được sáng kiến. * Về công tác Ma
Luận văn liên quan