Chuyên đề Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam chi nhánh Quảng Nam

Trong giai đoạn hiện nay, sự biến động của nền kinh tế thế giới có thể nói là cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Mỹ và sự tác động của nó đến toàn cầu đang diễn ra rất phức tạp, khó lường. Cộng đồng quốc tế đang tìm các giải pháp, bằng mọi cách để khắc phục hạn chế và sự ảnh hưởng của nó. Mặc dù nền kinh tế Việt Nam chưa hội nhập sâu vào nền kinh tế của thế giới nhưng bước đầu đã có sự ảnh hưởng và tác động nhất định. Đặc biệt đối với hệ thống các ngân hàng thương mại cũng như các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, khi càng ngày càng đối mặt với nhiều rủi ro. Và hiện nay, có thể nói rủi ro trong thanh toán xuất nhập khẩu ngày càng trở thành mối quan tâm của các doanh nghiệp và ngân hàng khi cuộc khủng hoảng tài chính đang lan rộng ra toàn cầu và vẫn chưa có dấu hiệu phục hồi. Nhất là đối với hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ ( L/C). Với tình hình khủng hoảng tài chính hiện tại có một mối đe dọa rất lớn lên thương mại quốc tế thông qua L/C. L/C trong vài chục năm trở lại đây đã vượt qua vai trò công cụ thanh toán trở thành công cụ đảm bảo cho thương mại quốc tế. Và với nền kinh tế mở như Việt Nam, phụ thuộc nhiều vào hoạt động xuất nhập khẩu, ý nghĩa của L/C lớn hơn nhiều so với những gì các nhà kinh tế vẫn nghĩ. Tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán được sử dụng phổ biến nhất, khoảng 11-15% giao dịch thương mại quốc tế sử dụng phương thức tín dụng chứng từ, với tổng trị giá hàng năm là một nghìn tỷ đô la Mỹ. Thanh toán theo L/C (thư tín dụng) luôn là phương thức thanh toán quan trọng nhất giữa các doanh nghiệp. Đối với một ngân hàng việc thanh toán quốc tế qua L/C ngày càng trở thành một lĩnh vực hoạt động chủ yếu nhưng đồng thời cũng mang lại nhiều rủi ro và tổn thất cho ngân hàng đặc biệt trong tình hình kinh tế hiện nay. Qua một thời gian thực tập tại phòng thanh toán quốc tế tại ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam - Chi nhánh Quảng Nam, em thấy ngân hàng đã phát huy được những thế mạnh của mình qua hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu bằng L/C mặc dù chi nhánh mới đi vào hoạt động từ năm 2006. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động của mình, TTQT bằng tín dụng chứng từ không chỉ đơn thuần mang lại những lợi ích kinh tế cho ngân hàng mà còn phát sinh những nguy cơ có thể gây ra rủi ro, tổn thất trực tiếp cho ngân hàng, cho doanh nghiệp hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu (đặc biệt trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế hiện nay). Chính vì vậy, sau khi tìm hiểu em đã chọn viết đề tài: “Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại NHTMCP Ngoại Thương Việt Nam - Chi nhánh Quảng Nam”. Mục đích nghiên cứu: Đưa các lý luận đã học vào thực tiễn hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong nền kinh tế thị trường. Tìm hiểu thực trạng thanh toán xuất nhập khẩu bằng thư tín dụng, rủi ro cũng như tình hình quản lý rủi ro thư tín dụng tại NHTMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam. Đề ra các biện pháp và một số kiến nghị cần thiết nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh và hạn chế rủi ro thanh toán qua L/C cho ngân hàng và doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu: • Đối tượng: _Tình hình hoạt động thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng tại NHTMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam _Thực trạng rủi ro và tình hình quản lý rủi ro trong thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng tại NHTMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam. _Quy trình L/C xuất nhập khẩu • Phạm vi: NHTMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu • Phương pháp nghiên cứu: Thông qua việc thu nhập các tài liệu, biểu mẫu, hướng dẫn công việc hiện có tại phòng thanh toán quốc tế, NHTMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam kết hợp với trao đổi, thu nhập ý kiến từ lãnh đạo và nhân viên tại phòng cũng như tham khảo các trang web trên internet, tạp chí kinh tế em đã xây dựng đề tài về phòng ngừa, hạn chế rủi ro trong thanh toán xuất nhập khẩu qua phương thức tín dụng chứng từ. Kết cấu của đề tài gồm 3 chương: Chương 1: Phương thức tín dụng chứng từ và Rủi ro trong thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng rủi ro trong thanh toán quốc tế bằng tín dụng chứng từ tại NHTMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam. Chương 3: Một số biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ tại NHTMCP Ngoại Thương Việt Nam - Chi nhánh Quảng Nam.

doc60 trang | Chia sẻ: tuandn | Ngày: 15/03/2013 | Lượt xem: 3227 | Lượt tải: 10download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Chuyên đề Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam chi nhánh Quảng Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỞ ĐẦU Trong giai đoạn hiện nay, sự biến động của nền kinh tế thế giới có thể nói là cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Mỹ và sự tác động của nó đến toàn cầu đang diễn ra rất phức tạp, khó lường. Cộng đồng quốc tế đang tìm các giải pháp, bằng mọi cách để khắc phục hạn chế và sự ảnh hưởng của nó. Mặc dù nền kinh tế Việt Nam chưa hội nhập sâu vào nền kinh tế của thế giới nhưng bước đầu đã có sự ảnh hưởng và tác động nhất định. Đặc biệt đối với hệ thống các ngân hàng thương mại cũng như các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, khi càng ngày càng đối mặt với nhiều rủi ro. Và hiện nay, có thể nói rủi ro trong thanh toán xuất nhập khẩu ngày càng trở thành mối quan tâm của các doanh nghiệp và ngân hàng khi cuộc khủng hoảng tài chính đang lan rộng ra toàn cầu và vẫn chưa có dấu hiệu phục hồi. Nhất là đối với hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ ( L/C). Với tình hình khủng hoảng tài chính hiện tại có một mối đe dọa rất lớn lên thương mại quốc tế thông qua L/C. L/C trong vài chục năm trở lại đây đã vượt qua vai trò công cụ thanh toán trở thành công cụ đảm bảo cho thương mại quốc tế. Và với nền kinh tế mở như Việt Nam, phụ thuộc nhiều vào hoạt động xuất nhập khẩu, ý nghĩa của L/C lớn hơn nhiều so với những gì các nhà kinh tế vẫn nghĩ. Tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán được sử dụng phổ biến nhất, khoảng 11-15% giao dịch thương mại quốc tế sử dụng phương thức tín dụng chứng từ, với tổng trị giá hàng năm là một nghìn tỷ đô la Mỹ. Thanh toán theo L/C (thư tín dụng) luôn là phương thức thanh toán quan trọng nhất giữa các doanh nghiệp. Đối với một ngân hàng việc thanh toán quốc tế qua L/C ngày càng trở thành một lĩnh vực hoạt động chủ yếu nhưng đồng thời cũng mang lại nhiều rủi ro và tổn thất cho ngân hàng đặc biệt trong tình hình kinh tế hiện nay. Qua một thời gian thực tập tại phòng thanh toán quốc tế tại ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam - Chi nhánh Quảng Nam, em thấy ngân hàng đã phát huy được những thế mạnh của mình qua hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu bằng L/C mặc dù chi nhánh mới đi vào hoạt động từ năm 2006. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động của mình, TTQT bằng tín dụng chứng từ không chỉ đơn thuần mang lại những lợi ích kinh tế cho ngân hàng mà còn phát sinh những nguy cơ có thể gây ra rủi ro, tổn thất trực tiếp cho ngân hàng, cho doanh nghiệp hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu (đặc biệt trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế hiện nay). Chính vì vậy, sau khi tìm hiểu em đã chọn viết đề tài: “Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại NHTMCP Ngoại Thương Việt Nam - Chi nhánh Quảng Nam”. Mục đích nghiên cứu: Đưa các lý luận đã học vào thực tiễn hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong nền kinh tế thị trường. Tìm hiểu thực trạng thanh toán xuất nhập khẩu bằng thư tín dụng, rủi ro cũng như tình hình quản lý rủi ro thư tín dụng tại NHTMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam. Đề ra các biện pháp và một số kiến nghị cần thiết nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh và hạn chế rủi ro thanh toán qua L/C cho ngân hàng và doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu: Đối tượng: _Tình hình hoạt động thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng tại NHTMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam _Thực trạng rủi ro và tình hình quản lý rủi ro trong thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng tại NHTMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam. _Quy trình L/C xuất nhập khẩu Phạm vi: NHTMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Phương pháp nghiên cứu: Thông qua việc thu nhập các tài liệu, biểu mẫu, hướng dẫn công việc hiện có tại phòng thanh toán quốc tế, NHTMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam kết hợp với trao đổi, thu nhập ý kiến từ lãnh đạo và nhân viên tại phòng cũng như tham khảo các trang web trên internet, tạp chí kinh tế em đã xây dựng đề tài về phòng ngừa, hạn chế rủi ro trong thanh toán xuất nhập khẩu qua phương thức tín dụng chứng từ. Kết cấu của đề tài gồm 3 chương: Chương 1: Phương thức tín dụng chứng từ và Rủi ro trong thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng rủi ro trong thanh toán quốc tế bằng tín dụng chứng từ tại NHTMCP Ngoại Thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam. Chương 3: Một số biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ tại NHTMCP Ngoại Thương Việt Nam - Chi nhánh Quảng Nam. Do phạm vi đề tài hạn hẹp, thời gian thực tập không nhiều nên rất khó tránh khỏi sơ sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ phía ngân hàng nói chung và phòng thanh toán quốc tế nói riêng để đề tài được hoàn chỉnh hơn. CHƯƠNG 1: PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ VÀ RỦI RO TRONG THANH TOÁN BẰNG PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1.Khái quát về Phương Thức Tín Dụng Chứng Từ 1.1.1.Khái niệm: Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận, trong đó một ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (nhà nhập khẩu) sẽ trả một số tiền nhất định cho người khác (nhà xuất khẩu) hoặc chấp nhận hối phiếu do người này kí phát trong phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những qui định đề ra trong thư tín dụng. 1.1.2.Các bên tham gia Người xin mở L/C : là người mua, nhà nhập khẩu hàng hoá hoặc người mua uỷ thác cho một người khác. Người hưởng lợi : là người bán, nhà xuất khẩu hay một người bất kì do người hưởng lợi chỉ định. Người xuất trình : là người thụ hưởng, ngân hàng hoặc bất cứ bên nào khác thực hiện việc xuất trình. Ngân hàng mở hay phát hành thư tín dụng : là ngân hàng đại diện cho nhà nhập khẩu, cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu. Đây là ngân hàng đứng ra cam kết trả tiền cho người hưởng lợi. Ngân hàng thông báo thư tín dụng : là ngân hàng có nhiệm vụ thông báo thư tín dụng cho nhà xuất khẩu. Đây có thể là ngân hàng chi nhánh hoặc đại lý của ngân hàng phát hành. Ngân hàng này thường ở nước nhà xuất khẩu. Ngoài ra trong thực tế vận dụng phương thức tín dụng chứng từ, tuỳ theo từng điều kiện cụ thể còn có sự tham gia của một số ngân hàng khác như: Ngân hàng xác nhận (The confirming bank), Ngân hàng thanh toán (The paying bank), Ngân hàng chỉ định (The nominated bank), Ngân hàng thương lượng (The negotiating bank)….. 1.1.3.Quy trình nghiệp vụ tín dụng chứng từ : (2) (5) (6) (8) (7) (1) (6) (5) (3) (4) Sơ đồ 1: Quy trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng chứng từ (1) Nhà nhập khẩu làm đơn xin mở thư tín dụng gửi đến ngân hàng của mình yêu cầu mở một thư tín dụng cho nhà xuất khẩu hưởng. (2) Căn cứ vào đơn xin mở thư tín dụng, ngân hàng phát hành sẽ mở L/C theo yêu cầu của nhà nhập khẩu và chuyển L/C sang ngân hàng thông báo để báo cho nhà xuất khẩu biết. (3) Ngân hàng thông báo L/C thông báo cho nhà xuất khẩu biết rằng L/C đã mở. (4) Nhà xuất khẩu nếu chấp nhận L/C thì tiến hành giao hàng, nếu không đề nghị ngân hàng phát hành L/C sửa đổi, bổ sung thư tín dụng cho phù hợp với hợp đồng. (5) Sau khi giao hàng, nhà xuất khẩu lập bộ chứng từ theo yêu cầu của thư tín dụng xuất trình thông qua ngân hàng thông báo cho ngân hàng phát hành xin thanh toán (6) Ngân hàng phát hành L/C kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp với thư tín dụng thì tiến hành trả tiền cho nhà xuất khẩu. Nếu thấy không phù hợp, ngân hàng từ chối thanh toán và gửi trả lại toàn bộ cho nhà xuất khẩu (7) Ngân hàng phát hành L/C đòi tiền nhà nhập khẩu và chuyển bộ chứng từ cho nhà nhập khẩu khi nhận được tiền hoặc chấp nhận thanh toán (8) Nhà nhập khẩu kiểm tra chứng từ, nếu thấy phù hợp với thư tín dụng thì hoàn trả tiền lại cho ngân hàng phát hành L/C, nếu không thì có quyền từ chối trả tiền. 1.1.4.Khái niệm, nội dung, phân loại thư tín dụng 1.1.4.1.Khái niệm thư tín dụng Thư tín dụng là một chứng thư rất quan trọng của phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, trong đó ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền cho nhà xuất khẩu nếu họ xuất trình một bộ chứng từ phù hợp. Thư tín dụng có tính chất quan trọng vì tuy được hình thành trên cơ sở hợp đồng ngoại thương nhưng sau khi được thiết lập, nó lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng này. Một khi L/C đã được mở và được các bên chấp nhận thì cho dù nội dung của L/C có đúng với hợp đồng ngoại thương hay không cũng không làm thay đối quyền lợi và nghĩa vụ các bên có liên quan. Có nghĩa là khi thanh toán ngân hàng chỉ căn cứ vào bộ chứng từ, khi nhà XK xuất trình bộ chứng từ phù hợp về mặt hình thức với những điều khoản quy định trong L/C thì ngân hàng phát hành L/C phải trả tiền vô điều kiện cho nhà XK. Như vậy, việc thanh toán L/C không hề căn cứ vào tình hình thực tế của hàng hoá, NH cũng không có nghĩa vụ xem xét việc giao hàng thực tế có khớp đúng với chứng từ hay không mà chỉ căn cứ vào chứng từ do người bán xuất trình, nếu thấy chứng từ đó bề mặt phù hợp với các điều kiện của L/C thì trả tiền cho người bán. Chính những tính chất quan trọng của L/C khiến cho phương thức thanh toán tín dụng chứng từ mau chóng trở thành phương thức thanh toán hữu hiệu đặc biệt trong ngoại thương. 1.1.4.2.Nội dung của một L/C: Số hiệu của tín dụng thư: Tất cả L/C đều có số hiệu riêng của nó.Tác dụng của số hiệu là dùng để trao đổi thư từ, điện tín có liên quan đến việc thực hiện L/C, để ghi vào chứng từ có liên quan trong bộ chứng từ thanh toán của L/C, để tham chiếu khi thực hiện một nghiệp vụ nào đó. Địa điểm mở L/C: là nơi mà ngân hàng mở tạo lập và chuyển giao L/C. Địa điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc chọn luật áp dụng khi xảy ra tranh chấp nếu có xung đột pháp luật về L/C đó. Ngày mở L/C: là nội dung quan trọng để xác định: + Ngày bắt đầu phát sinh sự cam kết của ngân hàng mở với nhà xuất khẩu. + Ngày bắt đầu tính thời gian hiệu lực của L/C + Ngày ngân hàng mở chính thức chấp nhận đơn xin mở L/C của nhà nhập khẩu và đó là căn cứ để nhà xuất khẩu kiểm tra nhà nhập khẩu thực hiện việc mở L/C có đúng hạn đã quy định trong hợp đồng hay không. Loại L/C: là nội dung quan trọng của L/C, vì mỗi loại L/C có tính chất và nội dung khác nhau, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên liên quan đến L/C cũng khác nhau. Tên và địa chỉ của các bên liên quan đến L/C: Tên và địa chỉ của người yêu cầu mở L/C Tên và địa chỉ ngân hàng mở L/C Ngân hàng thông báo: thường là ngân hàng đại lý của ngân hàng mở ở nước nhà xuất khẩu. Ngân hàng trả tiền: có thể ngân hàng mở và cũng có thể là ngân hàng khác do ngân hàng mở uỷ nhiệm. Nếu địa điểm trả tiền quy định tại nước nhà xuất khẩu thì ngân hàng trả tiền thường là ngân hàng thông báo. Ngân hàng xác nhận: là ngân hàng đứng ra xác nhận cho ngân hàng mở theo yêu cầu của nó. Ngân hàng xác nhận thường là một ngân hàng lớn, có uy tín trên thị trường và tài chính quốc tế. Tên và địa chỉ người hưởng lợi L/C: phải được ghi rõ, đầy đủ, đúng và địa chỉ điện tín. Nếu không ghi rõ, ngân hàng thông báo sẽ chậm trễ trong việc gởi L/C cho người thụ hưởng. Phương thức mở L/C: NH mở dùng điện hay thư để chuyển L/C. Thời hạn hiệu lực của L/C: là thời hạn mà ngân hàng mở cam kết trả tiền cho nhà xuất khẩu, nếu nhà xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ thanh toán trong thời hạn đó và phù hợp với những điều kiện quy định trong L/C. Thời hạn hiệu lực của L/C bắt đầu được tính từ ngày mở L/C đến ngày hết hiệu lực của L/C. Thời hạn hiệu lực của L/C được xác định như sau: + Ngày giao hàng phải nằm trong thời hạn hiệu lực của L/C và không được trùng với ngày hết hạn hiệu lực của L/C. + Ngày mở L/C phải trước ngày giao hàng một thời gian hợp lý, không được trùng với ngày giao hàng. + Ngày hết hạn hiệu lực của L/C phải sau ngày giao hàng một thời gian hợp lý. Số tiền L/C: là nội dung quan trọng. Vì vậy việc quy định nó trong L/C cũng rất chặt chẽ. Số tiền trong L/C phải ghi cả bằng số và bằng chữ phải thống nhất với nhau. Tên đơn vị tiền tệ phải cụ thể, rõ ràng không nên ghi số tiền dưới dạng một số tuyệt đối, vì như vậy sẽ khó khăn trong việc giao hàng và nhận tiền của bên bán. Cách tốt nhất là dựa vào số lượng mà ghi số tiền cho chính xác, nếu không ghi thì ghi dung sai cho phép. Thời hạn trả tiền của L/C: liên quan đến việc trả tiền ngay hay trả tiền sau. Nếu việc đòi tiền bằng hối phiếu thì thời hạn trả tiền được quy định ở yêu cầu phát hành hối phiếu trong L/C. Thời hạn trả tiền có thể nằm trong thời hạn hiệu lực của L/C nếu như trả tiền ngay, hoặc có thể nằm ngoài thời hạn hiệu lực của L/C nếu như trả tiền có kỳ hạn. Song điều quan trọng là những hối phiếu có kỳ hạn phải được xuất trình để chấp nhận trong thời hạn hiệu lực của L/C. Chỉ rõ tiền lãi hay phí chiết khấu do bên nào chịu: Nhà nhập khẩu hay nhà xuất khẩu chịu nếu thanh toán bằng chấp nhận hối phiếu của người thụ hưởng. Thời hạn xuất trình chứng từ: Ngoài việc ngày hết hiệu lực cho việc xuất trình chứng từ, L/C còn quy định bộ chứng từ phải được xuất trình trong một thời hạn nhất định, thường căn cứ vào ngày giao hàng. Theo UCP 600, thời hạn xuất trình bộ chứng từ phải trong vòng 21 ngày kể từ ngày giao hàng nếu bộ chứng từ có vận đơn gốc. Thời hạn giao hàng: là thời hạn quy định bên bán phải chuyển giao hàng hoá cho bên mua kể từ khi L/C có hiệu lực. Thời hạn giao hàng liên quan chặt chẽ đến thời hạn hiệu lực của tín dụng thư. Chú ý: Nếu hai bên thoả thuận kéo dài thời hạn giao hàng thì thời hạn hiệu lực của L/C tự động được kéo dài tương ứng. Điều khoản về hàng hoá: tên hàng, số lượng, quy cách phẩm chất hàng hoá, giá cả đơn vị, bao bì, ký mã hiệu, trọng lượng, xuất xứ. Những nội dung về vận tải, giao nhận hàng hoá: điều kiện cơ sở giao hàng, địa điểm gởi hàng, bốc hàng, dỡ hàng, địa điểm chuyển tải, cách vận chuyển và cách giao hàng…cũng được ghi vào L/C. Cách giao hàng, cách thanh toán và cách vận tải: có nhiều cách khác nhau. L/C có thể quy định cụ thể sau đây: + giao hàng một lần + giao nhiều lần trong thời gian… + giao nhiều lần trong thời gian quy định, số lượng quy định, + giao nhiều lần nhưng quy định giới hạn trọng lượng của mỗi chuyến + giao nhiều lần, mỗi lần có số lượng như nhau Những chứng từ mà nhà xuất khẩu phải xuất trình cho ngân hàng trả tiền: là nội dung then chốt của một L/C, bởi bộ chứng từ thanh toán quy định trong L/C là một bằng chứng của nhà xuất khẩu chứng minh rằng mình đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng và làm đúng nghĩa vụ của L/C, do vậy ngân hàng mở phải dựa vào đó để tiến hành trả tiền cho nhà xuất khẩu nếu bộ chứng từ phù hợp với những điều quy định trong L/C. Quy định về bảo hiểm: đồng tiền, công ty bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm phải mua,… Hợp đồng mua bán làm cơ sở để mở L/C, cần ghi rõ số hiệu, ngày ký hợp đồng và hai bên ký kết. Các điều kiện khác, chẳng hạn: có thể hoàn trả tiền bằng điện chẳng hạn, chi phí sửa đổi do ai chịu,.. Sự cam kết của ngân hàng mở thư tín dụng: là nội dung cuối cùng của L/C và nó ràng buộc trách nhiệm của ngân hàng mở với L/C này. Những điều khoản đặc biệt khác Chữ ký của ngân hàng mở L/C 1.1.4.3.Các loại L/C : +Thư tín dụng không huỷ ngang: Là loại L/C sau khi đã được mở ra và thông báo cho người hưởng lợi thì không được sửa đổi, bổ sung hay huỷ bỏ trong thời hạn hiệu lực của nó nếu không có sự đồng ý của các bên liên quan. +Thư tín dụng có xác nhận: Là loại L/C không thể huỷ ngang được một ngân hàng khác xác nhận đảm bảo trả tiền cho người hưởng lợi. Loại thư tín dụng này được yêu cầu khi người bán không tin tưởng vào khả năng thanh toán của ngân hàng mở L/C nên phải cần có một ngân hàng khác đảm bảo, ngân hàng này được gọi là ngân hàng xác nhận. +Thư tín dụng miễn truy đòi: Là loại L/C mà sau khi nhà xuất khẩu đã được trả tiền, ngân hàng mở L/C không có quyền đòi lại tiền nhà xuất khẩu trong bất kì trường hợp nào. Được sử dụng phổ biến trong thanh toán quốc tế. +Thư tín dụng có thể chuyển nhượng được: Là loại L/C mà theo đó, người hưởng có quyền yêu cầu ngân hàng được uỷ quyền thanh toán, cam kết trả sau, chấp nhận hay chiết khấu hoặc trong trường hợp tín dụng thư tự do chiết khấu, ngân hàng được uỷ quyền ghi rõ trong thư tín dụng là ngân hàng chuyển nhượng, chuyển nhượng cho một hay nhiều người hưởng khác được sử dụng toàn bộ hay một phần thư tín dụng. +Thư tín dụng giáp lưng: Là loại L/C được mở dựa trên cơ sở tiền của L/C khác đã được mở trước đó. Loại L/C này thường được sử dụng nhiều trong phương thức giao dịch mua bán qua trung gian, chuyển khẩu. Việc thực hiện quá trình thanh toán theo loại hình thư tín dụng này nói chung khá phức tạp: đặc biệt là những điều kiện về thời gian, về bộ chứng từ… vì thế hay có sự sai sót gây thiệt hại cho các bên. Nói chung, ngày nay trong thương mại quốc tế, hình thức mua hàng đổi hàng ít nên L/C giáp lưng ít khi được sử dụng. +Thư tín dụng đối ứng: Là loại L/C không thể huỷ bỏ trong đó quy định nó chỉ có giá trị hiệu lực khi L/C khác đối ứng được mở ra. Điều đó có nghĩa là tổ chức xuất khẩu khi nhận được L/C do tổ chức nhập khẩu phải mở tại L/C tương ứng thì nó mới có giá trị. Loại L/C đối ứng được sử dụng khi giữa hai bên xuất nhập khẩu có quan hệ thanh toán trên cơ sở mua bán hàng đổi hàng, đối lưu, gia công… +Thư tín dụng tuần hoàn: Là loại L/C không thể huỷ bỏ trong đó quy định rằng khi L/C sử dụng hết kim ngạch hoặc sau khi hết hạn hiệu lực L/C thì nó tự động có giá trị hiệu lực như cũ và cứ như vậy L/C tuần hoàn đến khi nào hoàn tất giá trị hợp đồng. Loại L/C tuần hoàn này được áp dụng trong trường hợp hai bên xuất khẩu và nhập khẩu có quan hệ thường xuyên và đối tượng thanh toán không thay đổi. Khi áp dụng L/C tuần hoàn, tổ chức nhập khẩu có lợi ở hai điểm lớn: không bị động vốn, giảm được phí tổn do mở L/C. +Thư tín dụng dự phòng: Để đảm bảo quyền lợi của đơn vị nhập khẩu trong trường hợp đơn vị xuất khẩu không giao hàng theo đúng hợp đồng. Đơn vị nhập khẩu yêu cầu đơn vị xuất khẩu mở một thư tín dụng dự phòng trong đó yêu cầu rằng nếu đơn vị xuất khẩu không thực hiện hợp đồng, ngân hàng mở thư tín dụng dự phòng sẽ thanh toán tiền đền bù thiệt hại cho đơn vị nhập khẩu. +Thư tín dụng có điều khoản đỏ: Là loại L/C đặc biệt, nó mang hình thức tài trợ cho nhà xuất khẩu. Ngân hàng phát hành L/C sẽ chuyển một khoản ứng trước để nhà xuất khẩu có vốn sản xuất và giao hàng. Nhà xuất khẩu phải cam kết bồi hoàn số tiền nhận ứng trước nếu không nộp đủ chứng từ phù hợp theo thời gian quy định. Loại L/C này được gọi là tín dụng điều khoản đỏ vì ngân hàng phát hành khi ghi điều khoản ứng trước đó vào định khoản có dùng mực đỏ để tập trung sự chú ý tới L/C đặc biệt này. 1.2.Một số rủi ro chủ yếu trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ 1.2.1.Rủi ro kĩ thuật Là những rủi ro do những sai sót mang tính chất kỹ thuật trong quy trình thanh toán TDCT, thường do các bên thực hiện sai một khâu trong quy trình nghiệp vụ thanh toán : Rủi ro đối với nhà Xuất khẩu Trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, ngân hàng phát hành đứng ra cam kết thanh toán cho nhà xuất khẩu khi họ xuất trình bộ chứng từ phù hợp với L/C trong khi đó để đảm bảo việc giao hàng theo đúng hợp đồng thương mại, L/C thường đòi hỏi nhiều điều khoản rất chi tiết và khắt khe. Chỉ cần một sơ suất nhỏ trong việc lập bộ chứng từ thì nhà xuất khẩu cũng bị ngân hàng mở L/C và người mua bắt lỗi, từ chối thanh toán. Do đó việc lập bộ chứng từ thanh toán là một khâu rất quan trọng và rất dễ gặp rủi ro đối với nhà XK. Một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với L/C phải đáp ứng được các yêu cầu sau: _Các chứng từ phải lập ra đúng yêu cầu về số lượng, số loại, nội dung như đã quy định trong L/C. _Nội dung của các chứng từ không được mâu thuẫn với nhau. _Bộ chứng từ phải được xuất trình tại địa điểm trả tiền quy định trong L/C trong thời hạn hiệu lực của L/C. Trên thực tế có rất nhiều sai sót xảy ra trong quá trình lập chứng từ mà thường gặp nhất là: _Sai lỗi chính tả, sai tên, địa chỉ… _Chứng từ không hoàn chỉnh về mặt số lượng _Các sai sót trên bề mặt chứng từ như: +Số tiền trên chứng từ vượt quá giá trị L/C. +Các chứng từ không ghi số L/C +Chứng từ không đánh dấu bản gốc +Các chứng từ không khớp nhau hoặc không khớp với L/C về số lượng, trọng lượng hàng hoá…. +Các c
Luận văn liên quan