Chuyên đề Một giải pháp nhằm nâng cao nâng lực cạnh tranh của công ty cổ phần tập đoàn vận tải Phượng Hoàng

Cạnh tranh là tất yếu mang tính quy luật của kinh tế thị trường, ở các nước phát triển như Nhật, Anh, Mĩ vv Các cuộc cạnh tranh luôn diễn ra gay gắt và khốc liệt. Hậu quả là sự phá sản của hàng loạt các công ty lớn nhỏ. Việt Nam sau hơn 25 năm đổi mới hướng theo nền kinh tế thị trường. Cạnh tranh ngày một diễn ra khốc liệt hơn. Đặc biệt là các doanh nghiệp dịch vụ. Sự ra đời hay các chính sách cổ phần hóa của các công ty lớn nhỏ, các công ty quốc doanh ngày càng làm cho cuộc cạnh tranh thêm phần khốc liệt hơn. Cạnh tranh trong kinh doanh có thể thắng lợi hoặc thất bại. Thắng lợi trong cạnh tranh chính là thành công trong kinh doanh, nhưng để thắng lợi trong kinh doanh là vấn đề được quan tâm hơn cả vì nó không những ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp mà nó còn liên quan đến sự sống còn của doanh nghiệp. Kinh tế xã hội phát triển, chất lượng cuộc sống ngày một nâng lên đòi hỏi sản phẩm dịch vụ phải thỏa mãn được nhu cầu ngày càng cao, đồng thời phải cạnh tranh được với các doanh nghiệp cùng ngành, ngoài ngành. Sản phẩm dịch vụ là sản phẩm mang tính trìu tượng nó không phải là sản phẩm hữu hình, do đó nó đòi hỏi cao về sự thỏa mãn tâm lý, sự khác biệt, quyền được tôn trọng khi sử dụng dịch vụ. Nó đặt ra cho các doanh nghiệp phải tìm ra cho mình các giải pháp phù hợp và phải có tính cạnh tranh với các doanh nghiệp khác để dành được những lợi thế nhất định. Công ty cổ phần tập đoàn vận tải Phượng Hoàng tiền thân là công ty TNHH TM&DV Phượng Hoàng được thành lập 12/2004 Sau 6 năm đi vào hoạt động công ty cũng đã gặt hái được những thành công nhất định. Tuy nhiên bên cạnh những thành công đã đạt được công ty còn gặp không ít những khó khăn mà khó khăn lớn nhất là cạnh tranh quyết liệt với các doanh nghiệp vận tải khác như Hoàng Long, Tân Đạt vv Như về giá cả, chất lượng dịch vụ (chủ yếu nghiên cứu trên tuyến Bắc Nam). Do vậy em lựa chọn chọ đề tài “ Một giải pháp nhằm nâng cao nâng lực cạnh tranh của công ty cổ phần tập đoàn vận tải Phượng Hoàng” Nhằm góp phần giúp công ty kinh doanh có hiệu quả và một ngày phát triển. Ngoài mục lục, các tài liệu tham khảo, nội dung chuyên đề thực tập tốt nghiệp gồm 3 chương: CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ CẠNH TRANH TRONG DOANH NGHIỆP CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN VẬN TẢI PHƯỢNG HOÀNG CHƯƠNG III: MỐT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY

doc59 trang | Chia sẻ: tuandn | Ngày: 22/02/2013 | Lượt xem: 1597 | Lượt tải: 8download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Chuyên đề Một giải pháp nhằm nâng cao nâng lực cạnh tranh của công ty cổ phần tập đoàn vận tải Phượng Hoàng, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI MỞ ĐẦU Cạnh tranh là tất yếu mang tính quy luật của kinh tế thị trường, ở các nước phát triển như Nhật, Anh, Mĩ… vv Các cuộc cạnh tranh luôn diễn ra gay gắt và khốc liệt. Hậu quả là sự phá sản của hàng loạt các công ty lớn nhỏ. Việt Nam sau hơn 25 năm đổi mới hướng theo nền kinh tế thị trường. Cạnh tranh ngày một diễn ra khốc liệt hơn. Đặc biệt là các doanh nghiệp dịch vụ. Sự ra đời hay các chính sách cổ phần hóa của các công ty lớn nhỏ, các công ty quốc doanh ngày càng làm cho cuộc cạnh tranh thêm phần khốc liệt hơn. Cạnh tranh trong kinh doanh có thể thắng lợi hoặc thất bại. Thắng lợi trong cạnh tranh chính là thành công trong kinh doanh, nhưng để thắng lợi trong kinh doanh là vấn đề được quan tâm hơn cả vì nó không những ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp mà nó còn liên quan đến sự sống còn của doanh nghiệp. Kinh tế xã hội phát triển, chất lượng cuộc sống ngày một nâng lên đòi hỏi sản phẩm dịch vụ phải thỏa mãn được nhu cầu ngày càng cao, đồng thời phải cạnh tranh được với các doanh nghiệp cùng ngành, ngoài ngành. Sản phẩm dịch vụ là sản phẩm mang tính trìu tượng nó không phải là sản phẩm hữu hình, do đó nó đòi hỏi cao về sự thỏa mãn tâm lý, sự khác biệt, quyền được tôn trọng khi sử dụng dịch vụ. Nó đặt ra cho các doanh nghiệp phải tìm ra cho mình các giải pháp phù hợp và phải có tính cạnh tranh với các doanh nghiệp khác để dành được những lợi thế nhất định. Công ty cổ phần tập đoàn vận tải Phượng Hoàng tiền thân là công ty TNHH TM&DV Phượng Hoàng được thành lập 12/2004 Sau 6 năm đi vào hoạt động công ty cũng đã gặt hái được những thành công nhất định. Tuy nhiên bên cạnh những thành công đã đạt được công ty còn gặp không ít những khó khăn mà khó khăn lớn nhất là cạnh tranh quyết liệt với các doanh nghiệp vận tải khác như Hoàng Long, Tân Đạt…vv Như về giá cả, chất lượng dịch vụ (chủ yếu nghiên cứu trên tuyến Bắc Nam). Do vậy em lựa chọn chọ đề tài “ Một giải pháp nhằm nâng cao nâng lực cạnh tranh của công ty cổ phần tập đoàn vận tải vận tải Phượng Hoàng” Nhằm góp phần giúp công ty kinh doanh có hiệu quả và một ngày phát triển. Ngoài mục lục, các tài liệu tham khảo, nội dung chuyên đề thực tập tốt nghiệp gồm 3 chương: CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ CẠNH TRANH TRONG DOANH NGHIỆP CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN VẬN TẢI PHƯỢNG HOÀNG CHƯƠNG III: MỐT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ CẠNH TRANH TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Cạnh tranh và vai trò của cạnh tranh trong doanh nghiệp 1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh Cạnh tranh là yếu tố gắn liền với kinh tế thị trường, tùy từng cách hiểu và cách tiếp cận mà có nhiều quan điểm về cạnh tranh. - Cạnh tranh là sự phấn đấu về chất lượng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp mình sao cho tốt hơn doanh nghiệp khác. - Cạnh tranh là sự thôn tính lẫn nhau giữa các đối thủ cạnh tranh nhằm dành lấy thị trường và khách hàng của doanh nghiệp mình. - Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các nhà doanh nghiệp trên thị trường nhằm dành được những ưu thế hơn cùng một loại sản phẩm dịch vụ hoạc cùng một khách hàng về phía mình so với các đối thủ cạnh tranh. Dưới thời kỳ TBCN phát triển vượt bậc, Các Mác đã quan niệm rằng. “ Cạnh tranh TBCN là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi, trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch”. Ngày nay dưới sự hoạt động của cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của nhà nước, khái niệm cạnh tranh có thay đổi đi về hình thức nhưng về bản chất nó không hề thay đổi: Cạnh tranh vẫn là sự đấu tranh gay gắt, sự ganh đua giữa các tổ chức, các doanh nghiệp nhằm giành giật điều kiện thuận lợi trong sản xuất kinh doanh để đạt mục tiêu của tổ chức hay doanh nghiệp đó. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, Cạnh tranh là một điều kiện và là một yếu tố kích thích sản xuất kinh doanh, là môi trường động lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tăng năng xuất lao động và tạo cho sự phát triển của xã hội. Như vậy cạnh tranh là quy luật khách quan trong kinh doanh vận động theo cơ chế thị trường. Kinh tế ngày càng phát triển, số lượng người, các doanh nghiệp, cung ứng hàng hóa, dịch vụ ngày càng nhiều thì cạnh tranh càng gay gắt. Kết quả sẽ có môt số doanh nghiệp bị thua cuộc và bị gạt ra khỏi trị trường trong khi một số doanh nghiệp khác tồn tại và phát triển hơn nữa. Cạnh tranh sẽ làm cho doanh nghiệp, năng động hơn nhạy bén hơn trong việc nghiên cứu, nâng cao chất lượng sản phẩm giá cả và các dich vụ sau bán hàng nhằm tăng vị thế của mình trên thương trường trong khi mốt số doanh nghiệp khác năng động hơn, nhạy bén hơn trong việc nghiên cứu, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ và giá cả và các dịch vụ sau bán hàng nhằm tăng vị thế của mình trên thương trường, tạo uy tín với khách hàng và mang lại nguồn lợi nhuận cho doanh nghiệp. 1.1.2. Vai trò của cạnh tranh 1.1.2.1. Vai trò của cạnh tranh đối với nền kinh tế quốc dân: Cạnh tranh là động lực phát triển nền kinh tế nâng cao năng xuất lao động xã hội. Một nền kinh tế mạnh là nền kinh tế mà các tế bào của nó là các doanh nghiệp phát triển có khả năng cạnh tranh cao. Tuy nhiên ở đây cạnh tranh phải là cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh lành mạnh, các doanh nghiệp cạnh tranh nhau để cùng phát triền, cùng đi lên thi mới làm cho nền kinh tế phát triển bền vững. Còn tranh độc quyền sẽ làm ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế, nó tạo ra môi trường kinh doanh không bình đẳng dẫn đến mâu thuẫn về quyền lợi và lợi ích kinh tế trong xã hội, làm cho nền kinh tế không ổn định. Vì vậy chính phủ cần kiểm soát chặt chẽ độc quyền trong cạnh tranh, trong kinh doanh để tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh. Cạnh tranh hoàn hỏa sẽ đào thải những doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả. Do đó buộc các doanh nghiệp phải lựa chọn phương án kinh doanh có chi phí thấp nhất, sản phẩm tốt nhất, dịch vụ tốt nhất mang lai hiệu quả kinh tế cao nhất. Như vậy cạnh tranh tạo ra sự đổi mới mang lại tăng trưởng kinh tế. 1.1.2.2. Vai trò của cạnh tranh đối với người tiêu dùng: Trên thị trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp càng diễn ra gay gắt thì người được lợi nhất là khách hàng. khi có cạnh tranh thi người tiêu dùng không phải chịu sức ép nào mà còn được hưởng những thành quả do cạnh tranh mang lại như: Chất lượng sản phẩm tốt hơn, giá bán thấp hơn, chất lượng phục vụ tốt hơn… Đồng thời khách hàng cũng tác động trở lại cạnh tranh bẵng những yêu cầu về chất lượng hàng hóa và giá cả, chất lượng phục vụ…Khi đòi hỏi của người tiêu dùng càng cao làm cho cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt hơn để dành được nhiều khách hàng hơn. 1.1.2.3. Vai trò của cạnh tranh đối với doanh nghiệp Cạnh tranh là điều kiện bất khả kháng đối với mỗi doanh nghiệp trong nên kinh tế thị trường. Cạnh tranh có thể được coi là cuộc chiến khốc liệt mà các doanh nghiệp không thể tránh khỏi mà phải tìm mọi cách vươn lên để chiếm ưu thế và chiến thắng. Cạnh tranh trong kinh doanh buộc các doanh nghiệp luôn tìm cách nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, thay đổi để phù hợp đáp ứng nhu cầu khách hàng. Cạnh tranh khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng công nghệ mới, hiện đại, tạo sức ép buộc các doanh nghiệp phải sử dụng các nguồn lực có hiệu quả để giảm giá thành nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã, tạo ra các sản phẩm mới khác biệt có sức cạnh tranh cao. Cạnh tranh khốc liệt sẽ làm các doanh nghiệp thể hiện được khả năng, bản lĩnh của mình trong quá trình kinh doanh. Nó làm cho doanh nghiệp ngày càng vững mạnh và phát triển hơn nếu chịu được áp lực cạnh tranh trên thị trường. Chính sự tồn tại và khách quan và sự ảnh hưởng của cạnh tranh đối với nền kinh tế nói chung và đến từng doanh nghiệp nói riêng nên việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là một đòi hỏi tất yếu khách quan trong nền kinh tế thị trường. Cạnh tranh là quy luật khách quan của kinh tế thị trường, mà kinh tế thị trường là kinh tế TBCN. Kinh tế thị trường là sự phát triển tất yếu và Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN có sự quản lý của nhà nước, lấy thành phần kinh tế nhà nước làm chủ đạo. Dù ở bất kỳ thành kinh tế nào thì các doanh nghiệp cũng phải vận hành theo quy luật khác quan của kinh tế thị trường. Nếu doanh nghiệp nằm ngoài quay luật vận động đó thì tất yếu sẽ bị loại bỏ, không thể tồn tại. Chính vì vậy chấp nhân cạnh tranh và tìm cách nâng cao khả năng cạnh tranh của mình chính là doanh nghiệp đang tìm con đường sống cho mình. 1.2.Các loại hình cạnh tranh Dựa trên các tiêu thức khác nhau người ta phân thành nhiều loại hình cạnh tranh khác nhau. 1.2.1.Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường Người ta chia làm ba loại 1.2.1.1 Cạnh tranh giữa người bán và người mua Là cuộc cạnh tranh diễn ra theo “luật” mua rẻ bán đắt. Người mua luôn luôn muốn mua được rẻ, ngược lại người bán lại luôn muốn được bán đắt. Sự cạnh tranh này thực hiện trong quá trình mặc cả và cuối cùng giá cả được hình thành và hành động mua bán được thực hiện. 1.2.1.2 Cạnh tranh giữa người mua Là cuộc cạnh tranh trên cơ sở quy luật cung cầu. khi một loại hàng hóa dịch vụ nào đó mà mức cung cầu nhỏ hơn nhu cầu tiêu dùng thì cuộc cạnh tranh sẽ trở nên quyết liệt và giá hàng hóa đó sẽ tăng. Kết quả cuối cùng là người bán sẽ thu được lợi nhuận cao, còn người mua thì mất thêm một số tiền. Đây là cuộc cạnh tranh mà những người mua tự làm hại chính mình. 1.2.1.3. Cạnh tranh giữa người bán Đây là cuộc cạnh tranh gay go và quyết liệt nhất, nó có ý nghĩa sống còn đối với bất kỳ doanh nghiệp nào. Khi sản xuất hàng hóa phát triển, số người bán càng tăng lên thì cạnh tranh càng quyết liệt bởi vì doanh nghiệp nào cũng muốn dành lấy lợi thế cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần của đối thủ và kết quả đánh giá doanh nghiệp nào chiến thắng trong cuộc cạnh tranh này là việc tăng doanh số tiêu thụ, tăng thị phần và cùng với đó sẽ tăng lợi nhuận, tăng đầu tư chiều sâu và mở rộng sản xuất. Trong cuộc chạy đua này những doanh nghiệp nào không có chiến lược cạnh tranh thích hợp thì sẽ lần lượt bị gạt bỏ ra khỏi thị trường nhưng đồng thời nó lại mở rộng đường cho doanh nghiệp nào nắm chắc được “vũ khí” cạnh tranh và dám chấp nhận luật chơi phát triển. 1.2.2. Căn cứ theo phạm vi ngành kinh tế. Người ta chia làm hai loại: 1.2.2.1. Cạnh tranh trong nội bộ ngành Là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất hoặc tiêu thụ một loại hàng hóa dịch vụ nào đó. Trong cuộc cạnh tranh này có sự thôn tính lẫn nhau. Những doanh nghiệp chiến thắng sẽ mở rộng phạm vi hoạt động của mình trên thị trường, những doanh nghiệp thua cuộc sẽ phải thu hẹp kinh doanh thậm chí phá sản. 1.2.2.2. Canh tranh giữa các ngành Là sự cạnh tranh giữa các chủ doanh nghiệp trong các ngành kinh tế khác nhau, nhằm dành lấy lợi nhuận lớn nhất. trong quá trình cạnh tranh này, các chủ doanh nghiệp luôn say mê với những ngành đầu tư có lợi nhuận cao, nên đã chuyển đầu tư từ ngành ít lợi nhuận sang ngành nhiều lợi nhuận. Sự điều chỉnh tự nhiên theo tiếng gọi lợi nhuận này sau một thòi gian nhất định sẽ hình thành nên sự phân phối vốn hợp lý giũa các ngành sản xuất, để rồi kết quả cuối cùng là, các chủ doanh nghiệp đầu tư ở các ngành khác nhau với số vốn như nhau thì cũng chỉ thu được như nhau. Tức là hình thành tỷ xuất lợi nhuận bình quân giữa các ngành. 1.2.3 Căn cứ vào mức độ tính chất của cạnh tranh trên thị trường. Người ta chia làm 3 loại 1.2.3.1 Cạnh tranh hoàn hảo Là hình thức cạnh tranh mà trên thị trường có rất nhiều người bán, người mua nhỏ, không ai trong số họ đủ lớn bằng hành động của mình ảnh hưởng đến giá cả dịch vụ. Điều đó có nghĩa là không cần biết sản xuất được bao nhiêu, họ đều có thể bán được tất cả sản phẩm của mình tại mức giá thị trường hiện hành. Vì vậy một hãng trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo không có lý do để bán rẻ hơn thị trường mức giá thị trường. Hơn nữa sẽ không tăng giá của mình lên cao hơn giá thị trường vì nếu thế hãng sẽ chẳng bán được gì. Nhóm người tham gia vào thị trường này chỉ có cách là thích ứng với mức giá bởi vì cung cầu trên thị trường tự do hình thành, giá cả thị trường quyết định, tức là ở mức số cầu thu hút được tất cả số cung có thể cung cấp. Đối với thị trường cạnh tranh hoàn hảo sẽ không có hiện tượng cung cầu giả tạo không bị hạn chế bởi biện pháp hành chính nhà nước. Vì vậy trong trị trường này giá cả thị trường sẽ dẫn tới chi phí sản xuất. 1.2.3.2 Cạnh tranh không hoàn hảo Nếu một hãng có thể tác động đáng kể đến giá cả thị trường đối đầu với đầu ra của hãng thì hãng ấy được liệt vào “hãng cạnh tranh không hoàn hảo” …Như vậy cạnh tranh không hoàn hảo là cạnh tranh trên thị trường không đồng nhất với nhau. Mỗi loại sản phẩm có thể có nhiều loại nhãn hiệu khác nhau, mỗi loại nhãn hiệu khác nhau, có hình ảnh và uy tín khác nhau mặc dù xem xét và chất lượng thì sự khác biệt giữa các sản phẩm là không đáng kể. Các điều kiện mua bán cũng rất khác nhau. Những người bán có thể cạnh tranh với nhau nhằm lôi kéo khách hàng về phía mình bằng nhiều cách như: quảng cáo, khuyến mại, những ưu đãi về giá cả dịch vụ trước, trong và sau khi mua hàng. Đây là loại hình cạnh tranh rất phổ biến trong giai đoạn hiện nay. 1.2.3.3. Cạnh tranh độc quyền Là cạnh tranh trên thi trường mà ở đó một số người bán một số sản phẩm thuần nhất hoặc nhiều người bán một loại sản phẩm thuần nhất. Họ có thể kiểm soát gần như toàn bộ số lượng sản phẩm hay hàng hóa bán ra thị trường. Thị trường này có pha trộn lẫn giữa độc quyền và cạnh tranh gọi thị trường cạnh tranh độc quyền, ở đây xảy ra cạnh tranh giữa các nhà độc quyền. Điều kiện ra nhập hoặc rút lui khỏi thị trường cạnh tranh độc quyền có trở ngại do vốn đầu tư lớn hoặc do độc quyền về bí quyết công nghệ, thị trường này không có cạnh tranh về giá cấm một số người bán toàn quyền quyết định giá cả mà một số người bán toàn quyền quyết định giá cả. Họ có thể định giá cao hơn tùy thuộc vào đặc điểm tiêu dùng của từng sản phẩm, cốt sao cuối cùng họ thu được lợi nhuận tối đa. Những nhà doanh nghiệp nhỏ tham gia vào thị trường này phải chấp nhận bán hàng theo giá của nhà độc quyền. Trong thực tế có thể có tình trạnh độc quyền xảy ra nếu không có sản phẩm nào thay thế sản phẩm nào thay thế sản phẩm độc quyền xảy ra nếu không có sản phẩm độc quyền hoặc các nhà độc quyền liên kết với nhau. Độc quyền hoặc các nhà độc quyền liên kết với nhau. Độc quyền gây trở ngại cho sự phát triển sản xuất và làm phương hại đến người tiêu dùng. Vì vậy ở mỗi nước cần có luật chống độc quyền nhằm chống lại sự liên minh độc quyền giữa các nhà kinh doanh. 1.3. Các công cụ cạnh tranh chủ yếu của doanh nghiệp Sự cạnh tranh gay gắt nhất luôn là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất, cùng cung ứng một loại hàng hay dịch vụ. Do vậy các công cụ canh tranh ở đây chủ yếu xem xét theo các doanh nghiệp cùng một ngành. 1.3.1.Giá cả Giá cả là phạm trù trung tâm kinh tế hàng hóa của cơ chế thị trường. Giá cả là một công cụ quan trọng trong cạnh tranh. Giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá sản phẩm mà người bán có thể dự tính nhận được từ người mua thông qua sự trao đổi giữa các sản phẩm đó trên trị trường giá cả phụ thuộc vào các yếu tố sau: - Các yếu tố kiểm soát được: đó là chi phí sản xuất, chi phí lưu thông, chi phí yểm trợ và tiếp xúc bán hàng. - Các yếu tố không thể kiếm sóat được: đó là quan hệ cung cầu trên thị trường, sự điều tiết của nhà nước. Chính sách định giá Trong doanh nghiệp chiến lược giá hình thành viên thực sự của chiến lực sản phẩm và vả hai chiến lược này lại phụ thuộc vào mục tiêu chiến lược chung của doanh nghiệp. Một trong những nội dung cơ bản của chiến lược giá cả là định giá. Định giá là việc ấn định có hệ thống giá cả cho đúng với hàng hóa hay dịch vụ bán cho khách hàng. Việc định giá này căn cứ vào các mặt sau: Lượng cầu đối với sản phẩm: doanh nghiệp cần tính toán nhiều phương án giá ứng với mỗi loại giá là một lượng cầu. Từ đó chọn ra phương án có nhiều lợi nhuận nhất, có tính khả thi nhất. Chi phí sản xuất và giá thành đơn vị sản phẩm giá bán là tổng giá thành và lợi nhuận mục tiêu cần có những biện pháp dể giảm giá thành sản phẩm. tuy nhiên không phải bao giờ giá bán cũng cao hơn giá thành, nhất là trong điều kiện cạnh tranh gay gắt như hiện nay. Vì vậy doanh nghiệp cần nhận dạng đúng thí trường cạnh tranh để từ đó đưa ra các định hướng giá cho phù hợp với thị trường * Các chính sách để định giá Chính sách định giá thấp: Là chính sách định giá thấp hơn thị trường để thu hút khách hàng về phía mình. Chính sách này đòi hỏi doanh nghiệp phải có tiềm lực về vốn lớn, phải tính toán chắc chắn. + Chính sách định giá cao: Là chính sách định giá cao hơn giá thị trường. Chính sách này áp dụng cho các doanh nghiệp có sản phẩm độc quyền hay dịch vụ độc quyền không bị cạnh tranh. + Chính sách giá phân biệt: nếu các đối thủ cạnh tranh chưa có mức giá phân biệt thì cũng là thứ vũ khí cạnh tranh không kém phần lợi hại của doanh nghiệp. Chính sách giá phân biệt của doanh nghiệp được thể hiện là cùng với loại sản phẩm nhưng có nhiều mức giá khác nhau và mức giá đó được phân biệt theo các tiêu thức khác nhau. + Chính sách phá giá: Giá bán thấp hơn giá thị trường thậm chí thấp hơn giá thành. Doanh nghiệp dùng vũ khí giá để làm công cụ cạnh tranh để đánh bại đối thủ khỏi thị trường. Nhưng bên cạnh vũ khí này doanh nghiệp phải mạnh về tiềm lực tài chính, về khoa học công nghệ, và uy tín doanh nghiệp. Việc bán phá giá chỉ nên thực hiện trong thời gian nhất định mà chỉ có thể loại bỏ được đối thủ nhỏ mà khó loại bỏ được đối thủ lớn. Đặc biệt chính sách này đối với các doanh nghiệp vận tải thường không sử dụng do những yếu tố khách quan của ngành khó có thể áp dụng. 1.3.2 Chất lượng và đặc tính sản phẩm Nếu lựa chọn sản phẩm là công cụ cạnh tranh thì phải tập trung vào giải quyết toàn bộ chiến lược sản phẩm, làm cho sản phẩm thích ứng nhanh với thị trường. Chất lượng sản phẩm là tổng thể các chỉ tiêu, những thuộc tính của sản phẩm thể hiện mức độ thỏa mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng phù hợp với công dụng sản phẩm. Chất lượng sản phẩm trở thành công cụ cạnh tranh quan trọng của doanh nghiệp trên thị trường bởi nó thể hiện sự thỏa mãn nhu cầu của khách hàng về sản phẩm Chất lượng sản phẩm ngày càng cao tức là mức độ thỏa mãn cầu ngày càng lớn dẫn đến sự thích thú tiêu dùng sản phẩm ở khách hàng tăng lên, do đó làm tăng khả năng thắng thế trong cạnh tranh của doanh nghiệp. Tuy nhiên nhiều khi chất lượng sản phẩm quá cao cũng không thu hút được khách hàng vì họ nghĩ rằng những sản phẩm có chất lượng cao sẽ đi kèm với giá cao. Khi đó, họ cho rằng không có đủ khả năng để sủ dụng sản phẩm. Đối với ngành kinh doanh vận tải thì chất lượng càng cao sẽ càng làm cho khách hầng thấy thỏa mãn điều này tốt cho doanh nghiệp tạo cho doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh. Vì đặc điểm của ngành vận tải là về giá cả được niêm yết công khai do đó khi sử dụng dịch vụ được khách hàng so sánh và lựa chọn cho mình những dịch vụ phù hợp với khả năng tiêu dùng. Nói tóm lại muốn sản phẩm của doanh nghiệp mình có khả năng cạnh tranh được trên thị trường thì doanh nghiệp phải có chiến lược sản phẩm đúng đắn tạo ra được những sản phẩm phù hợp, đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường với chất lượng tốt. 1.3.3 Hệ thống kênh phân phối Trước hết để tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp cần chọn các kênh phân phối, lựa chọn thị trường, nghiên cứu thị trường và lựa chọn kênh phân phối để sản phẩm được tiêu thụ nhanh chóng, hợp lý và đạt kết quả cao. Chính sách phân phối sản phẩm đạt được các mục tiêu tăng doanh số, tăng nhanh vòng quay của vốn thúc đẩy kinh doanh, tăng được khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp khác. Theo sự tác động của thị trường, tùy theo nhu cầu của người mua, người bán, tùy theo tính chất của hàng hóa và quy mô của doanh nghiệp. Bên cạnh việc tổ chức tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp có thể đẩy mạnh các hoạt động tiếp thị, quảng cáo, yểm trợ bán hàng thu hút khách hàng. Nhưng nhìn chung việc lựa chọn kênh phân phối phải dựa vào đặc điểm kinh doa
Luận văn liên quan