Chuyên đề Thu - Chi của ngân sách Nhà nước và biện pháp cân đối ngân sách của Nhà nước

Trong lịch sử loài người, Nhà Nước xuất hiện là kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội. Nhà Nước ra đời tất yếu kéo theo nhu cầu tập trung nguồn lực tài chính vào trong tay Nhà Nước để làm phương tiện vật chất trang trải cho các chi phí nuôi sống bộ máy Nhà nước và thực hiện các chức năng kinh tế, xã hội của Nhà Nước. Bằng quyền lực của mình, Nhà Nước tham gia vào quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội. Trong điều kiện kinh tế hàng hoá- tiền tệ, các hình thức tiền tệ trong phân phối như: thuế bằng tiền, vay nợ được Nhà nước sử dụng để tạo lập quỹ tền tệ riêng có: NSNN. Như vậy, NSNN là ngân sách của Nhà Nước, hay Nhà Nước là chủ thể của ngân sách đó Với mục tiêu “quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia, xây dựng Ngân sách Nhà Nước (NSNN) lành mạnh, củng cố kỷ luật tài chính, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả tiền của của Nhà Nước; tăng tích luỹ để thực hiện công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước theo định hướng XHCN, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân; đảm bảo quốc phòng, an ninh, đối ngoại”,. I. Vị trí, vai trò của thu-chi ngân sách nhà nước: * Vai trò ngân sách nhà nước: -Ngân sách nhà nước là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội, định hướng phát triển sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội -Ngân sách nhà nước là công cụ định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền. -Đầu tiên , chính phủ sẽ hướng hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế đi vào quỹ đạo mà chính phủ đã hoạch định để hình thành cơ cấu kinh tế tối ưu, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững. 1.Vị trí và vai trò của hoạch động chi NSNN: a.Vị trí: -Chi NSNN luôn gắn chặt với việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế-chính trị-xã hội -Chi NSNN gắn liền với quyền lực nhà nước -Chi NSNN mang tính pháp lí cao làm cho NSNN trở thành công cụ có hiệu lực trong quá trình điều hành,quản lí kinh tế ,xã hội của NN -Tính hiệu quả của các khoản chi NSNN được xem xét trên tầm vĩ mô.thông qua việc hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế ,xã hội,ANQP. -Chi NSNN là một bộ phận cấu thành luồng vận động tiền tệ và nó gắn chặt với sự vận động của phạm trù giá trị khác như tiền lương,lãi xuất. b.Vai trò : -Điều tiết trong kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế: Thông qua hoạt động chi ngân sách, nhà nước sẽ cung cấp kinh phí đầu tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt trên cơ sở đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế(có thể thấy rõ nhất tầm quan trọng của điện lực, viễn thông, hàng không đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp). Bên cạnh đó, việc cấp vốn hình thành các doanh nghiệp nhà nước là một trong những biện pháp căn bản để chống độc quyền và giữ cho thị trường khỏi rơi vào tình trạng cạnh tranh không hoàn hảo. Và trong những điều kiện cụ thể, nguồn kinh phí trong ngân sách cũng có thể được sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp, đảm bảo tính ổn định về cơ cấu hoặc chuẩn bị cho việc chuyển sang cơ cấu mới hợp lý hơn. - Giải quyết các vấn đề xã hội: Xây dựng và phát triển các vấn đề xã hôi:y tế,giáo dục,giao thông Trợ giúp trực tiếp dành cho những người có thu nhập thấp hay có hoàn cảnh đặc biệt như chi về trợ cấp xã hội,trợ cấp gián tiếp dưới hình thức trợ giá cho các mặt hàng thiết yếu,các khoản chi phí để thực hiện chính sách dân số,chính sách việc làm,chống mù chữ,hỗ trợ đồng bào bão lụt. -Về mặt thị trường: Góp phần ổn định thị trường, chống lạm phát ,bình ổn giá cả thị trường hàng hoá: nhà nước chỉ điều tiết những mặt hàng quan trọng những mặt hàng mang tính chất chiến lược. cơ chế điều tiết thông qua trợ giá, điều chỉnh thuế xuất nhập khẩu, dự trũ quốc gia. thị trường vốn sức lao động: thông qua phát hành trái phiếu và chi tiêu của chính phủ. kiềm chế lạm phát: cùng với nhân hàng trung ương với chính sách tền tệ thích hợp NSNN góp phần điều tiết thông qua chính sách thuế và chi tiêu của chính phủ. *Các lĩnh vực thường chi: -Chi đầu tư phát triển kinh tế và kết cấu hạ tầng, trong đó phần lớn là xây dựng cơ bản, khấu hao tài sản xã hội -Chi bảo đảm xã hội, bao gồm: +Giáo dục +Y tế +Công tác dân số +Khoa học và công nghệ +Văn hoá +Thông tin đại chúng +Thể thao +Lương và trợ cấp xã hội Theo tính chất kinh tế, chi ngân sách nhà nước đựoc chia ra: -Tiêu dùng cuối cùng (của Nhà nước): các khoản chi thường xuyên cho mua sắm của các cơ quan Nhà nước -Đầu tư kết cấu hạ tầng: xây dựng cơ bản và khấu hao tài sản -Phân phối và tái phân phối xã hội: lương công nhân viên chức và các khoản trợ cấp xã hội, hưu trí. 2.Vị trí và vai trò của hoạch động thu NSNN: a.Vị trí : -Cơ cấu các khoản thu NSNN đều gắn liền với chức năng nhiện vụ và quyền lực chính trị của nhà nước.Sự ra đời, tồn tại và phát triển của nhà nước là điều kiện xuất hiện nhưng khoản thu của NSNN -Các khoản thu nhà nước là tiền đề vật chất không thể thiếu được thực hiện chức năng ,nhiệm vụ nhà nước b.Vai trò: -Thu để tạo quỹ cho NSNN -Tạo nguồn ngân quỹ không chỉ cho các khoản chi NSNN mà còn nhằm vào mục đích xã hội khác như:trợ cấp thiên tai,cứu tế. -Thu bù đắp thiếu hụt NSNN: khi số thu NSNN không đáp ứng được nhu cầu chi tiêu -Thu NSNN có tác dụng kiềm chế và đẩy lùi lạm phát VD : Khi lạm phát xãy ra ,giá tăng làm cung-cầu mất cân đối,chính phủ có thể tăng thuế tiêu dùng,giảm thuế đầu tư. -Tác dụng của việc thu thuế: +Đối với thuế thu nhập cá nhân,thuế doanh nghiệp nhằm giúp sự phân hoá giàu nghèo,tiến tới đảm bảo xã hội công bằng về thu nhập +Thuế hang hoá: thuế cao cho hàng hoá xa xỉ,thuế thâp cho hàng thiết yếu nhằm phân phối lại thu nhập người giàu +Khuyến khích các DN trong nước phát triển băng các tăng thuế các mặt hàng nhập khẩu -Thông qua hoạt động thu, bằng việc huy động nguồn tài chính thông qua thuế, ngân sách nhà nước đảm bảo thực hiện vai trò định hướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh Các nguồn thu chính: +Thu từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nước: Thu từ sản xuất, thu từ lưu thông + phân phốinhàng hóa, thu từ hoạt động dịch vụ +Thu từ nguồn thu ngoài nước: thu từ vay nợ và viện trợ của ngoại quốc Có nhiều khoản thu:các hoạt động kinh tế của nhà nước(hoạt động góp vốn của nhà nước;thu hồi tiền vay của nhà nước);thu từ các hoạt động vay nợ;các hoạt động bán và cho thuê TNTN và các tài sản thuộc quyền sở hữu của nhà nước và các khoản thu khác. Thu thuế: Thuế là 1 khoản thu bắt buộc,không được hoàn trả trực tiếp của nhà nước đối với các cá nhân nhằm mục đichs trang trải các khoản chi phí vì lợi ích.

doc19 trang | Chia sẻ: tuandn | Ngày: 27/03/2013 | Lượt xem: 3869 | Lượt tải: 36download
Tóm tắt tài liệu Chuyên đề Thu - Chi của ngân sách Nhà nước và biện pháp cân đối ngân sách của Nhà nước, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH CHUYÊN ĐỀ Đề tài: Thu-Chi của ngân sách nhà nước và biện pháp cân đối ngân sách của nhà nước  Huế, 01/2010 MỞ ĐẦU Trong lịch sử loài người, Nhà Nước xuất hiện là kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội. Nhà Nước ra đời tất yếu kéo theo nhu cầu tập trung nguồn lực tài chính vào trong tay Nhà Nước để làm phương tiện vật chất trang trải cho các chi phí nuôi sống bộ máy Nhà nước và thực hiện các chức năng kinh tế, xã hội của Nhà Nước. Bằng quyền lực của mình, Nhà Nước tham gia vào quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội. Trong điều kiện kinh tế hàng hoá- tiền tệ, các hình thức tiền tệ trong phân phối như: thuế bằng tiền, vay nợ…được Nhà nước sử dụng để tạo lập quỹ tền tệ riêng có: NSNN. Như vậy, NSNN là ngân sách của Nhà Nước, hay Nhà Nước là chủ thể của ngân sách đó Với mục tiêu “quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia, xây dựng Ngân sách Nhà Nước (NSNN) lành mạnh, củng cố kỷ luật tài chính, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả tiền của của Nhà Nước; tăng tích luỹ để thực hiện công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước theo định hướng XHCN, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân; đảm bảo quốc phòng, an ninh, đối ngoại”,. I. Vị trí, vai trò của thu-chi ngân sách nhà nước: * Vai trò ngân sách nhà nước: -Ngân sách nhà nước là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội, định hướng phát triển sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội -Ngân sách nhà nước là công cụ định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền. -Đầu tiên , chính phủ sẽ hướng hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế đi vào quỹ đạo mà chính phủ đã hoạch định để hình thành cơ cấu kinh tế tối ưu, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững. 1.Vị trí và vai trò của hoạch động chi NSNN: a.Vị trí: -Chi NSNN luôn gắn chặt với việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế-chính trị-xã hội -Chi NSNN gắn liền với quyền lực nhà nước -Chi NSNN mang tính pháp lí cao làm cho NSNN trở thành công cụ có hiệu lực trong quá trình điều hành,quản lí kinh tế ,xã hội của NN -Tính hiệu quả của các khoản chi NSNN được xem xét trên tầm vĩ mô.thông qua việc hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế ,xã hội,ANQP... -Chi NSNN là một bộ phận cấu thành luồng vận động tiền tệ và nó gắn chặt với sự vận động của phạm trù giá trị khác như tiền lương,lãi xuất... b.Vai trò : -Điều tiết trong kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế: Thông qua hoạt động chi ngân sách, nhà nước sẽ cung cấp kinh phí đầu tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt trên cơ sở đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế(có thể thấy rõ nhất tầm quan trọng của điện lực, viễn thông, hàng không đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp). Bên cạnh đó, việc cấp vốn hình thành các doanh nghiệp nhà nước là một trong những biện pháp căn bản để chống độc quyền và giữ cho thị trường khỏi rơi vào tình trạng cạnh tranh không hoàn hảo. Và trong những điều kiện cụ thể, nguồn kinh phí trong ngân sách cũng có thể được sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp, đảm bảo tính ổn định về cơ cấu hoặc chuẩn bị cho việc chuyển sang cơ cấu mới hợp lý hơn. Giải quyết các vấn đề xã hội: Xây dựng và phát triển các vấn đề xã hôi:y tế,giáo dục,giao thông… Trợ giúp trực tiếp dành cho những người có thu nhập thấp hay có hoàn cảnh đặc biệt như chi về trợ cấp xã hội,trợ cấp gián tiếp dưới hình thức trợ giá cho các mặt hàng thiết yếu,các khoản chi phí để thực hiện chính sách dân số,chính sách việc làm,chống mù chữ,hỗ trợ đồng bào bão lụt. -Về mặt thị trường: Góp phần ổn định thị trường, chống lạm phát ,bình ổn giá cả thị trường hàng hoá: nhà nước chỉ điều tiết những mặt hàng quan trọng những mặt hàng mang tính chất chiến lược. cơ chế điều tiết thông qua trợ giá, điều chỉnh thuế xuất nhập khẩu, dự trũ quốc gia. thị trường vốn sức lao động: thông qua phát hành trái phiếu và chi tiêu của chính phủ. kiềm chế lạm phát: cùng với nhân hàng trung ương với chính sách tền tệ thích hợp NSNN góp phần điều tiết thông qua chính sách thuế và chi tiêu của chính phủ. *Các lĩnh vực thường chi: -Chi đầu tư phát triển kinh tế và kết cấu hạ tầng, trong đó phần lớn là xây dựng cơ bản, khấu hao tài sản xã hội -Chi bảo đảm xã hội, bao gồm: +Giáo dục +Y tế +Công tác dân số +Khoa học và công nghệ +Văn hoá +Thông tin đại chúng +Thể thao +Lương và trợ cấp xã hội … Theo tính chất kinh tế, chi ngân sách nhà nước đựoc chia ra: -Tiêu dùng cuối cùng (của Nhà nước): các khoản chi thường xuyên cho mua sắm của các cơ quan Nhà nước -Đầu tư kết cấu hạ tầng: xây dựng cơ bản và khấu hao tài sản -Phân phối và tái phân phối xã hội: lương công nhân viên chức và các khoản trợ cấp xã hội, hưu trí. 2.Vị trí và vai trò của hoạch động thu NSNN: a.Vị trí : -Cơ cấu các khoản thu NSNN đều gắn liền với chức năng nhiện vụ và quyền lực chính trị của nhà nước.Sự ra đời, tồn tại và phát triển của nhà nước là điều kiện xuất hiện nhưng khoản thu của NSNN -Các khoản thu nhà nước là tiền đề vật chất không thể thiếu được thực hiện chức năng ,nhiệm vụ nhà nước b.Vai trò: -Thu để tạo quỹ cho NSNN -Tạo nguồn ngân quỹ không chỉ cho các khoản chi NSNN mà còn nhằm vào mục đích xã hội khác như:trợ cấp thiên tai,cứu tế... -Thu bù đắp thiếu hụt NSNN: khi số thu NSNN không đáp ứng được nhu cầu chi tiêu -Thu NSNN có tác dụng kiềm chế và đẩy lùi lạm phát VD : Khi lạm phát xãy ra ,giá tăng làm cung-cầu mất cân đối,chính phủ có thể tăng thuế tiêu dùng,giảm thuế đầu tư... -Tác dụng của việc thu thuế: +Đối với thuế thu nhập cá nhân,thuế doanh nghiệp nhằm giúp sự phân hoá giàu nghèo,tiến tới đảm bảo xã hội công bằng về thu nhập +Thuế hang hoá: thuế cao cho hàng hoá xa xỉ,thuế thâp cho hàng thiết yếu nhằm phân phối lại thu nhập người giàu +Khuyến khích các DN trong nước phát triển băng các tăng thuế các mặt hàng nhập khẩu -Thông qua hoạt động thu, bằng việc huy động nguồn tài chính thông qua thuế, ngân sách nhà nước đảm bảo thực hiện vai trò định hướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh Các nguồn thu chính: +Thu từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nước: Thu từ sản xuất, thu từ lưu thông + phân phốinhàng hóa, thu từ hoạt động dịch vụ +Thu từ nguồn thu ngoài nước: thu từ vay nợ và viện trợ của ngoại quốc Có nhiều khoản thu:các hoạt động kinh tế của nhà nước(hoạt động góp vốn của nhà nước;thu hồi tiền vay của nhà nước);thu từ các hoạt động vay nợ;các hoạt động bán và cho thuê TNTN và các tài sản thuộc quyền sở hữu của nhà nước và các khoản thu khác. Thu thuế: Thuế là 1 khoản thu bắt buộc,không được hoàn trả trực tiếp của nhà nước đối với các cá nhân nhằm mục đichs trang trải các khoản chi phí vì lợi ích. II. Các khái niệm liên quan: 1.NSNN NSNN, hay NS chính phủ, là một thành phần trong hệ thống tài chính. Thuật ngữ "Ngân sách nhà nước" được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội ở mọi quốc gia. Song quan niệm về ngân sách nhà nước lại chưa thống nhất, người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa về ngân sách nhà nước tùy theo các trường phái và các lĩnh vực nghiên cứu. Các nhà kinh tế Nga quan niệm: Ngân sách nhà nước là bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của quôc gia. Một cách hiểu tương tự, người Pháp cho rằng: NSNN là toàn bộ tài liệu kế toán mô tả và trình bày các khoản thu và kinh phí của Nhà nước trong một năm. Luật NSNN đã được quốc hội Việt Nam thông qua năm 1996 định nghĩa: Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của quốc gia trong dự toán đã được cơ quan chính phủ có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của chính phủ. Từ các quan điểm trên ta có thể xác định:NSNN là các quan hệ phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập,phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước khi hà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước trên cơ sở luật định. 2. Hệ thống mục lục ngân sách nhà nước Hệ thống mục lục ngân sách nhà nước là bảng phân loại các khoản thu, chi ngân sách nhà nước theo hệ thống tổ chức nhà nước, ngành kinh tế và các mục đích kinh tế - xã hội do nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ cho công tác lập, chấp hành, kế toán, quyết toán ngân sách nhà nước và phân tích các hoạt động kinh tế, tài chính thuộc khu vực nhà nước. 3.Thu NSNN Thu ngân sách nhà nước là quyền lực của nhà nước để tập trung 1 phần thu nhập kinh tế vào tay nhà nước dể hình thành nên quỹ tiền tệ Các mục thu ngân sách nhà nước quy định trên cơ sở chế độ, chính sách thu ngân sách nhà nước. 4.Chi NSNN Chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối, sử dụng quỹ ngân sách nhà nước cho việc thực hiện các nhiệm vụ của chính phủ. Thực chất của nó là việc cung cấp các phương tiện tài chính cho các nhiệm vụ của chính sách. Các mục chi ngân sách nhà nước quy định trên cơ sở chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu ngân sách nhà nước. 5.Một số khái niệm khác: Thâm hụt ngân sách (bội chi) trong kinh tế vĩ mô và kinh tế học cộng đồng là tình trạng các khoản chi của NSNN (ngân sách chính phủ) lớn hơn các khoản thu, phần chênh lệch chính là thâm hụt ngân sách. Trường hợp ngược lại, khi các khoản thu lớn hơn các khoản chi được gọi là thặng dư NS (bội thu) NỘI DUNG CHÍNH I. Tình hình ngân sách nhà nước giai đoạn trước năm 2003 1. Chi ngân sách nhà nước  Trong những năm đầu thập niên 90, diễn biến NSNN khá thất thường. Tổng chi NSNN chiếm 20,5% GDP năm 1990 đã giảm xuống còn 15,9% năm 1992. Sau đó tăng đột ngột lên 29,4% năm 1993. Từ năm 1994, tổng chi so với GDP lại giảm liên tục, từ 29,4% (năm 1993) xuống còn 22.7% GDP (năm 1998), tương ứng với việc cắt giảm 1/5 tổng chi NSNN. Nhưng xét bình quân giai đoạn 1991-1995 đạt 24,5% GDP và khoảng 24,1% GDP giai đoạn 1996-2001 là tăng mạnh so với mức bình quân 19,7% giai đoạn 1986-1990.   Giai đoạn 1991 – 2001, chi NSNN được kết cấu lại theo hướng chi trên cả ba lĩnh vực chi đầu tư, chi thường xuyên và chi trả nợ. Trong đó, chi đầu tư phát triển, nhất là chi đầu tư xây dựng cơ bản được quan tâm. Mặc dù chi thường xuyên vẫn chiếm tỷ trọng lớn, bình quân khoảng 63,5% tổng chi NSNN, nhưng tỷ trọng chi đầu tư phát triển đã vươn lên đạt mức bình quân khoảng 25%, chi viện trợ và trả nợ chiếm hơn 11% trong tổng chi NSNN.  Đầu năm 2003 các khoản chi mới phát sinh như chi phòng chống và dập dịch SARS, chi công tác chuẩn bị SEA Games 22 và ASEAN Paragames 2, chi bổ sung khắc phục hậu quả thiên tai đã dẫn đến chi 2003 tăng 6,1% so với dự toán ban đầu và chiếm 27,3% so với GDP, trong đó chi đầu tư phát triển bằng 7,8% GDP và chi thường xuyên bằng 15,5% GDP. Cũng trong năm 2003 cải cách tiền lương khiến tổng quỹ lương nhà nước tăng 13.302 tỷ đồng so với 2002 lấy từ khoản giảm chi thường xuyên 10%, và một số nguồn khác.   Những khoản chi mang tính bao cấp không thuộc chức năng, nhiệm vụ của NSNN nhìn chung được cắt giảm đáng kể, giảm bớt gánh nặng chính đáng cho NSNN trong điều kiện mới. Đồng thời các khoản chi bao cấp cho DNNN cũng giảm đáng kể nhờ có biện pháp cổ phần hóa và kiên quyết cắt giảm chi bao cấp từ NSNN. Bên cạnh đó, ta thấy được một xu hướng mới đang hình thành. Chi đầu tư phát triển từ nguồn vốn tập trung của Nhà nước đang được dành chủ yếu cho xây dựng cơ sở hạ tầng và những khu vực khó hoặc không thu hồi được vốn. Xu hướng này tích cực, phù hợp với thực tế nước ta, cần được củng cố và tăng cường trong giai đoạn chuẩn bị bước đầu hội nhập.  2.Thu ngân sách nhà nước  Trong thời gian qua, thu ngân sách góp phần củng cố và tăng cường tiềm lực tài chính nhà nước. Thu ngân sách không những đã bảo đảm đủ nguồn thu cho chi tiêu thường xuyên của Chính phủ mà còn để dành ra một phần tích luỹ cho đầu tư phát triển. Số thu ngân sách, theo giá hiện hành, đã tăng 7,7 lần từ năm 1991 đến năm 2000. Trong đó số thu từ thuế lớn và chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu NSNN. Bình quân thu từ thuế, phí và lệ phí đạt khoảng 95% trong tổng số thu. Về quy mô, thu NSNN so với tổng GDP tăng từ 13,8% GDP năm 1991 lên đến đỉnh cao 23,3% năm 1995. Bình quân thu ngân sách giai đoạn này là 20,5% GDP. Giai đoạn 1996 – 2000, mục tiêu Đại hội Đảng đề ra là huy động 20% – 21% GDP vào NSNN thông qua thuế và phí. Nhưng thực tế thực hiện năm 1997 đạt 19,4%, năm 1998 đạt 17,7%, năm 1999 đạt 17% và năm 2000 đạt 19,4%. Và như vậy là chưa năm nào đạt mục tiêu đề ra.  Trong năm 2001-2003 cơ cấu thu NSNN đã dịch chuyển theo chiều hướng tích cực hơn, thu từ nguồn trong nước đã tăng từ 50,7% lên 52,6% so với tổng thu trong năm 2003 nhưng thu từ dầu thô, hoạt động XNK đã giảm từ 47,4% xuống còn 45,9% năm 2003. Ngoài ra do thực hiện pháp lệnh về phí và lệ phí đã bãi bỏ 140 khoản phí thuộc các bộ ngành TW và 105 khoản phí thuộc các địa phương đã làm giảm chi phí xã hội khoảng 1.000 tỷ đồng mỗi năm. Thu NSNN năm 2004 dự kiến đạt 166.900 tỷ đồng, vượt dự toán 11,8%, tăng 17,4% so với năm 2003 và tương đương 22,7% GDP. Trong số tăng thu, số tăng từ dầu thô, nhà đất chiếm tỷ trọng lớn.  3.Những thách thức trong cân đối ngân sách thời gian qua  Năm 1996 luật NSNN ra đời đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong phương pháp điều hành tài khóa. Nhìn chung chúng đã giúp cải thiện rất lớn tình hình ngân sách những năm qua. Tuy vậy, liên tiếp từ năm 1999 đến nay, bội chi ngân sách tính trên GDP tăng liên tục, năm 1999 là 4,9%; năm 2000 là 5%, điều này cũng cho thấy chính sách nới lỏng tài khóa đã được thực hiện. Nhưng xét về hình thức thì lại xuất hiện mâu thuẫn giữa tốc độ tăng chi đầu tư xây dựng cơ bản chậm, tỷ lệ giải ngân vốn còn thấp với chủ trương tăng chi ngân sách cho đầu tư phát triển nhằm kích thích tổng cầu nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng. Chính những bất cập trong lĩnh vực đầu tư và cấp phát vốn đầu tư từ NSNN đã cho thấy những dấu hiệu cảnh báo cần thận trọng khi sử dụng chính sách tài khóa nới lỏng. Tăng mức chi ngân sách cho đầu tư phát triển là chủ trương đúng, là biện pháp kinh tế có thể làm tăng tổng cầu, thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế. Nhưng bội chi tăng thêm phải được sử dụng cho những công trình có hiệu quả, tạo sản phẩm, hàng hóa dịch vụ cho nền kinh tế, vừa tích luỹ tài chính tạo nguồn để trả nợ, bù đắp bội chi; hoặc phải sử dụng bội chi để đầu tư vào những công trình xây dựng cơ bản tạo môi trường thuận lợi cho kinh doanh. Tuy nhiên, khi quan sát diễn biến thực tế chi NSNN thời gian qua chúng ta có thể nhận thấy chính sách tài khoá được điều hành dưới áp lực chống lạm phát. Do đối mặt với những khó khăn về nguồn thu, tiềm lực tài chính, tâm lý lo ngại nguy cơ giá cả tăng vọt không kiểm soát được, tình trạng lãng phí. Ngân sách đã được điều hành theo chủ trương thắt chặt chi tiêu tiến hành tiết kiệm, cắt giảm chi thường xuyên.  Trong giai đoạn 2001-2003 bội chi NSNN năm 2001 là -4,67%, sang năm 2002 có tăng đôi chút là -4,96% và trong năm 2003 là -5,0% so với GDP, như vậy mức thâm hụt ngân sách trong những năm gần đây đều nằm trong phạm vi cho phép (là mức đã được Quốc hội thông qua) và không gây mất ổn định kinh tế vĩ mô. Để bù đắp cho các khoản thiếu hụt này Chính phủ đã vay nợ trong nước bằng cách phát hành trái phiếu Chính phủ chủ yếu khoảng 60% và bù đắp bội chi từ bên ngoài ở mức xấp xỉ 39%-40%. Bên cạnh việc đạt được những kết quả tích cực, thu chi NSNN vẫn còn không ít tồn tại, cần có những thay đổi cơ bản.  ° Tình trạng thất thu còn khá phổ biến, hiệu quả kiểm soát nguồn thu ngân sách còn hạn chế. Thu NSNN vẫn còn phụ thuộc nhiều vào các biến động theo thị trường thế giới như dầu thô và hoạt động xuất nhập khẩu. Theo những đánh giá của IMF, hoạt động ngân sách trong một số năm nay là tích cực, ngoài ra, do có nguồn thu lớn từ dầu thô cho nên vị thế về trung hạn của ngân sách là có thể kiểm soát được, miễn là hoạt động cho vay lại và các khoản nợ nằm ngoài ngân sách được kiểm soát chặt chẽ.Tuy nhiên trong năm gần đây cũng ghi nhận những chuyển biến, theo đó cơ chế quản lý tài chính được sửa đổi theo hướng minh bạch và tăng cường tự chủ tài chính, gắn trách nhiệm của đơn vị sử dụng ngân sách, tạo cơ sở cho việc đổi mới cơ chế quản lý tài chính công trong những năm tới. ° Việc hoàn thuế và kiểm tra hoàn thuế còn nhiều bất cập. Vấn đề không hoàn thành các mục tiêu đề ra là cần phải xem xét. Như vậy, trong bối cảnh tiến hành hội nhập với những biến động phức tạp của thị trường thế giới thì đây là dấu hiệu cảnh báo về quản lý NSNN. Nguồn thu ngân sách qua các năm không ổn định và Thực hiện công khai, minh bạch toàn bộ hoạt động đầu tư từ nguồn vốn NSNN là một giải pháp cấp bách trong quá trình hội nhập. Nhất là khi đường lối chủ động hội nhập quốc tế và lộ trình cắt giảm thuế quan được công khai.  ° Bên cạnh những nhiệm vụ chi thực hiện sát với dự toán, một số nhiệm vụ chi tăng so với dự toán là cần thiết như tăng chi sự nghiệp kinh tế để khắc phục hậu quả thiên tai; hỗ trợ nông dân khắc phục hậu quả của dịch bệnh cúm gia cầm và khôi phục sản xuất chăn nuôi; tăng chi đầu tư phát triển; một số địa phưng đã chủ động bố trí vốn trong dự toán ngân sách năm 2004 để thanh toán nợ xây dựng cơ bản… Tuy nhiên, những tồn tại trong quản lý ngân sách còn lớn như nhiều địa phương bố trí vốn còn phân tán; sử dụng ngân sách lãng phí; việc sử dụng vốn trái phiếu chính phủ, công trái xây dựng trường, lớp học chưa hiệu quả, vốn huy động phi lãi suất chưa được sử dụng kịp thời, thường xuyên bị tồn đọng ở mức lớn.  ° Chi đầu tư xây dựng cơ bản còn dàn trải, sử dụng vốn đầu tư kém hiệu quả, tỷ lệ thất thoát lớn khi mà nợ xây dựng cơ bản từ nguồn vốn NSNN cao là vấn đề ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển kinh tế – xã hội và kết quả cân đối ngân sách nhưng vẫn chậm được xử lý.  II. Tình hình ngân sách nhà nước giai đoạn 2004- 2006: 1. Tổng kết thu chi ngân sách nhà nước 2004: Năm 2004, cả nước sẽ “thu” 152.920 tỉ đồng Theo quyết định của Quốc hội (QH), trong năm 2004 tổng số thu cân đối ngân sách trung ương là 107.777 tỉ đồng, chiếm 70,5% tổng số thu cân đối ngân sách nhà nước; tổng số thu cân đối ngân sách địa phương là 45.143 tỉ đồng, chiếm 29,5% tổng số thu cân đối ngân sách nhà nước. Tổng số chi cân đối ngân sách T.Ư là 142.527 tỉ đồng. Sau khi bổ sung cân đối, bổ sung có mục tiêu cho ngân sách địa phương thì tổng số thực chi cân đối ngân sách T.Ư là 106.890 tỉ đồng, chiếm 57% tổng số chi cân đối ngân sách nhà nước. Tổng số thực chi cân đối ngân sách các địa phương (bao gồm cả bổ sung từ ngân sách T.Ư cho ngân sách địa phương) là 80.780 tỉ đồng, chiếm 43% tổng số chi cân đối ngân sách nhà nước. Chi 6.600 tỉ cho cải cách tiền lương Dự toán chi ngân sách T.Ư (kể cả bằng nguồn vay nợ, viện trợ) theo lĩnh vực năm 2004 như sau: tổng số chi cân đối ngân sách T.Ư 142.527 tỉ đồng. Trong đó chi ĐTXDCB 28.992 tỉ đồng; chi bổ sung quĩ hỗ trợ xuất khẩu, thưởng xuất khẩu, hỗ trợ xuất khẩu cho một số mặt hàng quan trọng 300 tỉ đồng; chi cho vay tôn nền nhà và làm nhà ở đồng bằng sông Cửu Long, cho vay làm nhà đồng bào Tây nguyên 300 tỉ đồng. Đầu tư cho Tổng công ty Dầu khí 2.500 tỉ đồng; chương trình 135: 1.550 tỉ. Chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh: 48.529 tỉ đồng. Trong đó, chi cải cách tiền lương: 6.600 tỉ, quản lý hành chính 3.154 tỉ, tinh giản biên chế: 300 tỉ; chi giáo dục, đào tạo, dạy nghề: 4.558 tỉ; chi phát thanh, truyền hình: 493 tỉ; chi khoa học, công nghệ: 1.732 tỉ; chi lương hưu và bảo đảm xã hội: 14.262 tỉ đồng. 2. Tổng kết thu chi ngân sách nhà nước 2005: So với kết quả tạm tính vào cuối năm 2005, báo cáo mới đây của Chính phủ cho biết, tình hình cân đối thu chi ngân sách đầy đủ của năm 2005 và cả nhiệm vụ ngân sách Nhà nước năm 2006 đã có những dấu hiệu tích cực trên nhiều mặt. Trên cơ sở cân nhắc kết quả, khả năng và tình hình mới, Chính phủ đã đề nghị tăng nhiều khoản thu chi trong quyết toán, nhiệm vụ ngân sách Nhà nước trong giai đoạn tới.Theo báo cáo, kết quả thực
Luận văn liên quan