Cơ hội và thách thức của các doanh nghiệp vừa và nhỏ khi Việt Nam gia nhập WTO

Nền kinh tế Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế thế giới. Đặc biệt là từ khi Việt Nam gia nhập WTO( Việt Nam gia nhập WTO vào ngày 7/11/2006) đã đặt ra cho các doanh nghiệp Việt Nam rất nhiều những cơ hội lớn, hướng tới sự hội nhập và phát triển toàn diện sánh vai cùng với các cường quốc trên thế giới hiện nay. Nhưng đồng thời với các cơ hội đó các doanh nghiệp Việt Nam cũng gặp rất nhiều thách thức. Trong không ít những thách thức mà các doanh nghiệp Việt Nam gặp phải đó chúng ta phải kể đến ở đây đó là sự xâm nhập của các công ty nước ngoài vào nước ta, cùng với sự xâm nhập này kéo theo sự cạnh tranh khốc liệt của các công ty nước ngoài này nhằm tìm chỗ đứng cho mình tại thị trường Việt Nam. Nếu các doanh nghiệp Việt Nam không có những chiến lược đúng đắn thì với xu thế hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam rất có thể sẽ bị đánh bật ta khỏi thị trường trong nước và nhường chỗ cho các công ty nước ngoài. Hiện nay theo số liệu của tổng cục thống kê cho thấy các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam đang chiếm tới 90% số lượng cơ sở sản xuất kinh doanh của cả nước, 25% tổng đầu tư của xã hội và khoảng 77% lực lượng lao động phi nông nghiệp. Như vậy chúng ta có thể thấy các doanh nghiệp vừa và nhỏ là một nhân tố quan trọng đưa nền kinh tế ngày càng phát triển. Trong xu thế này Đảng và nhà nước ta phải quan tâm hơn nữa tới các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hãy cùng tìm hiểu xem hiện nay các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam đang có những cơ hội nào? Và gặp phải những thách thức gì? để từ đó chúng ta mới có những chiến lược đúng đắn cho sự phát triển của các doanh nghiệp này nhằm giúp cho doanh nghiệp vừa và nhỏ nước ta có thể đứng vững khi hội nhập. Chúng ta hãy tìm hiểu và phân tích: “Cơ hội và thách thức của các doanh nghiệp vừa và nhỏ khi Việt Nam gia nhập WTO ”

doc22 trang | Chia sẻ: lvbuiluyen | Ngày: 15/12/2012 | Lượt xem: 4746 | Lượt tải: 11download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Cơ hội và thách thức của các doanh nghiệp vừa và nhỏ khi Việt Nam gia nhập WTO, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI MỞ ĐẦU Nền kinh tế Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế thế giới. Đặc biệt là từ khi Việt Nam gia nhập WTO( Việt Nam gia nhập WTO vào ngày 7/11/2006) đã đặt ra cho các doanh nghiệp Việt Nam rất nhiều những cơ hội lớn, hướng tới sự hội nhập và phát triển toàn diện sánh vai cùng với các cường quốc trên thế giới hiện nay. Nhưng đồng thời với các cơ hội đó các doanh nghiệp Việt Nam cũng gặp rất nhiều thách thức. Trong không ít những thách thức mà các doanh nghiệp Việt Nam gặp phải đó chúng ta phải kể đến ở đây đó là sự xâm nhập của các công ty nước ngoài vào nước ta, cùng với sự xâm nhập này kéo theo sự cạnh tranh khốc liệt của các công ty nước ngoài này nhằm tìm chỗ đứng cho mình tại thị trường Việt Nam. Nếu các doanh nghiệp Việt Nam không có những chiến lược đúng đắn thì với xu thế hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam rất có thể sẽ bị đánh bật ta khỏi thị trường trong nước và nhường chỗ cho các công ty nước ngoài. Hiện nay theo số liệu của tổng cục thống kê cho thấy các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam đang chiếm tới 90% số lượng cơ sở sản xuất kinh doanh của cả nước, 25% tổng đầu tư của xã hội và khoảng 77% lực lượng lao động phi nông nghiệp. Như vậy chúng ta có thể thấy các doanh nghiệp vừa và nhỏ là một nhân tố quan trọng đưa nền kinh tế ngày càng phát triển. Trong xu thế này Đảng và nhà nước ta phải quan tâm hơn nữa tới các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hãy cùng tìm hiểu xem hiện nay các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam đang có những cơ hội nào? Và gặp phải những thách thức gì? để từ đó chúng ta mới có những chiến lược đúng đắn cho sự phát triển của các doanh nghiệp này nhằm giúp cho doanh nghiệp vừa và nhỏ nước ta có thể đứng vững khi hội nhập. Chúng ta hãy tìm hiểu và phân tích: “Cơ hội và thách thức của các doanh nghiệp vừa và nhỏ khi Việt Nam gia nhập WTO ” Doanh nghiệp vừa và nhỏ là người Việt Nam. Họ là những người sẽ ở lại Việt Nam - dù thành công hay thất bại. Doanh nghiệp vừa và nhỏ là nơi đang tạo ra đa số công ăn việc làm cho những người lao động ở Việt Nam. Là những nhà quản trị trong tương lai chúng ta phải biết phân tích được cơ hội và thách thức cho những doanh nghiệp vừa và nhỏ này khi Việt Nam gia nhập WTO để từ đó đưa ra những chiến lược phát triển hợp lý cho những doanh nghiệp này giúp cho nền kinh tế của ta ngày càng lớn mạnh hơn nữa. NỘI DUNG Tìm hiểu chung về WTO và các doanh nghiệp vừa và nhỏ Tổng quan về WTO Tổ chức thương mại thế giới (WTO) là tổ chức quốc tế duy nhất dàn xếp các quy định mang tính toàn cầu về thương mại giữa các quốc gia với nhau. Sự thoả thuận của WTO là trung tâm của nó, bởi nó được đàm phán và kí kết bởi số đông các quốc gia và được thông qua bởi các quốc hội. Mục tiêu là để giúp các nhà sản xuất hàng hoá và dịch vụ, các hàng xuất khẩu và nhập khẩu quản lí công việc kinh doanh của họ . Trụ sở WTO: Geneva, Thụy Sỹ Thành lập vào ngày 01 tháng 01 năm 1995, sau Vòng đàm phán Uruguay (1986-1994) Thành viên: có 151 thành viên (tính đến ngày 27 tháng 7 năm 2007) và 30 quan sát viên Ngân sách: 182 triệu francs Thụy Sỹ cho năm 2007 WTO điều tiết 85% hàng tiêu dùng toàn cầu, chiếm trên 93% tổng giao dịch thương mại thế giới Ban thư ký: 625 người Tổng giám đốc: ông Pascal Lamy WTO được thành lập trên cơ sở kế thừa và mở rộng phạm vi điều tiết thương mại quốc tế theo Hiệp định chung về Thuế quan Thương mại (tên tiếng Anh thương mại là: General Agreement on Tarif and Trade - Viết tắt là GATT) GATT ra đời trong trào lưu hình thành hàng loạt cơ chế đa biên điều tiết các hoạt động hợp tác kinh tế diễn ra sôi nổi sau chiến tranh thế giới thứ II năm 1945. 23 nước tham gia sang lập GATT cùng một số nước khác tham gia hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và việc làm ( từ 11/1947 – 23/4/1948 ) và xây dựng dự thảo hiến chương LAHAVANA nhằm thành lập tổ chức Thương Mại Quốc Tế (tên tiếng Anh là: international Trade Oganization viết tắt là ITO) với tư cách là cơ quan chuyên môn của Liên Hợp Quốc. Để từ đây hình thành những nguyên tắc thể lệ nhằm điều tiết các lĩnh vực thương mại hàng hoá lao động. ITO đã được thoả thuận nhưng có 1 số quốc gia không phê chuẩn nên đã không thành lập được. Tuy nhiên các nước trong nhóm đã cùng nhau tổ chức nhiều cuộc đàm phán về thuế quan và các biện pháp bảo hộ mậu dịch trong bối cảnh thương mại lúc bấy giờ . Ngay cuộc đàm phán đầu tiên đã đạt được kết quả: 45000 dòng thuế ưu đãi được áp dụng cho các bên đàm phán chiếm khoảng 1/5 giao dịch thương mại thế giới lúc bấy giờ. Từ kết quả đó các nước kí hiệp định chung về thương mại (GATT). Mặc dù GATT là là một hiệp định tạm thời song nó đã tồn tại gần nửa thế kỉ (1948-1994). Thương mại quốc tế không ngừng phát triển nên GATT đã mở rộng diện hoạt động.Các đàm phán không chỉ tập trung vào thuế quan mà còn tập trung xây dựng các hiệp định để hình thành các chuẩn mực nhằm điều tiết các vấn để về hàng rào phi thuế quan, thương mại dịch vụ, các vấn đề về quyền sở hữu trí tuệ, các biện pháp đầu tư có lien quan đến thương mại, cơ chếư giả quyết tranh chấp. Do diện điều tiết đa biên được mở rộng nên Hiệp định chung về Thuế quan vàThương mại (GATT) tỏ ra không còn thích hợp. Ngày 15/4/1994 tại Mar-ra-ket ( Ma- rốc), các thành viên của GATT đã cùng nhau ký Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Như vậy, WTO chính thức được thành lập và độc lập với Liên Hợp Quốc. Hiện nay Tổ chức Thương mại thế giới gồm 151 thành viên là các quốc gia và vùng lãnh thổ. Hầu như thành viên WTO là thành viên của Liên hợp quốc (Liên hợp quốc có 192 thành viên). Cơ cấu tổ chức của WTO 2.1. Cơ quan ra quyết định cao nhất của WTO là Hội nghị Bộ trưởng – HNBT (Ministerial Conference), họp ít nhất là 2 năm một lần. HNBT có quyền quyết định mọi vấn đề phát sinh từ các hiệp định. HNBT lần đầu tiên họp ở Singapore năm 1996 lập thêm 3 nhóm làm việc về quan hệ thương mại và đầu tư, quan hệ thương mại và cạnh tranh, và tính minh bạch trong mua sắm của chính phủ. HNBT lần hai họp năm 1998 ở Geneva đã quyết định WTO phải nghiên cứu thêm về thương mại điện tử. HNBT lần ba được tổ chức vào ngày 30 tháng 11 đến 03 tháng 12 năm 1999 tại Seattle HNBT lần tư tại Doha được tổ chức vào ngày 9-13 tháng 11 năm 2001. HNBT lần năm được tổ chức vào ngày 10-14 tháng 09 năm 2003 tại Canam, Mexico. 2.2. Giữa hai kỳ Hội nghị Bộ trưởng, các công việc được điều hành bởi Đại Hội đồng, gồm các đại sứ hay trưởng phái đoàn của tất cả các nước thành viên tại Geneva, mỗi năm họp một vài lần tại Geneva. Đại Hội đồng còn có vai trò là Cơ quan giám sát chính sách thương mại và Cơ quan giải quyết tranh chấp. Đại hội đồng hành động nhân danh HNBT và chịu trách nhiệm trước HNBT. 2.3. Cấp thứ ba là các Hội đồng về nhiều lĩnh vực khác nhau: Hội đồng về Thương mại hàng hoá (Goods Council), Hội đồng về Thương mại dịch vụ (Services Council), và Hội đồng về Những vấn đề liên quan đến Sở hữu trí tuệ có liên quan đến thương mại (TRIPS Council) Các Hội đồng này chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng. Như tên gọi của mình, các Hội đồng này làm việc trên các Hiệp định của các lĩnh vực này. Các hội đồng này cũng bao gồm các thành viên của WTO. Ngoài ra, còn có 6 Uỷ ban chuyên trách hay nhóm làm việc liên quan đến từng hiệp định hay lĩnh vực riêng lẻ như Thương mại và Phát triển; theo dõi các hoạt động hạn chế thương mại được tiến hành nhằm cân đối các mục đích chi trả; theo dõi các hiệp định thương mại trong khu vực; hợp tác trong môi trường đầu tư; và công tác tài chính cũng như quản trị của WTO. Những hội đồng, ủy ban hay nhóm này cũng bao gồm đại diện của tất cả các thành viên và chịu trách nhiệm trước Đại Hội đồng. 2.4. Cấp thứ tư là các Tiểu ban trực thuộc Đại Hội đồng và các Hội đồng. Các Tiểu ban này chịu trách nhiệm điều hành việc thực thi Hiệp định WTO về từng lĩnh vực thương mại tương ứng. Tham gia các Hội đồng là đại diện của các thành viên. Hội đồng Hàng hóa có 11 Tiểu ban điều hành các công việc chuyên biệt (như nông nghiệp, tiếp cận thị trường, các biện pháp chống bán phá giá và trợ cấp…). Ngoài ra, Hội đồng Hàng hóa còn có Cơ quan giám sát hàng dệt bao gồm 1 Chủ tịch, 10 thành viên và các nhóm chuyên biệt khác phụ trách các thông báo, các công ty thương mại quốc gia. Hội đồng Dịch vụ gồm có các TiÓu ban về dịch vụ tài chính, các Tiểu ban về các cam kết cụ thể. Cơ quan Giải quyết tranh chấp của Đại hội đồng có hai tiểu ban là các hội đồng chuyên gia được chỉ định giải quyết tranh chấp và cơ quan xét xử kháng cáo. 2.5. Đoàn thư ký của WTO gồm trên 600 nhân viên, đứng đầu là một Tổng thư ký, toàn bộ văn phòng đóng ở Geneva. Việc ra các quyết định đều do các nước thành viên đảm trách, do đó Đoàn Thư ký không có thẩm quyền ra quyết định. Nhiệm vụ chính của Đoàn Thư ký là cung ứng kỹ thuật cho các Hội đồng, Uỷ ban và Hội nghị Bộ trưởng, hỗ trợ kỹ thuật cho các nước đang phát triển, phân tích tình hình thương mại thế giới và giải thích các công việc của WTO cho công chúng và báo chí, truyền thông. Đoàn thư ký cũng trợ giúp về pháp lý cho việc giải quyết tranh chấp và tư vấn cho các chính phủ muốn gia nhập WTO. 2.6. Phần lớn các quyết định của WTO đều được thông qua trên cơ sở đồng thuận. Trong một số trường hợp nhất định, khi không đạt được sự đồng thuận, các thành viên có thể tiến hành bỏ phiếu. Khác với nhiều tổ chức khác, mỗi thành viên WTO chỉ có quyền bỏ một phiếu và các phiếu bầu của các thành viên có giá trị ngang nhau. Các quốc gia có lãnh thổ tự chủ về chính sách thương mại đều có thể gia nhập WTO với điều kiện thông thường là tất cả các thành viên chấp nhận. Khi không thể đạt được đồng thuận, việc kết nạp có thể chỉ cần 2/3 phiếu bầu Cơ chế trong các hoạt động của WTO: - Ra quyết định ( Khi sửa đổi bổ sung nguyên tắc Tối huệ quốc, nguyên tắc Đãi ngộ quốc gia phải được chấp thuận của tất cả các thành viên. Khi thông qua giải thích về các điều khoản của Hiệp định WTO và các hiệp định đa biên hay cho phép một số nước miễn thực hiện một nghĩa vụ nào đó phải được 3/4 số phiếu thuận. Khi sửa đổi các điều khoản khác trong các hiệp định thương mại đa phương phải được 2/3 số phiếu thuận.) - Giải quyết tranh chấp ( Cơ chế này được xây dựng trên nguyên tắc: Công bằng, nhanh chóng, hiệu quả và chấp nhận được. Cấm đơn phương áp dụng các biện pháp trừng phạt) - Rà soát chính sách thương mại ( Thực hiện theo nguyên tắc các nước có vị trí quan trọng trong thương mại quốc tế thì phải được rà soát thường xuyên hơn các nước thành viên khác). Ngoài ra WTO còn có một số biện pháp ngoại lệ trong thương mại như chống bán phá giá, trợ cấp và thuế đối kháng, các biện pháp khẩn cấp tạm thời hạn chế nhập khẩu nhằm cứu vãn các ngành sản xuất kinh doanh trong nước Nguyên tắc cơ bản của WTO 4.1. Nguyên tắc thứ nhất : Không phân biệt đối xử Mỗi thành viên sẽ dành cho sản phÈm của một thành viên khác đối xử không kém ưu đãi hơn đối xử mà thành viên đó dành cho sản phẩm của một nước thứ ba (Đãi ngộ Tối huệ quốc-MFN) Mỗi thành viên sẽ không dành cho sản phẩm của công dân nước mình đối xử ưu đãi hơn so với sản phÈm của người nước ngoài (Đãi ngộ quốc gia-NT) 4.2. Nguyên tắc thứ hai : Thương mại phải ngày càng được tự do hơn thông qua đàm phán Các hàng rào cản trở thương mại dần dần được loại bỏ, cho phép các nhà sản xuất hoạch định chiến lược kinh doanh dài hạn có thời gian điều chỉnh, nâng cao sức cạnh tranh hoặc chuyển đổi cơ cấu. Mức độ cắt giảm các hàng rào bảo hộ được thoả thuận thông qua các cuộc đàm phán song phương và đa phương. 4.3. Nguyên tắc thứ ba : Dễ dự đoán Các nhà đầu tư cũng như chính phủ nước ngoài tin chắc rằng hàng rào thương mại (thuế quan và phi thuế quan khác) sẽ không bị tăng một cách tuỳ tiện. Cam kết về thuế quan và các biện pháp khác bị "ràng buộc" về mặt pháp lý. 4.4. Nguyên tắc thứ tư : Tạo ra môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng Hạn chế tác động tiêu cực của các biện pháp cạnh tranh không bình đẳng như bán phá giá, trợ cấp hay dành các đặc quyền cho một số doanh nghiệp nhất định. 4.5. Nguyên tắc thứ năm : Dành cho các thành viên đang phát triển một số ưu đãi Các ưu đãi này được thể hiện thông qua việc cho phép các thành viên đang phát triển một số quyền và không phải thực hiện một số quyền và không phải thực hiện một số nghĩa vụ hay thời gian quá độ dài hơn để điều chỉnh chính sách. Các mục tiêu của WTO: - Thúc đẩy tăng trưởng thương mại hàng hoá và dịch vụ trên thế giới phục vụ cho sự phát triển ổn định, bền vững và bảo vệ môi trường. - Thúc đẩy sự phát triển các thể chế thị trường, giải quyết các bất đồng và tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên trong khuôn khổ của hệ thống thương mại đa phương, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của Công pháp quốc tế; bảo đảm cho các nước đang phát triển và đặc biệt là các nước kém phát triển nhất được hưởng thụ những lợi ích thực sự từ sự tăng trưởng của thương mại quốc tế, phù hợp với nhu cầu phát triÓn kinh tế của các nước này và khuyến khích các nước này ngày càng hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới. - Nâng cao mức sống, tạo công ăn, việc làm cho người dân các nước thành viên, bảo đảm các quyền và tiêu chuẩn lao động tối thiểu được tôn trọng. WTO thực hiện các chức năng: Mục đích bao trùm của WTO là làm cho thương mại hoạt động thông suốt, tự do, công bằng và tiên đoán được. Để đạt mục đích đó, WTO có những chức năng sau đây: - Thống nhất quản lý việc thực hiện các hiệp định và thoả thuận thương mại đa phương và nhiều bên; giám sát, tạo thuận lợi, kể cả trợ giúp kỹ thuật cho các nước thành viên thực hiện các nghĩa vụ thương mại quốc tế của họ. - Là khuôn khổ thể chế để tiến hành các diễn đàn đàm phán thương mại đa phương trong khuôn khổ WTO, theo quyết định của Hội nghị Bộ trưởng WTO.  - Là cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các nước thành viên liên quan đến việc thực hiện và giải thích Hiệp định WTO và các hiệp định thuơng mại đa phương và nhiều bên. - Là cơ chế kiểm điểm hay giám sát chính sách thương mại của các quốc gia là thành viên, bảo đảm thực hiện mục tiêu thúc đẩy tự do hoá thương mại và tuân thủ các quy định của WTO . - Hỗ trợ các nước đang phát triển về chính sách thương mại, thông qua các chương trình hỗ trợ kỹ thuật và huấn luyện, đào tạo... - Thực hiện việc hợp tác với các tổ chức kinh tế quốc tế khác như Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới trong viêc hoạch định những chính sách và dự báo về những xu hướng phát triển tương lai của kinh tế toàn cầu. Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Doanh nghiệp vừa và nhỏ được viết tắt là SME Doanh nghiệp vừa và nhỏ “là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”, cho thấy, tuyệt đại đa số doanh nghiệp của chúng ta nằm trong “bảng”. Xác định tầm quan trọng của doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với phát triển kinh tế đất nước theo xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, 5 năm trở lại đây, Chính phủ đã có nhiều chính sách, giải pháp lớn nhằm phát huy đến mức cao nhất hiệu quả hoạt động, sức cạnh tranh cũng như tiềm năng của loại hình kinh tế này. Có thể thấy rõ, hệ thống pháp luật, môi trường kinh doanh đang dần được cải thiện và ngày càng có chuyển động tích cực. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày càng được hưởng nhiều chính sách ưu đãi và bình đẳng hơn, tình trạng phân biệt, đối xử so với các DNNN giảm nhiều. Đặc biệt, ở một số yếu tố quan trọng, có tính chất sống còn với sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ như việc tiếp cận với các nguồn vốn, công nghệ, đất đai, lao động, thông tin thị trường đã được mở thông thoáng hơn rất nhiều so với những năm trước đây. Cơ hội và thách thức của các doanh nghiệp vừa mà nhỏ khi Việt Nam gia nhập WTO. Như chúng ta đã biết Việt Nam gia nhập WTO vào ngày 7/11/2006. Khi chúng ta tham gia hội nhập cơ hội quan trọng giao lưu các luồng hàng hoá giữa các quốc gia khác được đẩy mạnh kéo theo luồng vốn đầu tư giao lưu cũng được đẩy mạnh từ đó đẫn đến luồng chuyển giao kỹ thuật công nghệ và lao động cũng được đẩy mạnh. Chúng ta hãy tìm hiểu về những cơ hội khi Việt Nam ra nhập WTO cho những doanh nghiệp vừ và nhỏ. Cơ hội Một là: khi gia nhập WTO, Việt Nam được tiếp cận thị trường hàng hoá và dịch vụ ở tất cả các nước thành viên với mức thuế nhập khẩu đã được cắt giảm và các ngành dịch vụ, không bị phân biệt đối xử. Theo kết quả điều tra của Tổng cục Thống kê cho thấy, các SME hiện đang chiếm tới 99% số lượng cơ sở sản xuất kinh doanh của cả nước, 25% tổng đầu tư xã hội và thu hút khoảng 77% lực lượng lao động phi nông nghiệp. Hầu hết các sản phẩm của SME của Việt Nam có giá thành cao, khối lượng nhỏ lẻ, tiêu thụ ở thị trường nội địa nên rất khó thâm nhập vào các thị trường nước ngoài nếu bị đánh thuế cao hoặc bị giới hạn bằng hạn ngạch. Do đó, khi các hàng rào thuế quan và phi thuế quan bị thu hẹp lại hoặc được rỡ bỏ, các sản phẩm của các SME sẽ dễ dàng vào các thị trường nước ngoài hơn, nhờ đó sẽ khai thác được lợi thế lao động rẻ. Trong những năm vừa qua, có tới trên 80% các nguyên liệu đầu vào cho sản xuất của các SME chủ yếu từ nhập khẩu. Mặt khác, do hạn chế về năng lực tài chính nên các SME rất khó nhập khẩu trực tiếp từ các đối tác nước ngoài, đồng thời các doanh nghiệp này cũng không thể dự trữ được nhiều nguyên vật liệu nhập khẩu nên nguyên liệu thường phải mua lại từ các cơ sở đại lý, do đó đã làm tăng chi phí sản xuất và rất khó nắm bắt được nhu cầu của khách hàng nước ngoài. Hội nhập WTO khiến cho hàng hoá nước ngoài sẽ tràn vào Việt Nam với giá rẻ và phong phú hơn, nhờ đó sẽ làm giảm sức ép về nguyên liệu ngoại nhập và các SME cũng sẽ biết được nhu cầu của thị trường thế giới do được tiếp xúc trực tiếp với các nhà phân phối của nước ngoài. Hai là: Với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện công khai minh bạch các thiết chế quản lý theo quy định của WTO, môi trường kinh doanh của Việt Nam ngày càng được cải thiện. Khi thực hiện các cam kết khi gia nhập WTO của Việt Nam, tính minh bạch trong quản lý của các cơ quan, tổ chức hữu trách đối với các SME cũng sẽ được nâng cao. Mặt khác, hiện tượng phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp Nhà nước với các SME (chủ yếu là khu vực tư nhân) sẽ không còn, nên các SME sẽ thuận lợi hơn trong việc tiếp cận với các nguồn lực tài chính, gia nhập thị trường, hỗ trợ kinh doanh. Xét về dài hạn, trước áp lực cạnh tranh, các SME sẽ phải tích cực nâng cao năng lực quản lý, đổi mới công nghệ, chú trọng sử dụng nguồn nhân lực có chất lượng và cải thiện văn hoá doanh nghiệp, nhờ đó phát triển doanh nghiệp bền vững hơn trong môi trường cạnh tranh quốc tế. Nhà nước nên hướng các doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư vào mặt mạnh của Việt Nam - đó là con người.  Dân số trẻ và thông minh là điểm rất mạnh của người Việt Nam. Việc đầu tiên là phổ cập tiếng Anh và phổ cập Internet.  Sau đó, tuỳ từng khu vực (lao động trình độ cao và trình độ trung bình) mà Nhà nước cần có những định hướng khác nhau. Đối với lao động trình độ trung bình, cần đẩy mạnh xuất khẩu lao động và đưa người Việt Nam ra nước ngoài để học tập và kiếm thu nhập và khởi nghiệp, đồng thời giáo dục đạo đức, văn hoá, văn minh cho người Việt Nam trước khi ra nước ngoài.  Khi người Việt đã trở thành một cộng đồng đông dân khắp năm châu, họ sẽ là đầu cầu đề các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam vươn ra thế giới. Đối với lao động trình độ cao, cần tạo ra cạnh tranh trong ngành giáo dục để các trường trong nước sớm đuổi kịp các nước trong khu vực ít nhất là về chương trình đào tạo, sau đó là về nghiên cứu khoa học. Ngân sách nhà nước trong ngành giáo dục phải gắn với điều kiện cải tiến phương pháp và chương trình giảng dạy. Trường nào không chịu thay đổi nhất quyết phải bị cắt giảm ngân sách. Sau đó,  trong các trường nên tạo ra các vườn ươm doanh nghiệp (incubator) để sinh viên ra trường có thể trở thành chủ doanh nghiệp, cũng như các trung tâm xúc tiến thương mại hoá nghiên cứu khoa học giữa các trường đại học và các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ba là: Gia nhập WTO, Việt Nam có được vị thế bình đẳng như các thành viên khác t
Luận văn liên quan