Đề tài Bước đầu khảo sát ngôn ngữ giới tính của trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo trong mối tương quan địa lý giữa thành thị - Nông thôn

Vấn đề ngôn ngữ trẻ em được đề cập đến từ năm 1913 nhưng phải đến tận đầu những năm 70 nó mới thực sự thu hút được sự chú ý của các nhà khoa học. Các công trình về giới ngữ tập trung và ợ khác nhau giữa ngôn ngữ trẻ em nam và nữ ở hai góc độ sinh học và xã hội, tuỳ thuộc vào từng giai đoạn, từng vùng địa lý mà sự khác biệt này nhiều hay ít. Ở Việt Nam vấn đề nghiên cứu ngôn ngữ trẻ em tương đối mới so với thế giới. Trong bài “Sự bộc lộ giới tính trong giao tiếp ngôn ngữ” PGS.TS Nguyễn Văn Khang đã nhận xét “Ngôn ngữ ở các cháu trai và cháu gái hầu như giống nhau. Giới tính được thể hiện trong ngôn ngữ của các cháu thiên về nữ”. Đây được coi là công trình nghiên cứu đầu tiên trực tiếp bàn đến vấn đề này. Hiện nay nền kinh tế xã hội Việt Nam phát triển vượt xa những năm 70-80. Vậy ngôn ngữ giới tính của trẻ mẫu giáo có gì thay đổi? Giữa thành thị và nông thôn có sự khác biệt không? Bài tiểu luận này bước đầu khảo sát ngôn ngữ của trẻ trong hoạt động giao tiếp ở gia đình, nhà trường và một số nơi khác tại địa bàn Hà Nội, các vùng nông thôn Hải Dương và Hà Tây.

doc22 trang | Chia sẻ: ngtr9097 | Ngày: 01/06/2013 | Lượt xem: 1540 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Bước đầu khảo sát ngôn ngữ giới tính của trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo trong mối tương quan địa lý giữa thành thị - Nông thôn, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Bước đầu khảo sát ngôn ngữ giới tính của trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo trong mối tương quan địa lý giữa thành thị - nông thôn LỜI MỞ ĐẦU Vấn đề ngôn ngữ trẻ em được đề cập đến từ năm 1913 nhưng phải đến tận đầu những năm 70 nó mới thực sự thu hút được sự chú ý của các nhà khoa học. Các công trình về giới ngữ tập trung và ợ khác nhau giữa ngôn ngữ trẻ em nam và nữ ở hai góc độ sinh học và xã hội, tuỳ thuộc vào từng giai đoạn, từng vùng địa lý mà sự khác biệt này nhiều hay ít. Ở Việt Nam vấn đề nghiên cứu ngôn ngữ trẻ em tương đối mới so với thế giới. Trong bài “Sự bộc lộ giới tính trong giao tiếp ngôn ngữ” PGS.TS Nguyễn Văn Khang đã nhận xét “Ngôn ngữ ở các cháu trai và cháu gái hầu như giống nhau. Giới tính được thể hiện trong ngôn ngữ của các cháu thiên về nữ”. Đây được coi là công trình nghiên cứu đầu tiên trực tiếp bàn đến vấn đề này. Hiện nay nền kinh tế xã hội Việt Nam phát triển vượt xa những năm 70-80. Vậy ngôn ngữ giới tính của trẻ mẫu giáo có gì thay đổi? Giữa thành thị và nông thôn có sự khác biệt không? Bài tiểu luận này bước đầu khảo sát ngôn ngữ của trẻ trong hoạt động giao tiếp ở gia đình, nhà trường và một số nơi khác tại địa bàn Hà Nội, các vùng nông thôn Hải Dương và Hà Tây. PHẦN NỘI DUNG I. NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Ngôn ngữ học xã hội là gì? Ngôn ngữ học xã hội là một bộ môn khoa học ra đời phát triển mạnh ngay từ đầu những năm 60 của thế kỷ XX. Từ đó đến nay nó thu hút sự quan tâm của nhiều nhà ngôn ngữ họ, đồng thời khẳng định vị trí của nó trong ngành ngôn ngữ. Hai nhà ngôn ngữ học người Mỹ J.B. Bride và Janet. Holmes đã nhận xét: “vị trí của ngôn ngữ học xã hội rất quan trọng và rất phức tạp”. Điều này làm cho ngôn ngữ học xã hội trở thành mảnh đất nghiên cứu của các chuyên gia thuộc nhiều ngành khoa học. Tuy nhiên xung quanh vấn đề ngôn ngữ học xã hội là gì? có rất nhiều ý kiến tranh luận nhưng nhìn chung thống nhất theo 2 cách hiểu: + Hiểu theo nghĩa hẹp: Ngôn ngữ học xã hội là một bộ môn khoa học nghiên cứu mối quan hệ về sự biến đổi ngôn ngữ trong cách sử dụng với các bối cảnh cụ thể (bối cảnh này rộng hay hẹp còn tuỳ thuộc vào việc chọn đối tượng nghiên cứu của các nhà khoa học). + Hiểu theo nghĩa rộng: ngôn ngữ học xã hội là một môn khoa học xuất phát từ góc độ xã hội (như nhân chủng học, xã hội học, dân tộc học, địa lý, lịch sử…) để khảo sát ngôn ngữ. Như vậy tuỳ theo mục đích nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội của từng cá nhân từng nhóm xã hội… mà người ta có thể hiểu theo nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp. 2. Nhiệm vụ nghiên cứu của ngôn ngữ học xã hội Như đã nói ở trên, khái niệm ngôn ngữ học xã hội có hai các hiểu khác nhau nên song song với nó là các nhà khoa học nghiên cứu theo 2 hướng: + Ngôn ngữ học xã hội của xã hội (Sociolinguistics of society) - Ngôn ngữ học xã hội vĩ mô. + Ngôn ngữ học xã hội của ngôn ngữ (Sociolinguistics of language) - Ngôn ngữ học xã hội vi mô. Ngôn ngữ học xã hội vĩ mô nghiên cứu các vấn đề và tình hình sử dụng ngôn ngữ ở một quốc gia hay cả một khu vực, nghiên cứu mối quan hệ và tác dụng tương hỗ giữa ngôn ngữ với sự phát triển của xã hội như ngôn ngữ và dân tộc, chính sách ngôn ngữ, quy hoạch ngôn ngữ, kế hoạch hoá ngôn ngữ. Ngôn ngữ học xã hội vi mô nghiên cứu ngôn ngữ trong giao tiếp, xem xét các mối quan hệ và tác dụng giữa đặc trưng xã hội, tâm lý của người nói với lời nói (tức là các biến thể xã hội của ngôn ngữ). “Ngôn ngữ là tấm gương phản chiếu xã hội” tức là xã hội như thế nào thì nó cũng như vậy. Tất cả các vấn đề, dù là nhỏ nhất diễn ra ngay trong đời sống giao tiếp bình thường của con người hay những hiện tượng ngôn ngữ mang tính quốc tế đều có thể là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học xã hội. Theo M.A.K Halliday thì ngôn ngữ học xã hội cần phải tập trung nghiên cứu một số lĩnh vực sau: Ngôn ngữ học vĩ mô, thống kê học dân số ngôn ngữ. Hiện tượng song thể ngữ, đa ngữ, đa phương ngữ Quy hoạch ngôn ngữ, phát triển ngôn ngữ và kế hoạch hoá ngôn ngữ Hiện tượng pha trộn, lai tạp ngôn ngữ (Pidgín và Geolé). Phương ngữ học xã hội, miêu tả các biến thể phi chuẩn. Ngôn ngữ học xã hội với vấn đề dạy học. Lịch sử nhân chủng của ngôn ngữ, cảnh huống ngôn ngữ Năng lực ngôn ngữ, năng lực giao tiếp. Nhân tố xã hội của sự biến đổi ngữ âm và ngữ pháp. Xã hội hoá ngôn ngữ, ngôn ngữ và truyền thống văn hoá. Phương pháp của ngôn ngữ học xã hội và sự phát triển của ngôn ngữ trẻ em. Lý luận chức năng về hệ thống của ngôn ngữ. Tính tương đối của ngôn ngữ Ngôn ngữ học của phương pháp luận nhân chủng Lí luận về hội thoại. 3. Vấn đề ngôn ngữ giới tính trong phương ngữ xã hội Ngôn ngữ dùng để giao tiếp giữa các nhóm xã hội được gọi là phương ngữ xã hội. Chừng nào xã hội còn tồn tại các nhóm xã hội thì chừng ấy còn tồn tại phương ngữ xã hội. Trong xã hội luôn có sự khác nhau về tuổi tác, giới tính, trình độ văn hoá, nghề nghiệp… nó đã tạo ra hàng loạt các phương ngữ của các nhóm xã hội khác nhau như; . Phương ngữ giới tính. . Phương ngữ tuổi tác . Phương ngữ nghề nghiệp . Phương ngữ tôn giáo . Phương ngữ giai tầng. Trong đó giới tính cũng là một thuộc tính của xã hội. Sự hình thành ngôn ngữ là do sự giáo dục của gia đình và xã hội cho trẻ từ nhỏ cho tới khi trưởng thành, đặc biệt ở độ tuổi 1- 6. Vì vậy chúng tôi khẳng định rằng ở độ tuổi 3 - 5 của trẻ đã bước đầu hình thành ngôn ngữ giới tính. Các công trình trước đây cho rằng ngôn ngữ giữa bé trai và bé gái là hầu như giống nhau và thiên về giới nữ. Tuy nhiên do điều kiện từ những năm 70-80 hay đầu những năm 90 nền kinh tế của Việt Nam còn khó khăn, các gia đình thường chưa đủ điều kiện dạy bảo con cái, đặc biệt những gia đình đông con thường nhường chức năng dạy dỗ con cái cho ông bà hay các anh, chị của trẻ trong gia đình. Vì vậy ngôn ngữ trẻ thường không bộc lộ rõ về giới, ngôn ngữ của các cháu thường giống nhau. Nhưng đến nay kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển nhảy vọt, các gia đình đã có điều kiện chăm sóc con cái về vật chất cũng như tinh thần. Sự quan tâm của bố mẹ trong giai đoạn này của trẻ được coi là quan trọng nhất làm cho trẻ phát triển tư duy ngôn ngữ, cách nhận thức và giải quyết vấn đề cũng có sự khác biệt tương đối so với tư duy của trẻ giai đoạn cách đây vài chục năm về trước. II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cách phân loại để nghiên cứu Trong một xã hội cụ thể, ngôn ngữ với tư cách là “phương tiện giao tiếp quan trọng nhất giữa người với người (Lênin) bao giờ cũng thống nhất. Ngôn ngữ không có tính giai cấp và phục vụ mọi người như nhau, nghĩa là nó có tính toàn dân. Tuy nhiên mỗi giai cấp lại sử dụng nó theo phong cách khác nhau. Ở Việt Nam, giai cấp đã bị xoá bỏ từ khi nước nhà giành độc lập, nhưng tất yếu của nền kinh tế thị trường sẽ hình thành nên các giai tầng xã hội, có người giàu, người nghèo, nông dân, trí thức… có sự khác biệt về mặt kinh tế cũng như trình độ văn hoá của nông thôn và thành thị. Chính vì vậy, ngôn ngữ cũng có những hươứng phát triển khác nhau. Trẻ em sinh ra ở môi trường xã hội nào thì nó sẽ chịu ảnh hưởng yếu tố ngôn ngữ của môi trường đó. Để dễ dàng cho công việc nghiên cứu chúng tôi tiến hành phân loại như sau:. Thứ nhất: theo địa lý - xã hội gồm: Nhóm trẻ sinh sống ở thành thị (thành phố Hà Nội) Nhóm trẻ sinh sông ở nông thôn (Hải Dương-Hà Tây) Thứ hai: Theo giới tinh: Nam Nữ 2. Tổ chức thực hiện Chúng tôi gồm 2 người cùng với một số cộng tác viên đi tới các vùng Hà Nội, Hải Dương và Hà Tây thu thập cứ liệu. Trong đề tài này chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp: quan sát trực tiếp, tham gia hoạt động giao tiếp với trẻ. Từ đó miêu tả, thống kê, phân loại và xử lý tư liệu sau đó tiến hành so sánh. 3. Các cứ liệu thu thập 3.1. Trẻ ở thành thị *Hội thoại: Hai cháu 4 tuổi (giới tính: nam) nói chuyện với nhau trước khi tan trường. A: ông này, đưa tôi B: ông để tôi cầm, mai tôi trả (Bố của đứa trẻ A đến đón). A: A! bố sữa cô gái của con đâu. *Hội thoại: Một bé gái 5 tuổi chào tạm biệt búp bê trước khi ra về “Con ngoan! Ngủ đi! “mẹ” thương! đừng khóc nhé! Ngủ ngoan nào! Mai “mẹ” lại kể chuyện cho con nghe nhé! Bây giờ “mẹ” phải về với mẹ. Mà sao mẹ lâu đến thế nhỉ? ế “mẹ” nhớ, mai con thích ăn gì nào “mẹ nấu” cho con ăn. Thôi mẹ đến rôi “mẹ” về đây”. *Hội thoại: Một bé trai 4 tuổi (tâp làm siêu nhân) với 1 bé trai 5 tuổi. Bé trai 4 tuổi: “Hự! Hự! Hự! Hự! Bay lên này! chiu!” Bi học ở phim siêu nhân Bố mở. Mai Bi thành siêu nhân, Bi bay lên trời!”. Bé trai 5 tuổi: Siêu nhân bay lên trời cách gì? Ta là siêu nhân vũ trụ, siêu nhân tàng hình đây. ta còn là Heditốttơ. *Hội thoại: Hai chị em ruột nói với nhau: (chị 13 tuổi - em 5 tuổi). C: mày đi đâu bây giờ về? Mày đi đâu bây giờ mới về? E: Em đi đá bóng với cậu. C: Điều cậu lại cho mày đi công viên nước chứ gì E: Sao chị biết. C: Tao còn lạ gì? *Một bé 3 tuổi (nói với mẹ khi mẹ đón về). - Ứ! Mẹ xấu con ứ chơi với mẹ hu hu! Mua cho con cặp lợn hồng như Mai Phương. - Thôi về mau mẹ còn phải trông hàng con có cặp đỏ đẹp thế này rồi mà! - Ứ! Con ứ cần, mẹ mua lợn hồng cơ! ư ừ! Hu hu!. *Một bé 4 tuổi (theo mẹ ra chợ). - Mẹ làm cá rán cơ không ăn thịt đâu ! - Mẹ làm thịt băm con thích nhé! - Không! Không ăn thịt băm đâu ăn cá cơ! - Cá hôm nay không có trứng đâu con ạ! - Không! Con ăn cá cơ! - Mẹ đã bảo là cá không có trứng mà! con không ăn thịt băm là con chuột chí tối nó căn chân đấy! - Ứ! Mẹ ơi! Tối mẹ đóng cửa chặt lại chuột chí không vào nhà đâu! Mẹ làm thịt băm như tối qua nhé!. - Ừ! *4 tuổi; (tại cửa hàng tạp hoá) M: Mày uống sữa gì? C: Sữa có dán hình. M: không uống, mày uống sữa đấy tao quật chết tao không có tiền, mày có uống sữa CGH2 không thì thôi biến! C: Không con thích dán hình cơ M: Sữa này có bán 1 hộp không em! CCH: Không muống có dán hình thì phải mua cả lốc. M: Mày thấy chưa phải mua cả lốc người ta mới cho cái dán hình mày về bảo bố mày đưa tiền cho) tao không có tiền. M: Con này nó ngu lắm cơ, mình mà mua cho nó cả lốc là đến lớp thế nào nó cũng chia cho các bạn. Mẹ con: Tao mua sữa về thì mày phải uống, đừng có dán hình lăng nhăng ở nhà tao quật chết. Thôi đi về. *Hội thoại: Con: Mẹ ơi, hôm nay con được cô thưởng tận 3 phiếu bé ngoan. Mẹ: Thế à cô có khen con không? Con: có cô khen con nặn con chó giống nhất, vẽ tranh nhanh nhất. Mẹ: con của mẹ giỏi nhỉ, con muốn mẹ thưởng gì nào? Con: Mẹ mua cho con bó xếp hình mẹ nhé. Me: ừ! Thế mai mẹ. *Hội thoại: Hai đứa trẻ 4 tuổi chơi đồ hàng: Bé trai: Chị ơi, bán cho em 1 con gấu. Gái: Em mua gấu hồng hay gấu trắng. Trai: Em mua màu trắng. Gái: Đưa tôi mười nmghìn Trai: Đấy! *Hội thoại: (gọi điện cho bà nội chế ộ mở loa ngoài) Phi(3): Bà nội ơi cháu phi đây! Bà: Phi à! Bố: Chào bà đi con Phi: Cháu chào bà! Bà: ừ bà chào cháo Bố: Bà ăn cơm chưa? P: Bà ăn cơm chưa ạ Bà: Cháu nhớ bà không Bà: Cháu nhớ bà lắm Bố: Hôm nào cháu về thăm bà P: Hôm nào bố cháu cho cháu về thăm bà. B: Chào bà đi con. P: Bye bà ạ. *Hội thoại: Mẹ và con trai nói chuyện với nhau C: Mẹ ơi sao người ta lại gọi là chợ vỡ M: Người ta gọi là chợ vỡ chứ sao. C: Nhưng sao lại gọi là chợ vỡ. M: Tao không biết mày hỏi cô giáo của máy ý, thằng toàn hỏi lăng nhăng. 3.2. Trẻ ở nông thôn *Phương (4t) nói chuyện với chị gái họ. CG: Phương, mẹ có nhà không? P: Mẹ lên vườn vải rồi! CG: Thế mẹ đi chợ chưa? P: Mẹ có 2 đồng, một đồng mua gạo một đồng mua rau chẳng còn đồng nào mua bim bim cho con CG: ừ! Thế Phương ngoan hôm nào mẹ có tiền sẽ mua bim bim cho P nhé. P: Vâng ạ! CG: Chị về đây. * Sơn (4t) nói chuyện với Lợi (5 tuổi) ở sân nhà: S: Anh Lợi mới đi chơi về à? Lợi: ừ tao lên bà ngoại. Mày đéo bao giờ được lên bà ngoại trèo cây. Tao được treo cây rồi nhớ! S: Em cũng được trèo cây rồi! L: Phét~ nhà mày làm đéo gì có cây mà cũng đòi trèo. Trên bà ngoại tao nhớ cây to đúng thế này này bao nhiêu là cành to trèo sướng ơi là sướng. *Hùng và Nam (2 cháu trai 5 tuổi) nói chuyện với nhau ở trường Mẫu giáo Gia Lộc - Hải Dương. H: Nam sao mày lại ngồi đái. N: Tao thích đái ngồi đấy. H: Mẹ tao bảo con trai mà đái ngồi là đồ đàn bà. Con trai thì phải đái dài. H (mách cô) Em thưa cô Bạn Nam bạn ấy đái ngồi ạ! Cô giáo: là con trai phải đái đứng chứ sao lại đái ngồi như các bạn gái. H: Em bảo bạn ấy nhưng bạn ấy bảo tao thích đái ngồi. H: (quay sang Nam): Thấy chưa tao bảo đái ngồi là đồ đàn bà mà Ê đồ đàn bà xấu, xấu, xấu. N: ừ đấy! *Hai dì cháu nói chuyện: Dì: Hùng à! Sao đây Dì bấm móng tay cho. H: Không cháu không cắt đâu. Dì: Ra đây Dì cắt cho dài quá rồi để thế bẩn lắm! H: Cháu để dài để cấu sứt da chúng nó! Dì: úi giời! Cắt mau! để thế ăn uống giun sán nó vào bụng cho nó đục thủng bụng ra đấy. *Hai mẹ con con xem chương trình thế giới động vật: Con: Mẹ ơi! Kia có phải con cá heo không? Mẹ: Đúng rồi1` Con: Mẹ ơi! Cá heo có biết cứu người không? Mẹ: Có chứ. Con: mẹ ơi thế cá heo sống ở đâu hả mẹ? Mẹ (im lặng). Con: sống ở biển phải không mẹ? Mẹ: im lặng. Con: Thế biển có rộng không mẹ? Mẹ: rộng Con: Thế sao nước biển lại xanh? Mẹ: Im lặng. Con: Mẹ ơi ngoài cá heo ra còn cá gì? Mẹ: Rất nhiều. Con: Thế cá mập có ăn thịt cá heo không? Mẹ: Có ăn thịt cá heo con. Con: Sao nó lại ăn thịt cá heo con. Mẹ: Tất cả các loài cá là thức ăn của cá mập - như con mèo ăn thịt chuột ấy! Con: Sao người ta lại bắt cá mập? M: Để lấy vây, thịt làm thức ăn. Con: Sao người ta lại lấy vây, lấy thịt làm thức ăn. M: Vì nó bổ? … *Một bé trai (4 tuổi) theo mẹ ra chợ. -M: Cho tôi mua con cá chim này. -C: Mẹ ơi sao lại gọi là cá chim. -M: Gọi là cá chim để phân biệt với loại cá khác. -C: Mẹ ơi cá chim có răng không? -Mẹ: Có. C: Có răng giống cá Sấu mẹ nhể. M: ừ C: Mẹ ơi cá chịm ăn gìk? M: Cá chim ăn thóc. C: Nó có ăn cả vỏ không. M: có C: Ơ! Sao trong bụng cá chim có sỏi kìa? Sao bác nhét sỏi vào bụng cá chim Người bán cá: Bác nhét vào cho nó nặng cân. Thằng này đứng một lúc mà môn nh tép vậy, hỏi lắm thế. Mẹ: Không phải đâu. Cá chim nuốt sỏi để khi ăn thóc vào bụng dạ dày co bóp những viên sỏi ấy sẽ nghiền thức ăn để dễ tiêu hoá. C: Thế dạ dày mình có sỏi không mẹ. Người bán cá: Trời ! Bác mổ bụng cháu ra xem nhé! C: Hả mẹ? NBC: Nuôi thằng này chắc chết mệt với những câu hỏi vớ vẩn này của nó thôi. M: Nó hỏi nhiều lắm cô ạ! Gửi tiền cô. C: Còn bụng mình có sỏi không mẹ M: không con ạ. … *Mẹ nói với con (5tuổi) M: Thằng kia tao đã bảo mày từ dầy trở đi không được mau mấy cái đồ kẹo xanh đỏ, ô mai tầu rồi cơ mà; đói khát gì thích tao mua kẹo xịn ô mai xin cho mày ăn ai cho ăn vớ vẩn thế hử. C: Keo Tàu là tầu trên ba ngoại trở về hả mẹ. M: Tầu nào trên bà ngoại, là kẹo do “thằng Tầu” sản xuất ấy nhớ chưa. Vứt đi chưa? C: Mẹ ơi thế sao ông Tầu lại sản xuất kẹo không ăn được ạ? M: Thế đấy nó đểu, nó muốn cho người Việt Nam mình chết bớt đi thì nó thế. Mày cứ ăn vào rồi chết con ạ. C: Thế ông ấy không phải người Việt Nam ạ. M: Đừng có lảm nhảm tao dặn rồi đấy lần sau còn nhìn thấy thì ăn vụt đừng có trách nhớ chưa. 4. Các nhân tố ảnh hưởng tới sự hình thành ngôn ngữ của trẻ. Trẻ em giai đoạn 3-5 tuổi mới bắt đầu hình thành ngôn ngữ, những lời mà chúng nói ra đôi khi là bắt chước ngôn ngữ của người thân trong gia đình. Tuỳ theo khả năng tư duy, nhận thức của từng đứa trẻ mà chúng biểu đạt ngôn ngữ và vận dụng chúng vào trong các ngữ cảnh giao tiếp khác nhau. Chẳng hạn, trong hội thoại 1 cách xưng hô “ông - tôi” của hai đứa trẻ hoàn toàn không phải là ngôn ngữ trẻ em mà đó là cách xưng hô của người lớn được chúng ứng dụng ngay trong giao tiếp. Có nhiều nhân tố tác động ngôn ngữ của trẻ. Sau đây là một số nhân tố cần chú ý: 4.1. Yếu tố gia đình Gia đình được xem là cái nôi của con người. Ngay từ khi trẻ sinh ra đã tiếp xúc với gia đình (thông qua cha, mẹ). Từ khi trẻ đến giai đoạn “học ăn học nói” cho đến khi sắp học lớp 1, mọi hành vi ứng xử của chúng đều phần nào chịu tác động của gia đình. Khái niệm “gia đình” mà chúng tôi nói ở đây bao gồm các thv trong gia đình như: ông bà, cha mẹ, anh chị em nhưng quan trọng nhất vẫn là cha mẹ. *Nhìn chung, trẻ em ở cả thành thị và nông thôn đều học cách xưng hô trong giao tiếp của cha và mẹ. Khi nó thấy cha mẹ sử dụng các cách xưng hô “ông - tôi” “bà - tôi”, “cậu - tớ”, “bạn - mình”; “anh - em”; “cháu - bác”… nó cũng bắt chước và sử dụng rất linh hoạt. Lời nói cuatrer em hiện nay có xu hướng “già” hơn so với lứa tuổi chúng. *Trong khi giao tiếp với người thân (đặc biệt là anh chị em trong gia đình) chúng không bị nhầm vai (chức vị). Một đứa trẻ 4-5 tuổi khi nói chuyện với anh chị em ruột hoặc họ hàng đều xứng đúng vai và chức vị của chúng đối với mọi người. Trường hợp này thường xảy ra ở nông thôn nhiều hơn thành thị. Tuy nhiên vẫn có trường hợp đặc biệt chúng có thể dùng ngôn ngữ thể hiện sự ngang vai đối với người khác (chỉ xảy ra khi cãi nhau). Chẳng hạn trong cuộc giao tiếp giữa hai chị em khi tranh nhau đồ chơi (chị 7 tuổi và em trai 4 tuổi). Chị: Cái máy bay này là của chị, xe tăng là của em. Em: Không, cái này là của em cơ. Chị: Không được, cái này là của tao, cái kia là của mày. Mày không lấy thì thôi. Em: Không, không được. Bố mua cho tao chứ. *Ở nông thôn, bố mẹ vẫn có thói quen gọi con cái là “mày” xưng “tao” nhưng không hề có tính bực bội hay phật ý. Trái lại đó là cách xưng hô mang ý nghĩa thân mật trong giao tiếp thông thường. Vì vậy cách xưng gọi này thường phổ biến ở nông thôn nhiều hơn thành thị. Ngược lại ở thành phố việc xưng hô giữa cha mẹ và con cái là “tao - mày” chỉ xảy ra khi bố mẹ bực bội, tức giận. *Ngôn ngữ của các bé giai đoạn này (ở cả trẻ em nông thôn và thành thị) đều dùng các thán từ: “à, ư, như, nhé, hả, hử, ứ…”. Tuy nhiên vẫn có sự khác biệt rất lớn giữa nam và nữ trong cách sử dụng thán từ. Các bé gái thường nói nhiều hơn nam. Nam thường nói dứt khoát hơn. Vì sao vậy? Có thể lý giải điều này do nguồn gốc từ xa xưa, ông cha ta có quan niệm: các bé gái trong khi phát ngôn mẳ dụng lời lẽ ngôn từ không hợp chuẩn của ngôn ngữ giành cho phái nữ sẽ bị ông bà cha mẹ sửa ngay khi nghe thấy “con gái con đứa nói năng thế à? Từ giờ không được nói thế nhé”. “Lời ăn tiếng noi” của con trai phải cứng rắn, mạnh mẽ và con gái phải nhỏ nhẹ, thuỳ mị. Cha mẹ thường gắn cho con cái mình những quy tắc xử sự theo từng giới ngay từ khi bé còn nhỏ. Khi một đứa bé trai dùng ngôn từ sử dụng nhiều các thán từ thì được coi là “ăn nói nhỏ nhẹ, yểu điệu như con gái”. Phải chăng chỉ có con gái mới được nói như vậy? Ngược lại bé gái không sử dụng các thán từ cuối câu thì lại được coi là “ăn nói cộc lốc như con trai”. Cách sử dụng thán từ của các bé ở nong thôn vầthnhf thị cũng có sự khác biệt tương đối. Theo chúng tôi thống kê thì các bé ở thành thị (gồm cả trai và gái) dùng nhiều thán từ hơn so với trẻ nông thôn (trên 90% các bé ở thành thị dùng thán từ) đặc biệt các bé trai ở thành thị có xu hướng dùng ngôn ngữ của các bé gái. Điều này hoàn toàn trùng khớp theo nhận định của PGS.TS Nguyễn Văn Khang “ngôn ngữ ở các cháu trai và gái hầu như giống nhau. Giới tính được thể hiện trong ngôn ngữ của các cháu thiên về nữ”. Ở lứa tuổi này ngôn ngữ giới tính của bé trai chưa được bộc lộ và cũng ít được chú ý. *Các bé còn sử dụng các từ chuyển ngạt, từ nối với tần số cực lớn so với trẻ học ở bậc tiểu học và ở độ tuổi lớn hơn nữa. Một số các từ nối thường sử dụng là: -… song là… …. Sau đó…. … và… … với lại/với cả… … nhớ/nhé. Ví dụ: Bố cháu nhớ, hôm đi công viên nước nhớ, bố cháu nhớ cho cháu đi bơi ở bể nhớ với lại dóng sông lười nhớ. Song là buổi chiều được đi tàu nhớ, với cả ngồi thuyềng. Nguyên nhân của hiện tượng này là tư duy ngôn ngữ của trẻ chưa hoàn thiện, đang hình thành nên việc diễn đạt bất cứ điều gì cũng sử dụng các từ nối và chuyển ngặt (liên từ). 4.2. Yếu tố nhà trường Ngoài gia đình thì nhà trường chính là môi trường xã hội đầu tiên ảnh hưởng trực tiếp tới ngôn ngữ của trẻ. Hiện nay do nền kinh tế của nước ta phát triển vượt bậc (so với 20 năm về trước) hầu hết các gia đình ở cả thành thị và nông thôn đều đưa bé đến các trường mẫu giáo học tập, nhân tố ảnh hưởng lớn tới ngôn ngữ của trẻ chính là cô giáo. *Khi đến trường, trẻ được các cô dạy bảo giúp chúng có nhận thức tương đối hoàn chỉnh về vị trí của mình với các mối quan hệ với người thân trong gia đình (
Luận văn liên quan