Đề tài Các quy định của luật tố tụng hình sự các quy định này về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự và đề xuất hoàn thiện các quy định này

Quyết định khởi tố vụ án là cơ sở pháp lý đầu tiên để thực hiện việc điều tra. Quyết định này làm phát sinh quan hệ tố tụng giữa cơ quan có thẩm quyền và cơ quan tiến hành tố tụng. Và quyết định khởi tố là kết quả của hoạt động khởi tố. Hoạt động khởi tố vụ án hình sự do cơ quan nhà nước có thẩm quyền khởi tố là chủ yếu, chỉ có những trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 105 BLTTHS được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại. Vậy những cơ quan nào có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự? Thẩm quyền khởi tố đó được quy định như thế nào?. Để tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này em đã quyết định lựa chọn đề bài 7: “Các quy định của luật TTHS các quy định này về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự và đề xuất hoàn thiện các quy định này” để hoàn thiện bài tập lớn của mình. Bài tập của em gồm 3 phần: Mở bài, nội dung và kết luận. Trong phàn nội dung em chia làm 3 phần lớn đó là: I- Lý luận chung về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự II- Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự. III- Hoàn thiện các quy định về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự Bài viết của em còn nhiều thiết sót mong nhận được sự đóng góp ý kiến cúa các thầy cô để em có thể hoàn thiện bài tập của mình. Em xin trân thành cảm ơn!

doc15 trang | Chia sẻ: ngtr9097 | Ngày: 23/05/2013 | Lượt xem: 1429 | Lượt tải: 7download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Các quy định của luật tố tụng hình sự các quy định này về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự và đề xuất hoàn thiện các quy định này, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI MỞ ĐẦU Quyết định khởi tố vụ án là cơ sở pháp lý đầu tiên để thực hiện việc điều tra. Quyết định này làm phát sinh quan hệ tố tụng giữa cơ quan có thẩm quyền và cơ quan tiến hành tố tụng. Và quyết định khởi tố là kết quả của hoạt động khởi tố. Hoạt động khởi tố vụ án hình sự do cơ quan nhà nước có thẩm quyền khởi tố là chủ yếu, chỉ có những trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 105 BLTTHS được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại. Vậy những cơ quan nào có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự? Thẩm quyền khởi tố đó được quy định như thế nào?... Để tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này em đã quyết định lựa chọn đề bài 7: “Các quy định của luật TTHS các quy định này về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự và đề xuất hoàn thiện các quy định này” để hoàn thiện bài tập lớn của mình. Bài tập của em gồm 3 phần: Mở bài, nội dung và kết luận. Trong phàn nội dung em chia làm 3 phần lớn đó là: Lý luận chung về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự. Hoàn thiện các quy định về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự Bài viết của em còn nhiều thiết sót mong nhận được sự đóng góp ý kiến cúa các thầy cô để em có thể hoàn thiện bài tập của mình. Em xin trân thành cảm ơn! DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự BLHS: Bộ luật hình sự CQĐT: Cơ quan điều tra VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao PLTCĐTHS: Pháp lệnh tổ chức điều tra hinh sự TAND: Toà án nhân dân NỘI DUNG I- Lý luận chung về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự. 1-Khái niệm thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ hành động, quyết định…trong việc khởi tố vụ án hình sự của các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống bộ máy nhà nước do BLTTHS năm 2003 và PLTCĐTHS năm 2004 quy định.Cụ thể cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự là Cơ quan điều tra, Viện Kiểm Sát, Toà án, Bồ đội biên phòng, Hải 8quan kiểm lâm, Lực lượng cảnh sát biển và các cơ quan khác của công an nhân dân, quân đội nhân dân được tiến một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện ra dấu hiệu của tội phạm thì ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. 2 -Căn cứ để cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự. Khoản 1 Điều 100 BLTTHS năm 2003 quy định: “Chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi xác định có dấu hiệu tội phạm”. Như vậy, dấu hiệu phạm tội chính là căn cứ để khởi tố vụ án hình sự. Các cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự cần phải nhanh chóng xác định các căn cứ để từ đó đưa ra các quyết định chính xác và phù hợp( khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự). Các dấu hiệu của tội phạm thường được thể hiện qua 1 số tình tiết như: Có hành vi nguy hiểm cho xã hội thực tế xảy ra, hành vi đó bị pháp luật cấm hoặc đã phát hiện những thiệt hại tới mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS…Khi xác định dấu hiệu của tội phạm chỉ cần xác định có tội phạm xảy ra mà chưa cần xác định ai là người thực hiện hành vi phạm tội. Sau khi đã khởi tố vụ án, cơ quan điều tra tiến hành các hoạt động điều tra để xác định người thực hiện tội phạm. II- Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự. 2.1 Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của cơ quan điều tra Cơ quan điều tra có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự bao gồm: CQĐT trong Công an nhân dân, CQĐT trong Quân đội nhân dân,CQĐT thuộc VKSNDTC. Thẩm quyền khởi tố của các cơ quan này là khac nhau, cụ thể như sau: - Thẩm quyền khởi tố của cơ quan cảnh sát điều tra trong Công an nhân dân Điều 11 PLTCĐTHS năm 2004 đã quy định thẩm quyền khởi tố của vụ án hình sự của CQĐT trong Công an nhân dân như sau: Cơ quan cảnh sát điều tra khởi tố các vụ án hình sự về các tội quy định tại các Chương XII đến chương XXII của BLHS, trừ các tội thuộc thẩm quyền khởi tố của CQĐT thuộc VKSNDTC và cơ quan An ninh trong Công an nhân dân. CQĐT của cấp nào sẽ khởi tố những vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án cấp đó. Và trong Cơ quan cảnh sát điều tra trong Công an nhân dân được tổ chức ở 3 cấp: Bộ công an, cấp tỉnh và cấp huyện. + Cơ quan cảnh sát điều tra cấp huyện khởi tố vụ án hình sự về các tội thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện ( BLTTHS 1988 quy định thẩm quyền xét xử cua TAND cấp huyện đối với tội phạm mà BLHS quy định mức phạt tù từ 7 năm tù trở xuống; Hiện nay theo quy định tai Điều 170 của BLTTHS 2003, thẩm quyền xét xử của TAND cấp Huyện đã được mở rộng đó là TAND cấp Huyện có quyền xét xử đối với những tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng và rất nghiêm trọng có mức cao nhất của khung hình phạt từ 15 năm trở xuống; và tương ứng với việc mở rộng thẩm quyền xét xử của TAND cấp Huyện là việc mở rộng thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan cảnh sát điều tra cấp Huyện.) + Cơ quan cảnh sát điều tra cấp tỉnh khởi tố vụ án hình sự về các tội thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp tỉnh, hoặc các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan Cảnh sát điều tra cấp Huyện nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra. +Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ công an khởi tố vụ án hình sự về các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan cảnh sát cấp tỉnh nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra.( Tội phạm nghiêm trọng được quy định trong khoản 3 Điều 8 BLHS 2009. Tội phạm phức tạp là tội phạm có nhiều tình tiết, diễn ra trên địa bàn nhiều tỉnh, vụ án có liên quan đến nhiều ngành nhiều cấp tại địa phương…) Thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự thuộc về Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp của lực lượng Cảnh sát nhân dân. (Khoản 1 điều 104 BLTTHS 2004). Đây cũng là một điểm mới so với quy định của BLTTHS 1988, việc sửa đổi bổ sung rất cần thiết đê phân ra trách nhiệm của người tiến hành tố tụng, nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác khởi tố vụ án hình sự - Cơ quan An ninh điều tra trong công an nhân dân khởi tố các vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại Chương XI, chương XXIV và các tội phạm được quy định tại các Điều 180, 181, 221, 222, 223, 231, 263, 264, 274 và 275 của BLHS năm 2009. Những tội phạm trên đều thuộc thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của cơ quan An ninh điều tra cấp Tỉnh. Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an điều tra các vụ án hình sự về những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan An ninh điều tra Công an cấp tỉnh như đã nêu ở trên nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra.( điều 12 PLTCĐTHS năm 2004) Thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự thuộc về Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan an ninh điều tra các cấp. - Thẩm quyền khởi tố của cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân Việc phân cấp các CQĐT trong Quân đội nhân dân cũng tương tự như việc phân cấp giữa CQĐT trong công an nhân dân. Theo quy định tại Điều 15 PLTCĐT năm 2004, Cơ quan điều tra hình sự trong Quân đội nhân dân khởi tố các vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại các Chương XII đến Chương XXIII của BLHS. + Cơ quan điều tra hình sự khu vực có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự đối với các tội phạm nói trên, khi các tội phạm đo thuộc thẩm quyền xét xử của TAND khu vực. + Cơ quan điều tra hình sự quân khu có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự đối với các tội phạm nói trên, khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của TAND quân khu và tương đương hoặc các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra hình sự khu vực nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra. + Cơ quan điều tra hình sự Bộ quốc phòng khởi tố vụ án hình sự về các tội đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra hình sự quân khu và tương đương nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra. - Cơ quan An ninh điều tra trong Quân đội nhân dân khởi tố những tội phạm được quy định tại các Chương XI và chương XXIV của BLHS khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của toà án quân sự, cụ thể: + Cơ quan điều tra hình sự quân khu và tương đương có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự đối với các tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của TAND quân khu và tương đương + Cơ quan An ninh điều tra hình sự Bộ quốc phòng khởi tố vụ án hình sự về các tội đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra hình sự quân khu và tương đương nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra. Thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự thuộc về Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp trong Quân đội nhân dân. Đối tượng phạm tội thuộc thẩm quyền khởi tố của CQĐT trong Quân đội nhân dân bao gồm: + Quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập chung huấn luyện. hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu, dân quân, tự vệ phối hợp chiến đấu trong quân đội. +Những người không thuộc các đối tượng trên mà phạm tội có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho Quân đội. - Thẩm quyền khởi tố của cơ quan điều tra thuộc VKSNDTC CQĐT thuộc VKSNDTC có thẩm quyền khởi tố các vụ án hình sự về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp. Nhưng không phải tất cả mà chỉ là một số loại tội phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là các bộ thuộc các cơ quan tư pháp. PLTCĐTHS 2004 đã thu hẹp đối tượng thuộc thẩm quyền truy tố của VKSNDTC so với PLTCĐTHS 1989. Quy định như hiện nay là hợp lý bởi như vậy sẽ đảm bảo cho VKS có thời gian tập chung tốt chức năng công tố và kiểm sát tư pháp. Tư pháp là một trong ba nhánh quyền lực trong tổ chức bộ máy ở Việt Nam vì vậy những người thuộc các giữ một vai trò rất quan trọng để đảm bảo giữ vững kỷ cương, hoạt động của bộ máy nhà nước được thông suốt. Bởi vậy, với tính chất nghề nghiệp đặc biệt nên các cán bộ tư pháp khi phạm tội cần có một quy chế riêng để áp dụng và dành cho cơ quan đặc biệt để có thể có thể tuận tiện cho việc xác minh và điều tra tội phạm. Theo quy định tại Điều 18 PLTCĐTHS năm 2004 đã quy định thẩm quyền khởi tố của CQĐT trong VKSNDTC cũng có thẩm quyền khởi tố theo thẩm quyền xét xử của toà án: + Cơ quan điều tra của VKSNDTC có thẩm quyền khởi tố các tội phạm nêu trên khi tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của TAND. + Cơ quan điều tra của VKS quân sự trung ương có thẩm quyền khởi tố những trường hợp thuộc thẩm quyền khởi tố của CQĐT của VKSNDTC, khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của toà án quân sự. 2.2 Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Viện Kiểm Sát. Khởi tố là một trong các nhiệm vụ của ngành kiểm sát. Thông qua hoạt động này VKSND thực hiện tốt các chức năng thực hành quyền công tố. Việc khởi tố của VKS sẽ đảo bảo cho mọi tội phạm được phát hiện, tránh tình trạng oan sai đối với người vô tội, việc này chỉ được thực hiện khi VKS tuân thủ theo các quy định của pháp luật. . Theo khoản 1 Điều 104 BLTTHS năm 2003, VKS có quyền khởi tố vụ án trong hai trường hợp: + Khi viện kiểm sát khởi tố vụ án mà có căn cứ để huỷ bỏ quyết định không khởi tố vụ án của CQĐT, Bồ đội biên phòng, Cơ quan hải quan, Cơ quan kiểm lâm, lực lượng cảnh sát biển, các cơ quan khác trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Đó là những trường hợp mà quyết định không khởi tố vụ án của các cơ quan này không đúng với quy định về căn cứ không khởi tố vụ án hình sự tại Điều 107 BLHS năm 2003. + Khi Hội đồng xét xử yêu cầu VKS khởi tố vụ án. Đây là quy định mới của BLTTHS năm 2003, phạm vi khởi tố của VKS đã thu hẹp hơn, điều này là cần thiết. Bởi theo quy định tại Điều 87 BLTTHS năm 1988, khi xác định được dấu hiệu tội phạm thì CQĐT, VKS ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Như vậy, sẽ dẫn đến tình trạng khởi tố vụ án hình sự bị chồng chéo, làm giảm hiệu quả công tác thực hiện quyền công tố và kiểm sát tư pháp của VKS. Thẩm quyền khởi tố vụ án thuộc về viện trưởng Viện kiểm sát các cấp 2.3 Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Toà án Toà án khởi tố vụ án hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án nếu qua việc xét xử tại phiên toà mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra( đoạn 3 khoản 1 Điều 104 BLTTHS) Tội phạm mới là hành vi phạm tội mới được phát hiện và chưa bị truy tố. Người phạm tội mới có thể là người phạm tội chưa bị phát hiện nhưng cũng có thể là đồng phạm trong vụ án đã bị truy tố. Như vậy tội phạm mới hoặc người phạm tội mới mà Hội đồng xét xử có thể khởi tố phải về những tội, những người không liên quan đến vụ án đang xét xử hoặc có liên quan nhưng có thể tách ra giải quyết độc lập. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử có căn cứ cho rằng bị can có đồng phạm khác thì thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo điều 179 BLTTHS năm 2003. Cần phải hiểu việc khởi tố vụ án hình sự của Hội đồng xét xử mà nó mang tính lựa chọn, đây không phải là giải pháp duy nhất của toà án. Tức là việc đưa vụ án ra khởi tố trong thời gian chuẩn bị xét xử toà án cũng có thể không khởi tố vụ án hình sự. Nếu tội phạm mới hoặc người phạm tội mới có liên quan đến vụ án đang xét xử, không thể tách ra thành vụ án độc lập mà phải giải quyết trong cùng một vụ án để đảm bảo tính khách quan, toàn diện, đầy đủ thì hội đồng xét xử ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung. 2.4 Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Theo quy định tại đoạn 1 khoản 1 Điều 104 BLTTHS năm 2003 và các điều 19,20,21,22 của PLTCĐTHS 2004 thì các cơ quan khác có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự bao gồm: đơn vị Bồ đội biên phòng, co quan Hải quan, cơ quan Kiểm lâm, lực lượng cảnh sát biển và các cơ quan khác trong Công an nhân dân, quân đội nhân dân. Đây là một điều mới so với luật TTHS năm 1988 và được quy định hoàn toàn phù hợp với yêu cầu của thực tế nhằm kịp thời phát hiện chính xác, nhanh chóng người phạm tội. + Bộ đội biên phòng khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý của mình mà phát hiện tội phạm quy định tại Chương XI và các điều 119, 120, 153, 154, 172, 180, 181, 188, 192, 193, 194, 195, 196, 230, 232, 236, 263, 264, 273, 274 và 275 của Bộ luật hình sự xảy ra trong khu vực biên giới trên đất liền, bờ biển, hải đảo và trên các vùng biển do Bộ đội biên phòng quản lý thì có quyền khởi tố. Thẩm quyền khởi tố thuộc về Cục trinh sát biên phòng, Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Trưởng đồn biên phòng. +. Cơ quan Hải quan khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý của mình mà phát hiện tội phạm quy định tại Điều 153 và Điều 154 của Bộ luật hình sự thì Cục trưởng Cục điều tra chống buôn lậu, Cục trưởng Cục kiểm tra sau thông quan, Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Chi cục trưởng Chi cục Hải quan cửa khẩu có quyền ra quyết định khởi tố vụ án. + Cơ quan Kiểm lâm khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý của mình mà phát hiện tội phạm quy định tại các điều 175, 189, 190, 191, 240 và 272 của Bộ luật hình sự thì Cục trưởng Cục Kiểm lâm, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm, Hạt trưởng Hạt phúc kiểm lâm sản có quyền khởi tố vụ án hình sự. + Các đơn vị thuộc lực lượng Cảnh sát biển khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý của mình mà phát hiện tội phạm quy định tại Chương XI và các điều 153, 154, 172, 183, 188, 194, 195, 196, 212, 213, 221, 223, 230, 231, 232, 236, 238, 273 và 274 của Bộ luật hình sự xảy ra trên các vùng biển và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do lực lượng Cảnh sát biển quản lý. Thẩm quyền khởi tố thuộc về Cục trưởng, Chỉ huy trưởng Vùng, Hải đoàn trưởng, Hải đội trưởng và Đội trưởng Cảnh sát biển. + Các cơ quan khác của lực lượng cảnh sát trong Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khi làm nhiệm vụ của mình mà phát hiện sự việc có dấu hiệu tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra quy định tại Điều 23 PLTCĐTHS năm 2003 + Các cơ quan khác của lực lượng an ninh trong Công an nhân dân được giao nhiệm vụ khởi tố vụ án hình sự khi làm nhiệm vụ của mình mà phát hiện sự việc có dấu hiệu tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan an ninh điều tra quy định tại Điều 24 PLTCĐTHS năm 2003. Cục trưởng cục an ninh, Trưởng phòng các phòng an ninh của công an cấp tỉnh ra quyết định khởi tố. + Các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ khởi tố vụ án hình sự Theo quy định tạo Điều 25 PLTCĐTHS năm 2003. Thẩm quyền khởi tố vụ án thuộc về giám thị trại giam, giám thị trại giam trong quân đội. III- Hoàn thiện các quy định về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự. 1- Hoàn thiện các quy định của pháp luật về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự. Nhìn chung các quy định của pháp luật về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự được quy định trong BL TTHS năm2003 và PLTCĐTHS năm 2004 là tương đối đầy đủ. Nhưng bên cạnh đó, vẫn còn một số điểm mà theo em là càn phải thay đổi, bổ sung để phù hợp hơn khi áp dụng và thực tiễn cuộc sống. 1.1. Sửa đổi về thời gian về việc xác minh tin báo, khởi tố vụ án hình sự có nhiều tình tiết phức tạp. Khoản 2 Điều 103 quy đinh: “Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Trong trường hợp sự việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn, nhưng không quá hai tháng.” Luật quy định như vậy là trong trường hợp việc xác định tố giác và tin báo về tội phạm có nhiều tình tiết phức tạp… thì sau hơn 20 ngày tới 60 ngày cần phải giải quyết tố giác, điều này là vô cùng khó khăn cho các cơ quan có thẩm quyền vì thời hạn như vậy là tương đối ngắn để xác minh. Việc khởi tố vụ án hình sự cần phải được tiến hành nhanh chóng nhưng nếu không đủ thời gian để xác minh những vụ điều tra liên quan đến nhiều người, phải xác minh tại nhiều thời điểm khác nhau, tại nhiều địa điểm khác nhau mà quá thời gian quy định sẽ dẫn tới 2 tình trạng: thứ nhất là: Không khởi tố dù vụ án đó thực sự cần phải khởi tố hình sự vì chưa đủ chứng cứ. Và thứ hai là khởi tố nhưng sẽ bỏ sót tội phạm. Điều này sẽ làm tăng số bản án phải trả lại hồ sơ để điều tra bố sung theo Điều 168 và Điều 179 tổng thời gian điều tra lúc này sẽ nhiều hơn cũng như khó khăn hơn khi nhận được tin báo ban đầu vì những tội phạm khác đã cố gắng xoá bỏ dấu vết. Từ những lập luận trên theo em khoản 2 Điều 103 BLTTHS nên sửa đổi như sau Điều 103. Nhiệm vụ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố Giữ nguyên Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Trong trường hợp sự việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn, nhưng không quá bốn tháng.. Giữ nguyên Giữ nguyên 1.2. Sửa đổi, bổ sung về quy định của BLTTHS theo hướng bỏ thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Hội đồng xét xử. Trong thực tế, quy định về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Hội đồng xét xử hầu như không thể thực hiện vì các lý do sau: + Hội đồng xét xử không đủ điều kiện kỉêm tra, xác minh các thông tin về tội phạm. Bởi vì để khởi tố vụ án hình sự cần có quá trình xác minh, kiểm tra các tình tiết liên quan đến việc phát hiện tội phạm, về điều này thì hội thẩm gần như không thể làm được vì không có chuyên môn và đội ngũ cán bộ đủ lớn. Như các cơ quan có thẩm quyền khác +Chức năng chính của hội đồng xét xử là xét xử, vì vậy các thông tin về tội phạm và người phạm tội mới diễn ra tại phiên toà được phản ánh qua lời khai của người tham gia tố tụng, tù việc xem xét, đánh giá tài liệu có trong hồ sơ…Dù biết nhưng không đủ chứng cứ thì cũng không thể khởi tố vụ án hình sự. + Việc Hội đồng xét xử phát hiện cũng không thể tiến hành điều tra những hoạt động điều tra để thu thập chứng cứ ngay được. Do vậy, quyết định phải gửi cho VKS để VKS xem xét ra quyết định việc điều tra. Trong trường hợp xét thấy quyết định trên không có căn cứ thì VKS kháng nghị lên Toà án cấp trên. Việc này gây tốn kém về thời gian cũng có thể gây k
Luận văn liên quan