Đề tài Đánh giá hiện trạng công tác quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt tại thị trấn Vụ Bản - Huyện Lạc Sơn - tỉnh Hoà Bình

Đất nước ta hiện nay đang trong quá trình đô thị hóa, nền kinh tế phát triển không ngừng cả về tốc độ lẫn quy mô, với tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh như vậy đi đối với vẫn đề đó là đời sống nhân dân từng bước được cải thiện một cách đáng kể, nhưng bên cạnh những mặt tích cực, những tiến bộ vượt bậc thì vẫn còn những mặt tiêu cực, những hạn chế mà không một quốc gia nào không phải đối mặt, đó là tình trạng chất lượng môi trường ngày càng bị suy giảm về chất lượng cuộc sống của con người, cụ thể đó là ô nhiễm về môi trường đất, nước, không khí, và tình trạng tài nguyên thiên nhiên ngày càng trở nên cạn kiệt, và hàng loạt các vẫn đề về môi trường khác cần được quan tâm sâu sắc và kịp thời giải quyết một cách nghiêm túc và triệt để nhất. Thị trấn Vụ Bản là trung tâm chính trị - kinh tế - xã hội văn hóa của huyện Lạc Sơn, là một huyện miền núi vùng cao của tỉnh Hoà Bình, đây là nơi tập trung trên 4000 dân cư cùng chung sống trên địa bàn, với chợ Vụ Bản là đầu mối lưu thông các loại hàng hoá như nông sản, thực phẩm .trên địa bàn huyện, nên công tác bảo vệ và vệ sinh môi trường ở đây lại là một vẫn đề cần được quan tâm hàng đầu. Thực tế cho thấy lượng rác thải sinh hoạt ngày một tăng và có ở khắp mọi nơi trên địa bàn thị trấn. Đó là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí. Bên cạnh đó vẫn đề quản lý môi trường ở các cấp, các nghành vẫn còn bộc lộ nhiều yếu kém và bất cập, Các văn bản luật không đồng nhất, chưa đi sau vào thực tiễn, đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về môi trường chưa được đào tạo một cách toàn diện, chủ yếu làm kiêm nhiệm. và người dân còn thiếu hiểu biết về môi trường nên ý thức bảo vệ môi trường còn chưa cao. Do đó công tác quản lý rác thải là vẫn đề cần được quan tâm hơn, trong quá trình phát triển và nhằm đảm bảo được mục tiêu phát triển về kinh tế, xã hội và môi trường. Trước tình hình cấp thiết nói trên và nhằm đánh giá về công tác quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt tại thị trấn Vụ Bản huyện Lạc Sơn, qua đó để đề xuất một số giải pháp phù hợp để góp phần bảo vệ môi trường của huyện. Tôi được sự đồng ý của ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Tài Nguyên & Môi Trường - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, đồng thời dưới sự hướng dẫn trực tiếp của ThS Trương Thành Nam nên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng công tác quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt tại thị trấn Vụ Bản - huyện Lạc Sơn - tỉnh Hoà Bình”.

doc61 trang | Chia sẻ: superlens | Ngày: 24/07/2015 | Lượt xem: 1307 | Lượt tải: 14download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Đánh giá hiện trạng công tác quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt tại thị trấn Vụ Bản - Huyện Lạc Sơn - tỉnh Hoà Bình, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Phần 1 MỞ ĐẦU 1.1. Đặt vấn đề Đất nước ta hiện nay đang trong quá trình đô thị hóa, nền kinh tế phát triển không ngừng cả về tốc độ lẫn quy mô, với tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh như vậy đi đối với vẫn đề đó là đời sống nhân dân từng bước được cải thiện một cách đáng kể, nhưng bên cạnh những mặt tích cực, những tiến bộ vượt bậc thì vẫn còn những mặt tiêu cực, những hạn chế mà không một quốc gia nào không phải đối mặt, đó là tình trạng chất lượng môi trường ngày càng bị suy giảm về chất lượng cuộc sống của con người, cụ thể đó là ô nhiễm về môi trường đất, nước, không khí, và tình trạng tài nguyên thiên nhiên ngày càng trở nên cạn kiệt, và hàng loạt các vẫn đề về môi trường khác cần được quan tâm sâu sắc và kịp thời giải quyết một cách nghiêm túc và triệt để nhất. Thị trấn Vụ Bản là trung tâm chính trị - kinh tế - xã hội văn hóa của huyện Lạc Sơn, là một huyện miền núi vùng cao của tỉnh Hoà Bình, đây là nơi tập trung trên 4000 dân cư cùng chung sống trên địa bàn, với chợ Vụ Bản là đầu mối lưu thông các loại hàng hoá như nông sản, thực phẩm ...trên địa bàn huyện, nên công tác bảo vệ và vệ sinh môi trường ở đây lại là một vẫn đề cần được quan tâm hàng đầu. Thực tế cho thấy lượng rác thải sinh hoạt ngày một tăng và có ở khắp mọi nơi trên địa bàn thị trấn. Đó là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí. Bên cạnh đó vẫn đề quản lý môi trường ở các cấp, các nghành vẫn còn bộc lộ nhiều yếu kém và bất cập, Các văn bản luật không đồng nhất, chưa đi sau vào thực tiễn, đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về môi trường chưa được đào tạo một cách toàn diện, chủ yếu làm kiêm nhiệm... và người dân còn thiếu hiểu biết về môi trường nên ý thức bảo vệ môi trường còn chưa cao. Do đó công tác quản lý rác thải là vẫn đề cần được quan tâm hơn, trong quá trình phát triển và nhằm đảm bảo được mục tiêu phát triển về kinh tế, xã hội và môi trường. Trước tình hình cấp thiết nói trên và nhằm đánh giá về công tác quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt tại thị trấn Vụ Bản huyện Lạc Sơn, qua đó để đề xuất một số giải pháp phù hợp để góp phần bảo vệ môi trường của huyện. Tôi được sự đồng ý của ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Tài Nguyên & Môi Trường - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, đồng thời dưới sự hướng dẫn trực tiếp của ThS Trương Thành Nam nên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng công tác quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt tại thị trấn Vụ Bản - huyện Lạc Sơn - tỉnh Hoà Bình”. 1.2. Mục tiêu của đề tài Trước sức ép ngày càng gia tăng về khối lượng chất thải rắn sinh hoạt hệ thống quản lý còn có nhiều yếu kém trong các khâu thu gom, vận chuyển, cũng như trong các khâu tổ chức xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thị trấn, vì vậy đề tài được thực hiện với mục tiêu: - Đánh giá đúng hiện trạng công tác quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn. - Từ đó xây dựng các giải pháp về quản lý, thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt tốt hơn, hợp lý với nền kinh tế của thị trấn nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường và góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt để bảo vệ môi trường và sức khỏe nhân dân. 1.3. Yêu cầu của đề tài - Nắm được cơ sở pháp lý trong quản lý, xử lý ô nhiễm môi trường - Nắm được luật bảo vệ môi trường, các văn bản quy định của nhà nước và địa phương về quản lý rác thải sinh hoạt. - Đánh giá đúng thực trạng quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt tại địa bàn thực hiện đề tài. - Đề xuất các giải pháp về công tác quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt tại địa phương được tốt nhất 1.4. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học + Kết quả đề tài là tài liệu tham khảo và tài liệu cho các nghiên cứu khoa học khác có liên quan đến mảng kiến thức này. Đồng thời bổ sung thêm thông tin, số liệu về hiện trạng công tác quản lý rác thải sinh hoạt năm 2011 cho huyện Lạc Sơn. + Giúp cho sinh viên củng cố hệ thống hoá kiến thức đã học, và áp dụng vào thực tế, và tạo điều kiện cho sinh viên tiếp cận với những nghiên cứu khoa học, nâng cao kiến thức, tích luỹ kinh nghiệm để áp dụng vào thực tế. + Đánh giá công tác quản lý, thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt tại thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình. - Ý thực tiễn + Đánh giá đúng hiện trạng công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại thị trấnVụ Bản. + Đề xuất một số giải pháp có tính khả thi, nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý rác thải sinh hoạt để cải thiện và góp phần bảo vệ môi trường sống nhằm bảo vệ sức khỏe cho nhân dân. Qua đó thấy được hiệu quả kinh tế do công tác quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt mang lại, góp phần khẳng định, chứng minh chất thải là tài nguyên quý giá, từ đó nâng cao ý thức của người dân trong việc tái chế tái sử dụng rác thải và bảo vệ lấy môi trường sống của mình. Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1. Cơ sở khoa học của đề tài 2.1.1. Một số khái niệm - Rác thải là chất thải rắn được hiểu là những vật ở dạng rắn do hoạt động của con người(sinh hoạt, sản xuất, tiêu dùng....) và động vật gây ra. Đó là những vật đã bỏ đi, thường ít được sử dụng hoặc ít có ích và không có lợi cho con người. - Rác thải sinh hoạt là loại rác thải có liên quan đến các hoạt động con người, các nguồn tạo ra rác thải sinh hoạt là các trường học, cơ quan, trung tâm, dịch vụ, - Quản lý chất thải là các hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu trữ và xử lý nhằm làm giảm và hạn chế các tác động của chất thải tới môi trường. - Tái chế chất thải rắn: thực chất người ta lấy lại những phần vật chất của sản phẩm hàng hoá cũ và sử dụng các nguyên liệu này để tạo ra sản phẩm mới. - Tái sử dụng chất thải: thực chất có những sản phẩm hoặc nguyên liệu có quãng đời kéo dài, người ta có thể sử dụng được nhiều lần mà không bị thay đổi hình dạng vật lý, tính chất hoá học( Nguyên Thế Chinh 2003) - Chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh: Là hoạt động chôn lấp phù hợp với các yêu cầu của tiêu chuẩn kỹ thuật về bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh. 2.1.2. Các nguồn phát sinh Khối lượng rác thải sinh hoạt ngày càng tăng do tác động của vẫn đề tăng dân số, sự phát triển kinh tế - xã hội, sự thay đổi tính chất tiêu dùng ở các đô thị và vùng nông thôn. Trong các nguồn chủ yếu phát sinh gồm: - Từ các khu dân cư(một hộ, nhiều hộ...) phần lớn do sinh hoạt. - Từ thương mại (các cửa hàng, chợ..) - Từ các khu trống của thị trấn( bến xe, công viên...) - Từ các khu công nghiệp của thị trấn. - Từ nông nghiệp. Sơ đồ thể hiện nguồn phát sinh rác thải Rác thải rắn Cơ quan trường học Chính quyền địa phương Bệnh viện, cơ sở y tế Nơi vui chơi, giải trí Khu công nghiệp, nhà Chợ, bến xe, nhà ga Giao thông, xây dựng Nhà dân, khu dân cư Hình 2.1 Sơ đồ thể hiện nguồn gốc phát sinh rác thải sinh hoạt Nhờ việc đánh giá tìm hiểu các nguồn phát sinh ra rác thải, giúp chúng ta có thể quản lý và thu gom tốt hơn đặc biệt là góp phần cho việc ứng dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật giảm thiểu ảnh hưởng của rác thải đến môi trường không khí, đất, nước. 2.1.3. Phân loại chất thải rắn Hoạt động phân loại chất thải rắn là bước không thể thiếu để sử dụng lại, tái chế, làm nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp, làm phân, tạo khí metan phục vụ cho các hoạt động khác Chính vì vậy, nó tạo tiền đề để giảm thiểu tác động có hại chất thải rắn đến môi trường. Phân loại chất thải rắn có thể dựa vào nguồn gốc, trạng thái, tính chất của chất thải và có thể tiến hành phân loại ngay ở các hộ gia đình, các điểm trung chuyển, các bãi tập trung chất thải. 2.1.3.1. Phân loại chất thải theo nguồn gốc phát sinh - Chất thải sinh hoạt: Phát sinh hàng ngày ở đô thị, làng mạc, khu du lịch, nhà ga, trường học, công viên - Chất thải công nghiệp: Phát sinh trong quá trình sản xuất công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, chế biến nông sản trước và sau thu hoạch - Chất thải nông nghiệp: phát sinh trong quá trình trồng trọt và chăn nuôi - Chất thải thương mại và dịch vụ du lịch: hoạt động thương mại, du lịch.... 2.1.3.2. Phân loại theo trạng thái chất thải - Chất thải trạng thái rắn: Bao gồm chất thải sinh hoạt, chất thải nhà máy chế tạo máy, xây dựng (kim loại, da, hóa chất đơn nhựa, thủy tinh, vật liệu xây dựng..vv.) - Chất thải lỏng: Phân bùn bể phốt, nước thải từ nhà máy lọc dầu, rượu bia, nước thải nhà máy sản xuất giấy và vệ sinh công nghiệpv..v. - Chất thải trạng thái khí: Bao gồm khí thải các động cơ đốt trong, máy động lực, giao thông, ô tô, máy kéo, tàu hỏa, nhà máy nhiệt điện, sản xuất vật liệu 2.1.3.3. Phân loại theo tính chất nguy hại - Vật phẩm nguy hại sinh ra tại các bệnh viện trong quá trình điều trị người bệnh(các loại vật phẩm gây bệnh thông thường được xử lý ở chế độ nhiệt cao, từ 11500C trở lên, cá biệt có loại vi sinh vất gây bệnh bị tiêu diệt khi nhiệt xử lý lên tới 30000C) - Kim loại nặng: Các chất thải sinh ra trong quá trình sản xuất công nghiệp có thành phần As, Pb, Hg, Cd là mầm mống gây bệnh ung thư cho con người. - Các chất phóng xạ, các phế thải có phóng xạ sinh ra qua quá trình xử lý giống cây trồng, bảo quản, khai khoáng năng lượng(PGS. Nguyễn Xuân Nguyên và cs, 2004). 2.1.3.4. Phân loại CTR tại các hộ gia đình - Phân loại chất thải rắn tại các hộ gia đình là bước đầu tiên giúp cho công tác xử lý tiếp theo được thuận lợi hơn ngay tại các gia đình, chung cư các chất thải rắn được phân loại theo đặc điểm lý, hoá hoặc theo kích thước của nó. Ví dụ như túi đựng rác thực phẩm, túi đựng giấy, báo cũ, túi đựng vỏ chai, mảnh thuỷ tinh vỡ, - Ở các nước phát triển việc phân loại chất thải rắn tại gia đình đã trở thành quy định và mọi gia đình đều tuân thủ. 2.1.3.5. Tại trạm trung chuyển rác - Trong trạm trung chuyển rác công tác phân loại rác được tiến hành, tại đây người ta phân loại rác bằng các phương pháp như ly tâm, thổi khí, từ tính và các thiết bị kèm theo. - Ở các đô thị của nước ta, trạm trung chuyển rác chưa được hình thành mà đang tồn tại các điểm rác tạm thời là nơi tập trung rác thu gom được từ 1, hoặc 2, 3 đường phố, khu chung cư, Thời gian lưu giữ của những đống rác này chỉ khoảng 2 - 3 giờ, sau đó nó được chở đến bãi thải của địa phương. 2.1.3.6. Phân loại rác tại bãi rác - Ở các nước phát triển, loại rác thải không còn sử dụng vào mục đích nào khác sẽ được chở đến bãi thải và được chôn lấp cẩn thận. Do đó công tác phân loại ít được tiến hành tại đây. - Đối với nước ta, nhặt rác (một hình thức phân loại rác) không chỉ tiến hành tại các bãi rác tập trung của đô thị mà còn được thực hiện tại các điểm đổ rác nhỏ trong thành phố, thị trấn. - Hàng ngày những người nhặt rác đào bới các đống rác để thu nhặt nhiều loại rác có thể sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau. Công việc này thường thực hiện bằng tay và không an toàn về mặt vệ sinh 2.1.4. Ảnh hưởng của chất thải rắn đến sức khỏe cộng đồng và môi trường. 2.1.4.1. Ảnh hưởng của chất thải rắn đến sức khỏe cộng đồng. - Việt Nam đang đối mặt với nhiều nguy cơ lây lan bệnh truyền nhiễm, gây dịch bệnh nguy hiểm do môi trường đang bị ô nhiễm. - Ô nhiễm môi trường ở nước ta đã gia tăng tới mức độ nghiêm trọng ảnh hưởng tới sức khoẻ người dân, ngày càng có nhiều người phải nhập viện về vấn đề sức khoẻ liên quan tới yếu tố môi trường bị ô nhiễm. - Theo đánh giá của các chuyên gia, chất thải rắn đã ảnh hưởng rất lớn đến đời sống hàng ngày và sức khoẻ của cộng đồng sống xung quanh nơi bị ô nhiễm, nghiêm trọng nhất là đối với dân cư sống ở khu vực làng nghề, khu công nghiệp, bãi chôn lấp chất thải và vùng nông thôn ô nhiễm chất thải rắn đến mức báo động. - Đã xuất hiện nhiều bệnh như đau mắt, bệnh đường hô hấp, bệnh ngoài da, tiêu chảy, dịch tả, thương hàndo chất thải rắn gây ra. - Đội ngũ lao động của các đơn vị làm vệ sinh đô thị phải làm việc trong điều kiện nặng nhọc, ô nhiễm nặng, cụ thể nồng độ bụi vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 1,5 đến 1,9 lần, khí độc vượt tiêu chuẩn cho phép từ 0,5 đến 0,9 lần, các loại vi trùng, siêu vi trùng, nhất là trứng giun, trực tiếp ảnh hưởng đến sức khoẻ của họ. 2.1.4.2. Chất thải làm giảm mỹ quan của thị trấn. - Nếu việc thu gom và vận chuyển rác thải không hết sẽ dẫn đến tình trạng tồn đọng chất thải trong các đô thị, làm mất mỹ quan, gây cảm giác khó chịu cho người dân sống xung quanh ở đây. - Không thu hồi và tái chế được các thành phần có ích trong chất thải, gây ra sự lãng phí về của cải, vật chất cho xã hội. - Chất thải bị tồn đọng nhiều và không có biện pháp xử lý kịp thời sẽ gây ra ảnh hưởng xấu tới môi trường xung quanh, gây ra mất cảnh quan của đô thị cũng như môi trường sống của các loài sinh vật sống trong môi trường đó từ đó có khả năng làm suy giảm các tài nguyên quý hiếm và không thể nào khôi phục lại được, như tuyệt chủng các loại động vật quý, môi trường đất, nước bị ô nhiễm nặng. 2.1.4.3. Chất thải rắn làm ô nhiễm môi trường. - Chất thải rắn đổ bừa bãi xuống cống rãnh, ao, hồ, kênh, rạchlàm quá tải thêm hệ thống thoát nước đô thị, là nguồn gây ô nhiễm cho nguồn nước mặt và nước ngầm. Khi có mưa lớn sẽ gây ô nhiễm trên diện rộng đối với các đường phố bị ngập. - Trong môi trường khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều, chất thải bị thối rữa nhanh là nguyên nhân gây ra mùi khó chịu và dịch bệnh, nhất là chất thải độc hại, chất thải bệnh viện. - Các bãi rác không hợp vệ sinh là các nguồn gây ô nhiễm nặng cho cả đất, nước, không khí. 2.2. Cơ sở pháp lý của đề tài. - Hiến pháp 1992 nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. - Căn cứ luật BVMT 2005, ban hành ngày 29/11/2005 có hiệu lực ngày 01/07/2006. - Căn cứ vào các NĐ 21/2008/NĐ – CP ngày 28/02/2008 của chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều NĐ 80/2006. - Căn cứ NĐ 81/2006/NĐ – CP ngày 9/8/2006 của chính phủ khi xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT. - Chỉ thị số 23/2005/CT – TTg ngày 21/6/2005 của thủ tướng chính phủvề thu gom và quản lý chất thải rắn đã ghi: “khuyến khích 100% đô thị thực hiện công tác xã hội, công tác quản lý và xử lý chất thải rắn thông qua cơ chế đặt hàng hay đấu thầu dịch vụ trên cơ sở đảm bảo và an ninh môi trường”. - NĐ 67/2003/NĐ – CP của chính phủ về phí BVMT đối với chất thải. - NĐ 04/2007/NĐ – CP về sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định số 67/2003 - NĐ 174/2007/NĐ – CP ngày 29/11/2007 về phí BVMT đối với chất thải rắn. - Nghị định 80/2006/NĐ – CP ngày 09/08/2006 của chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật bảo vệ môi trường: Nghị định số 21/2008/NĐ – CP ngày 28/2/2008 của chính phủ về sửa đổi bổ sung một số điều trong Nghị định số 80/2006/NĐ – CP 09/08/2006. - Nghị định số 59/NĐ – CP ngày 4/2007 của chính phủ về quản lý CTR. - Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT – BKKHCNMT – BXD ngày 18/01/2001 về hướng dẫn các quy định về BVMT đối với việc lựa chọn địa điểm xây dựng và vận hành bãi chôn lấp CTR. - Thông tư số 13/2007/2007/TT – BXD ngày 31/12/2007 của bộ xây dựng hướng dẫn một số điều của nghị định 59/2007/NĐ – CP ngày 09 tháng 04 năm 2007 của chính phủ về quản lý CTR. - Quy chế bảo vệ môi trường trên địa bàn thị trấn vụ bản ban hành theo quyết định số 18/2007/QĐ – UBND ngày 02/10/2007 của UBND huyện Lạc Sơn. - TCVN 6696 – 2000 Chất thải rắn – Bãi chôn lấp hợp vệ sinh – Yêu cầu chung về bảo vệ môi trường. 2.3. Tình hình quản lý, xử lý chất thải sinh hoạt trên thế giới và Việt Nam. 2.3.1. Tình hình quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt trên thế giới. 2.3.1.1. Tình hình phát sinh rác thải sinh hoạt trên thế giới. Tình hình chung trên thế giới: Ước tính hàng năm lượng chất thải được thu gom trên thế giới từ 2.5 đến 4 tỷ tấn (ngoại trừ các lĩnh vực xây dựng và tháo dỡ, khai thác mỏ và nông nghiệp) .Năm 2004, tổng lượng chất thải đô thị được thu gom trên toàn thế giới ước tính là 1.2 tỷ tấn. Con số này thực tế chỉ gồm các nước OECD các khu đô thị mới nổi và các nước đang phát triển. Bảng 2.1. Thu gom chất thải rắn đô thị trên toàn thế giới năm 2004 (triệu tấn) Các nước thuộc tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD 620 Cộng đồng các quốc gia độc lập( trừ các nước ở biển ban tích) 65 Châu Á (trừ các nước thuộc OECD) 300 Trung Mỹ 30 Nam Mỹ 86 Bắc Phi & Trung Đông 50 Châu Phi cận sahara 53 Tổng số 1.204 Nếu các số liệu trên đổi thành đơn vị tấn chất thải rắn được thu gom mỗi năm trên đầu người, thì tại các khu đô thị ở các nước như Hoa Kỳ, có đến hơn 700kg chất thải và gần 150 kg ở Ấn Độ. Tỷ lệ phát sinh chất thải đô thị cao đó là Hoa Kỳ tiếp sau là Tây Âu và Ôxtrâylia( 600 – 700kg/người), sau đó đến Nhật Bản, Hàn Quốc và Đông Âu (300 – 400kg/người). 2.3.1.2. Tình hình quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt trên thế giới * Singapo: Là một nước nhỏ, không có nhiều diện tích đất chôn lấp chất thải rắn như những quốc gia khác nên đã kết hợp xử lý rác bằng phương pháp đốt và chôn lấp. Cả nước Singapo có 3 nhà máy đốt rác. Những thành phần rác thải rắn không cháy được chôn lấp ở bãi rác ngoài biển. Bãi chôn lấp rác Semakau được xây dựng bằng cách đắp đê ngăn nước biển ở một đảo nhỏ ngoài khơi Singapo. Rác thải từ các nguồn khác nhau sau khi thu gom được đưa đến trung tâm phân loại rác. Ở đây rác được phân loại ra những thành phần cháy được và thành phần khồng cháy được. Những chất chất cháy được thì chuyển tới các nhà máy đốt rác còn những chất thải mà không cháy được thì chuyển tới khu chôn lấp, trong quá trình đưa tới thì ta phải có một công đoạn là đưa rác lên các loại phương tiện vận chuyển rác. Các công đoạn trong hệ thống quản lý rác của Singapo hoạt động hết sức nhịp nhàng và ăn khớp với nhau từ thu gom, phân loại, vận chuyển đến khâu xử lý bằng phương pháp đốt cho đến cuối cùng là chôn lấp. Xử lý khí thải từ các lò đốt được thực hiện theo quy trình nghiêm ngặt để tránh sự chuyển dịch ô nhiễm từ dạng rắn sang dạng khí. Xây dựng bãi chôn lấp rác trên biển sẽ tiết kiệm được đất đai trong đất liền và mở rộng thêm đất khi đóng bãi. Tuy nhiên việc xây dựng những bãi chôn lấp rác như vậy đòi hỏi phải có sự đầu tư ban đầu rất lớn. Mặt khác, việc vận hành bãi rác phải tuân theo những qui trình nghiêm ngặt để đảm bảo sự an toàn của công trình và bảo vệ môi trường. * Hồng Kông: Hồng Kông là một thành phố đông đúc và náo nhiệt với số dân khoảng 6.9 triệu người, là một trong những khu vực có mật độ dân cư lớn nhất thế giới, mỗi ngày thải ra khoảng 7.700 tấn chất thải. Cơ quan bảo vệ môi trường Hồng Kông (EPD) đã phân chất thải thành nhiều loại khác nhau, mỗi loại chất thải đòi hỏi phải có phương pháp xử lý riêng. Thách thức đối với Hồng Kông là việc quản lý các loại chất thải đang gia tăng( kể từ năm 1986 tăng 3% mỗi năm) và việc tìm kiếm các bãi đổ chất thải thay thế bãi chôn lấp hiện nay đã quá tải. Với sự gia tăng về dân số và kinh tế phát triển, năm 1990, lượng chất thải sinh hoạt tính theo đầu người tăng từ 0.95 lên 1.11 kg/người/ngày trong năm 2002. Với tình trạng này, Hồng Kông sẽ hết nơi chôn lấp chất thải sớm hơn dự tính. Ở Hồng Kông, EPD quản lý các phương tiện thu gom, vận chuyển, xử lý và tiêu huỷ các loại chất thải. Mô hình quản lý chất thải này dựa trên điều kiện môi trường đô thị đặc trưng với khoảng không gian chật hẹp và mật độ dân số cao. EPD giám sát việc xây dựng trung tâm xử lý chất thẩi hoá học, 3 bãi chôn lấp chiến lược và mạng lưới các trạm trung chuyển chất thải. Hồng Kông cũng đang từng bước loại bỏ các bãi chôn lấp cũ, không hợp lý về mặt môi trường cải tạo chúng thành những nơi an toàn, mở rộng thêm các khu vui chơi, giải trí như sân vận động và sân gôn. Các trạm trung chuyển chất thải là những điểm tập trung thu gom vận chuyển chất thải các bãi chôn lấp. chất thải từ những xe thu gom nhỏ được nén chặt và chuyển sang các công – ten – nơ, sau đó đưa ra bãi chôn lấp ở địa phương bằng loại xe tải hoặc đưa ra biển bằng các xuồng lớn. Hiện nay ở Hồng Kông có 8 trạm trung chuyển chất thải. Nước thải và chất thải từ 8 trạm trung chuyển chất thải đều được kiểm soát. Tất cả các dòng thải đáp ứng tiêu chuẩn thải theo biên bản kỹ thuật dự thảo về quy định kiểm soát ô nhiễm nước. Lượng chất thải được xác định và các mẫu được gửi đi phân tích ở phòng thí nghiệm. Những thuận lợi trong việc sử dụng các trạm trung chuyển thay cho việc vận chuyển trực
Luận văn liên quan