Đề tài Giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của việc tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu

Mục đích của Pháp luật khởi nguồn từ chính những nhu cầu thường ngày của mỗi con người, là công cụ phục vụ, bảo vệ lợi ích mọi thành viên trong xã hội của Nhà Nước. Nảy sinh từ nhu cầu sản xuất, nhu cầu kinh doanh cũng như các nhu cầu khác, Nhà nước thấy cần thiết phải có những phương tiện pháp lý nhằm đáp ứng những nhu cầu ngày càng tăng đó của con người. Giao dịch dân sự chính là một trong những phương tiện pháp lý quan trọng nhất trong giao lưu dân sự, trong việc chuyển dịch tài sản và cung ứng dịch vụ, nghĩa là giao dịch dân sự tạo điều kiện cho các chủ thể tham gia vào đời sống pháp lý để nhằm đáp ứng những nhu cầu, đòi hỏi phục vụ cho những mục đích nhất định từ cuộc sống con người. Giao dịch dân sự là căn cứ phổ biến, thông dụng nhất trong các căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự. Tuy nhiên, trong thực tế đời sống pháp luật, có nhiều giao dịch dân sự được xác lập nhưng có thể sẽ bị tuyên bố là vô hiệu hoặc sẽ vô hiệu (về nguyên tắc chung giao dịch dân sự vô hiệu sẽ không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên từ thời điểm xác lập). Đứng trước thực tế đó đòi hỏi cần có sự nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện vấn đề “ Giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của việc tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu”. Giải quyết tốt vấn đề này sẽ tạo điều kiện cho các chủ thể tham gia giao dịch dân sự hợp pháp, hiệu quả.

doc19 trang | Chia sẻ: ngtr9097 | Ngày: 27/05/2013 | Lượt xem: 4065 | Lượt tải: 8download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của việc tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
A. MỞ ĐẦU : Mục đích của Pháp luật khởi nguồn từ chính những nhu cầu thường ngày của mỗi con người, là công cụ phục vụ, bảo vệ lợi ích mọi thành viên trong xã hội của Nhà Nước. Nảy sinh từ nhu cầu sản xuất, nhu cầu kinh doanh cũng như các nhu cầu khác, Nhà nước thấy cần thiết phải có những phương tiện pháp lý nhằm đáp ứng những nhu cầu ngày càng tăng đó của con người. Giao dịch dân sự chính là một trong những phương tiện pháp lý quan trọng nhất trong giao lưu dân sự, trong việc chuyển dịch tài sản và cung ứng dịch vụ, nghĩa là giao dịch dân sự tạo điều kiện cho các chủ thể tham gia vào đời sống pháp lý để nhằm đáp ứng những nhu cầu, đòi hỏi phục vụ cho những mục đích nhất định từ cuộc sống con người. Giao dịch dân sự là căn cứ phổ biến, thông dụng nhất trong các căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự. Tuy nhiên, trong thực tế đời sống pháp luật, có nhiều giao dịch dân sự được xác lập nhưng có thể sẽ bị tuyên bố là vô hiệu hoặc sẽ vô hiệu (về nguyên tắc chung giao dịch dân sự vô hiệu sẽ không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên từ thời điểm xác lập). Đứng trước thực tế đó đòi hỏi cần có sự nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện vấn đề “ Giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của việc tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu”. Giải quyết tốt vấn đề này sẽ tạo điều kiện cho các chủ thể tham gia giao dịch dân sự hợp pháp, hiệu quả. B. NỘI DUNG : I. Khái quát về giao dịch dân sự : Xét dưới góc độ cơ sở hình thành, giao dịch dân sự được hình thành từ hai tiền đề sau: - Tiền đề khách quan: Xã hội càng phát triển, con người càng tham gia vào nhiều giao dịch dân sự khác nhau để thỏa mãn nhu cầu của mình. Lịch sử xã hội loài người đã chứng minh rằng một xã hội sẽ không phát triển nếu chỉ có trao đổi hàng hóa trong một phạm vi hẹp. Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của đời sống kinh tế - xã hội, các giao dịch dân sự nói chung, giao dịch dân sự nói riêng là phương tiện hữu hiệu để thỏa mãn quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể. - Tiền đề chủ quan: tham gia giao dịch dân sự của chủ thể nhằm thỏa mãn lợi ích vật chất hoặc tinh thần của mình, do đó việc tham gia bất cứ một giao dịch dân sự nào là hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của chủ thể tham gia giao dịch dân sự đó. Nếu tham gia giao dịch không có sự tự nguyện của chủ thể thì giao dịch dân sự đó có thể bị vô hiệu. Tuy nhiên ý chí của chủ thể tham gia giao dịch không được trái với ý chí của Nhà nước. Trước khi có BLDS 1995, chúng ta chưa có quy định riêng về giao dịch dân sự và giao dịch dân sự được đề cập dưới góc độ là hợp đồng dân sự ( Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991 ) hoặc ý chí đơn phương của chủ thể trong việc lập di chúc ( Pháp lệnh Thừa kế ngày 30/8/1990 ). Phải đến khi BLDS 1995 ra đời, giao dịch dân sự mới được tách thành các quy định riêng, chính thức về khái niệm, điều kiện có hiệu lực... Và BLDS 2005, đã kế thừa và phát huy trên nền tảng cơ sở đó đồng thời bổ sung, sửa đổi, ngày càng hoàn thiện hơn về các vấn đề có liên quan đến giao dịch dân sự. Qua đó, theo điều 121, BLDS 2005 quy định: “ Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.” Từ khái niệm được quy định tại Điều 121 BLDS 2005, giao dịch dân sự được hiểu là một dạng của quan hệ pháp luật dân sự được phát sinh trên cơ sở một sự kiện pháp lí, một hành vi có chủ định của các chủ thể quan hệ pháp luật dân sự như cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác... nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự. Bên cạnh đó, giao dịch dân sự là hành vi có ý thức của chủ thể nhằm đạt được mục đích nhất định vì thế giao dịch dân sự là hành vi pháp lí mang tính ý chí của chủ thể tham gia giao dịch. Đó là sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí. Với ý nghĩa là quy định chung cho hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương nên các quy định về giao dịch dân sự sẽ được áp dụng cho các quy định về hợp đồng và quy định cho các hành vi pháp lý đơn phương cụ thể. Xét dưới góc độ là căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt nghĩa vụ dân sự thì giao dịch dân sự được coi là căn cứ phổ biến nhất làm phát sinh nghĩa vụ dân sự. Tuy nhiên, việc xác lập giao dịch dân sự được thực hiện bởi các chủ thể với những mục đích, nội dung cụ thể… phải phù hợp với quy định của pháp luật, có như vậy thì quyền và nghĩa vụ của chủ thể phát sinh từ giao dịch mới có thể được bảo đảm thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế của Nhà nước. II. Giao dịch dân sự vô hiệu : 1. Khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu : Theo quy định tại Điều 127, BLDS 2005, chúng ta có thể hiểu về giao dịch dân sự vô hiệu như sau: “ Giao dịch dân sự vô hiệu là giao dịch dân sự không thỏa mãn một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự do pháp luật quy định.” Như vậy, giao dịch dân sự vô hiệu được xác định trên cơ sở các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự. Tính vô hiệu của giao dịch dân sự được thể hiện ở chỗ nó không làm phát sinh hậu quả pháp lí mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch dân sự đó. Ví dụ như: buôn bán vũ khí, buôn bán trẻ con… Ngoài ra cần chú ý thêm ngoài ba điều kiện cơ bản theo khoản 1 Điều 122 BLDS 2005 thì còn một điều kiện nữa cũng xác định tính hiệu lực của giao dịch dân sự đó là trường hợp liên quan đến hình thức của giao dịch được quy định tại khoản 2 Điều 122 BLDS. Khái quát lại, các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự là một thể thống nhất. Bởi vậy, để kết luận giao dịch dân sự có hiệu lực hay không cần phải đặt nó vào tổng thể của mối quan hệ biện chứng này. Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu được quy định tại Điều 136 BLDS 2005. Theo đó, thời hiệu khởi kiện là hai năm kể từ ngày giao dịch được xác lập do người không đủ năng lực hành vi, do nhầm lẫn, đe dọa, lừa dối hay do không tuân thủ các quy định bắt buộc về hình thức. Hết thời hạn hai năm, chủ thể sẽ không còn quyền yêu cầu Tòa tuyên giao dịch vô hiệu nữa. Và cũng theo Điều 136b BLDS 2005, những giao dịch vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội; giao dịch giả tạo thì không bị hạn chế về thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố không có hiệu lực bởi đây là những giao dịch mà mức độ vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Nghĩa là bất cứ lúc nào chủ thể cũng có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu thậm chí nếu chủ thể không có yêu cầu thì giao dịch đó cũng bị xác định là không có hiệu lực. 2. Phân loại giao dịch dân sự vô hiệu: BLDS Việt Nam 2005 thực tế chưa có điều khoản cụ thể nào quy định chính xác về cách phân loại giao dịch dân sự vô hiệu. Tuy nhiên có thể dựa vào một số tiêu chí cơ bản để phân loại. Có 7 loại giao dịch dân sự sẽ bị tuyên bố vô hiệu đó là giao dịch dân sự do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội; giao dịch dân sự do vi phạm các quy định bắt buộc về hình thức của giao dịch;giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo; giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập; giao dịch dân sự do nhầm lẫn; giao dịch dân sự do bị lừa dối, đe dọa và cuối cùng là giao dịch dân sự do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Tuy nhiên 7 loại giao dịch dân sự vô hiệu này có thể chia làm 2 nhóm chính là vô hiệu tương đối và vô hiệu tuyệt đối. 2.1. Giao dịch dân sự vô hiệu tương đối: 2.1.1. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn ( Điều 131 BLDS 2005 ): Trước khi yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó. Nếu bên bị nhầm lẫn đã yêu cầu mà nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu. Tuy nhiên, hiện nay pháp luật không quy định cụ thể, theo đó một người bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu ngay hay buộc họ phải thông qua một trình tự bắt buộc là yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch. Theo đó, vi phạm điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự tại điểm c khoản 122. Từ đó, để đảm bảo quyển lợi của các bên, pháp luật dân sự Việt Nam quy định: “ Khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch dân sự mà xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu. Trong trường hợp một bên do lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch thì được giải quyết theo quy định tại Điều 132 của Bộ luật này. Như vậy, bản thân chủ thể xác lập giao dịch có sự nhầm lẫn nhưng chỉ xác định là giao dịch có yếu tố nhầm lẫn nếu chủ thể phía bên kia chỉ có lỗi vô ý. Trường hợp lỗi cố ý, tính chất của giao dịch sẽ trở thành lừa dối chứ không đơn thuần là nhầm lẫn nữa. Phân tích cụ thể hơn, nhầm lẫn về nội dung của giao dịch dân sự thể hiện dưới ba dạng sau : Một là. Nhầm lẫn về mục đích. Đó là sự không chính xác về ý chí của các bên tham gia vào giao dịch dân sự đó. Ví dụ: A đưa cho B mượn một chiếc xe đạp nhưng B lại cho rằng A cho mình chiếc xe đạp đó vì A đưa xe thì không thấy A nhắc gì đến thời gian lấy lại. Hai là, Nhầm lẫn về dối tượng của giao dịch dân sự bao gồm sự hình dung sai về bản chất của đối tượng cũng như tính chất cơ bản của đối tượng giao dịch mà các bên xác lập. Ví dụ: A đi mua một chiếc đồng hổ cổ, vì khi mua A nghĩ nó là đồ cổ nhưng thực ra A đã nhầm với đồ Trung Quốc. Ba là, Nhầm lẫn về chủ thể. Đây là sự nhầm lẫn liên quan đến phẩm chất, tài năng của con người là những yếu tố mang tính chất quyết định để các bên tham gia xác lập giao dịch. Ví dụ: A xem trên mạng và đi may tại nhà may của ông B do A cứ nghĩ là ông B là thợ may giỏi nhưng thật sự A đã nhầm với người thợ may khác do B với người đó tên giống nhau. 2.1.2. Giao dịch dân sự vô hiệu do được thiết lập bởi người không nhận thức được hành vi của mình ( Điều 133 BLDS 2005 ): Đây là trường hợp bản thân chủ thể vẫn hoàn toàn nhận thức, làm chủ được hành vi của mình nhưng đúng vào thời điểm xác lập giao dịch dân sự thì họ lại không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Ví dụ: A có một mảnh vườn rất rộng và đẹp, B rất muốn mua đất của A nhưng dù có ra giá bao nhiêu A vẫn không chịu bán, trong lúc A say rượu B đã đưa hợp đồng mua – bán nhà cho B kí. Việc không nhận thức và làm chủ được hành vi của bản thân khi xác lập giao dịch thì có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu. Việc không nhận thức và làm chủ được hành vi của chủ thể khi xác lập giao dịch có thể do ý chí chủ quan của người này nhưng cũng có thể do những nguyên nhân khách quan hoặc từ phía chủ thể khác. Đây là yếu tố hết sức quan trọng cần phải được xác định cụ thể để đảm bảo quyền lợi cho các chủ thể tham gia giao dịch. 2.1.3. Giao dịch dân sự vô hiệu do lừa dối, đe dọa ( Điều 132 BLDS 2005 ): Điều 132 BLDS 2005, “ Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó “ Hành vi lừa dối có thể được thực hiện bởi một bên trong giao dịch nhưng cũng có thể được thực hiện bởi người thứ ba với lỗi cố ý. Mục đích của hành vi lừa dối là cố ý làm cho bên kia hiểu sai về chủ thể hay tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch. Ví dụ: những người bán hàng biết chân gà, cánh gà được nhập từ Trung Quốc nhưng vẫn giao cho các của hàng chế biến thực phẩm hay như sữa nhiễm medamine người bán hàng biết nhưng vẫn bán cho người tiêu dùng, bán hàng do những người bán hàng biết chân gà, cánh gà được nhập từ Trung Quốc nhưng vẫn giao cho các của hàng chế biến thực phẩm hay như sữa nhiễm medamine người bán hàng biết nhưng vẫn bán cho người tiêu dùng, bán hàng do Trung Quốc sản xuất nhưng vẫn nói là do Nhật Bản sản xuất… Như vậy, hành vi lừa dối có thể được bởi một trong giao dịch, nhưng cũng có thể thực hiện bởi người thứ ba với lỗi cố ý. Múc đích của việc lừa dối là nhằm làm cho ben kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất hoặc nội dung của giao dịch. “ Đe dọa trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứu ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình. ” Đe dọa trong giao dịch dân sự là một bên chủ thể tham gia giao dịch không có sự tự nguyện mà phải làm theo ý chí của chủ thể khác. Hành vi đe dọa có thể được thực hiện từ chủ thể trong giao dịch hoặc từ người thứ ba (thuê, nhờ người khác…). Đe dọa có thể về tinh thần hoặc thể chất tuy nhiên không phải đe dọa nào cũng coi là hành vi trái pháp luật vì vậy phải thỏa mãn các điều kiện như đe dọa phải có thực và mang tính chất nghiêm trọng như nhận được lời đe dọa từ người khác, đe dọa khiến chủ thể bị tác động và không thể làm khác… Ví dụ: A nhập khẩu từ công ty B 1000 máy tính mới, nhưng qua kiểm tra thì toàn máy tính đã qua sử dụng, A yêu cầu B hoàn trả tiền nhưng B đã đe dọa sẽ nói chuyện A ngoại tình cho vợ A và mọi người biết như vậy nếu A kiện ra tòa thì theo điều 132 BLDS 2005 giao dịch dân sự này sẽ vô hiệu và A sẽ nhận lại đựoc tiền của mình. 2.1.4. Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập ( Điều 130 BLDS 2005): Không phải bất kì ai cũng đều có thể trở thành chủ thể của giao dịch dân sự. Điều kiện về chủ thể tham gia xác lập giao dịch dân sự được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 122 BLDS 2005: “ Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự.” Trong đó, “ Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình được xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự.” Khi một giao dịch dân sự đã được xác lập, người ta còn quan tâm đến đến khả năng thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự của các chủ thể cũng như khả năng gánh chịu trách nhiệm dân sự do hành vi vi phạm pháp luật gây nên. Trong khi đó, người không có năng lực hành vi hoặc có năng lực hành vi không đầy đủ thì không thể có đủ điều kiện để tự do thực hiện ý chí của mình, không đủ độ tuổi hoặc khả năng nhận thức để ý đúng về giao dịch và gánh chịu hậu quả phát sinh từ giao dịch. Tuy nhiên giao dịch do những người này xác lập không mặc nhiên bị coi là vô hiệu, mà chỉ vô hiệu khi có yêu cầu của những người đại diện cho họ. Ví dụ: A mới 12 tuổi nhưng do rất mê game vì thế A đã thỏa thuận với người mua chiếc xe để lấy tiền chơi game,Do đó, khi có yêu cầu của người đại diện theo pháp luật, người giám hộ là bố mẹ của A ra Tòa án thì Tòa tuyên bố giao dịch dân sự đó vô hiệu, nghĩa là việc trao đổi, mua bán giữa A với người mua là hoàn toàn không có hiệu lực pháp lí. 2.2. Giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối: 2.2.1 Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo ( Điều 129 BLDS 2005 ): Sự biểu hiện ý chí ra bên ngoài dưới một hình thức nhất định chính là sự thể hiện, tự nguyện của chủ thể. Tuy nhiên, không phải sự tự nguyện nào của chủ thể cũng làm phát sinh hậu quả pháp lý. Có những trường hợp bản thân chủ thể hoàn toàn kiểm soát được sự biểu hiện ý chí ra bên ngoài, không bị tác động bởi bất kỳ yếu tố khách quan nào nhưng cũng không được pháp luật thừa nhận, đó chính là giao dịch dân sự được xác lập do giả tạo. Đối với giao dịch dân sự được xác lập do giả tạo, chủ thể hoàn toàn mong muốn sự thể hiện một ý chí ra bên ngoài dưới một hình thức nhất định mặc dù ý chí đó không phải là ý chí đích thực. Do đó, có thể hiểu giao dịch dân sự được xác định do giả tạo là giao dịch dân sự được xác lập để nhằm che giấu một giao dịch khác hoặc để trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba. Trên cơ sở xác định mục đích của việc xác lập giao dịch giả tạo, Điều 129, BLDS 2005 đã phan chia giao dịch dân sự được xác lập do giả tạo thành hai trường hợp: - Giao dịch dân sự được xác lập với mục đích nhằm che giấu một giao dịch khác: Như vậy, ít nhất trong trường hợp này có hai giao dịch song song tồn tại- đó là giao dịch đích thực ( bên trong ) và giao dịch giả tạo ( bên ngoài ). Ví dụ: Ông A tặng cho con út của mình là B một ngôi nhà, nhưng vì sợ gây mâu thuẫn giữa những người con, ông A và B đã ký hợp đồng mua bán nhà. - Giao dịch dân sự được xác lập với mục đích nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba + Bản thân chủ thể tham gia giao dịch đã tồn tại một nghĩa vụ với một chủ thể khác, do đó để trốn tránh nghĩa vụ này chủ thể đã xác lập giao dịch giả tạo. Ví dụ: Để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ, A đã ký hợp đồng giả tạo bán nhà cho người thân của mình là B để tránh trường hợp ngôi nhà đó có thể bị xử lý để thực hiện nghĩa vụ. + Khi tham gia giao dịch, chủ thể có thể phải thực hiện một nghĩa vụ nhất định đối với Nhà nước nhưng chủ thể đã xác lập giao dịch với sự giả tạo.Ví dụ: A chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho B nhưng nhằm trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế chuyển quyển sử dụng đất, A và B đã ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất. 2.2.2. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội ( Điều 128 BLDS 2005 ): Điều 128 BLDS 2005 quy định: “ Giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức của xã hội thì vô hiệu ”. Hay nói cách khác là vi phạm những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện hoặc vi phạm những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội được cộng đồng thừa nhận và tôn trong đều bị tuyên bố vô hiệu và không phụ thuộc vào ý chí của các bên tham gia giao dịch. Ví dụ: A và B có xác lập giao dịch dân sự, trong đó A sẽ chuyển cho B những động vật quý hiếm, những viên thuốc lắc, hoặc các dĩa văn hóa không lành mạnh thì những giao dịch này khi bị phát hiện mặc nhiên sẽ được tuyên bố là giao dịch dân sự vô hiệu khi đó tài sản giao dịch, lợi tức thu được có thể bị tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước và trong trường hợp có thiệt hại mà các bên đều có lỗi thì họ phải chịu phần thiệt hại tương ứng với mức độ tội lỗi của mình. Trong trường hợp chỉ một bên có lỗi thì bên đó phải bồi thường thiệt hại cho bên kia. 2.2.3. Giao dịch dân sự vô hiệu do hình thức của giao dịch không tuân thủ các quy định bắt buộc của pháp luật (Điều 134 BLDS 2005): Theo nguyên tắc chung thì các chủ thể được tự do lựa chọn hình thức của giao dịch. Chỉ những giao dịch pháp luật quy định bắt buộc phải thể hiện bằng văn bản, phải có chứng thực, chứng nhận, đăng ký hoặc xin phép mà các bên không tuân thủ quy định này mới bị vô hiệu. Khi các bên không tuân thủ các quy định này và có yêu cầu của một hoặc các bên thì tòa án xem xét và “ buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn nhất định ”. Chỉ khi các bên không thực hiện và hoàn tất các quy định về hình thức của giao dịch trong thời hạn do tòa án quyết định thì giao dịch mới vô hiệu. Bên có lỗi làm cho giao dịch vô hiệu phải bồi thường thiệt hại. Ví dụ: Theo khoản 2 Điều 463 BLDS 2005: “ Hợp đồng trao đổi tài sản phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực hoặc đăng kí, nếu pháp luật có quy định.” Nếu trái quy định này, khi phát sinh tranh chấp, sau thời hạn Tòa án quyết định cho các bên thực hiện lại hình thức đúng của giao dịch theo pháp luật mà hình thức vẫn bị vi phạm thì giao dịch đó là giao dịch vô hiệu. III. Hậu quả pháp lí của việc tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu : 1. HẬU QUẢ PHÁP LÝ CHUNG ĐỐI VỚI GIAO DICH DÂN SỰ VÔ HIỆU Theo điều 121 BLDS 2005: "giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương..." mặt khác, Điều 410 có chỉ rõ: các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu từ điều 127 đến điều 138 của Bộ luật này cũng được áp dụng đối với hợp đồng vô hiệu, khi đó xem xét hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu cần căn cứ vào quy định giao dịch dân sự để xem xét. Thứ nhất, Hợp đồng vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao kết Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự, do đó, khi hợp đồng này vô hiệu thì đương nhiên các thỏa thuận đó cũng không đạt được. Điều 137 BLDS 2005, khoản 1 quy định "giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi chấm dứt quyền, nghĩa
Luận văn liên quan