Đề tài Giới thiệu mạng viễn thông thế hệ mới NGN và công nghệ chuyển mạch gói

Tổng đài điện tử SPC (Store Program Controller ) là tổng đài được điều khiển theo chương trình ghi sẵn trong bộ nhớ chương trình điều khiển lưu trữ. Người ta dùng bộ vi xử lý để điều khiển một lượng lớn công việc một cách nhanh chóng bằng phần mềm xử lý đã được cài sẵn trong bộ nhớ chương trình. Phần dữ liệu của tổng đài - như số liệu thuê bao, bảng phiên dịch, xử lý địa chỉ thuê bao, thông tin định tuyến, tính cước - được ghi sẵn trong bộ nhớ số liệu. Nguyên lý chuyển mạch như trên gọi là chuyển mạch được điều khiển theo chương trình ghi sẵn SPC. Tổng đài SPC vận hành rất linh hoạt, dễ bổ sung và sửa chữa. Do đó các chương trình và số liệu được ghi trong bộ nhớ có thể thay đổi theo yêu cầu của người quản lí mạng. Với tính năng như vậy, tổng đài SPC dễ dàng điều hành hoạt động nhanh thoả mãn theo nhu cầu của thuê bao, cung cấp cho thuê bao nhiều dịch vụ. Trong tổng đi điện tử số công việc đo thử trạng thái làm việc của các thiết bị bên trong cũng như các tham số đường dây thuê bao và trung kế được tiến hành tự động và thường kỳ. Các kết quả đo thử và phát hiện sự cố được in ra tức thời hoặc hẹn giờ nên thuận lợi cho công việc bảo dưỡng định kỳ. Thiết bị chuyển mạch của tổng đài SPC làm việc theo phương thức tiếp thông từng phần. Điều này dẫn đến tồn tại các trường chuyển mạch được cấu tạo theo phương thức tiếp thông nên hoàn toàn không gây ra tổn thất dẫn đến quá trình khai thác cũng không tổn thất. Tổng đài điện tử số xử lý đơn giản với các sự cố vì chúng có cấu trúc theo các phiến mạch in liên kết kiểu cắm. Khi một phiến mạch in có lỗi thì nó được tự động phát hiện nhờ chương trình bảo dưỡng và chuẩn đoán.

doc45 trang | Chia sẻ: tuandn | Ngày: 01/02/2013 | Lượt xem: 2237 | Lượt tải: 8download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Giới thiệu mạng viễn thông thế hệ mới NGN và công nghệ chuyển mạch gói, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TỔNG ĐÀI ĐIỆN TỬ SỐ SPC. I. GIỚI THIỆU CHUNG Tổng đài điện tử SPC (Store Program Controller ) là tổng đài được điều khiển theo chương trình ghi sẵn trong bộ nhớ chương trình điều khiển lưu trữ. Người ta dùng bộ vi xử lý để điều khiển một lượng lớn công việc một cách nhanh chóng bằng phần mềm xử lý đã được cài sẵn trong bộ nhớ chương trình. Phần dữ liệu của tổng đài - như số liệu thuê bao, bảng phiên dịch, xử lý địa chỉ thuê bao, thông tin định tuyến, tính cước - được ghi sẵn trong bộ nhớ số liệu. Nguyên lý chuyển mạch như trên gọi là chuyển mạch được điều khiển theo chương trình ghi sẵn SPC. Tổng đài SPC vận hành rất linh hoạt, dễ bổ sung và sửa chữa. Do đó các chương trình và số liệu được ghi trong bộ nhớ có thể thay đổi theo yêu cầu của người quản lí mạng. Với tính năng như vậy, tổng đài SPC dễ dàng điều hành hoạt động nhanh thoả mãn theo nhu cầu của thuê bao, cung cấp cho thuê bao nhiều dịch vụ. Trong tổng đi điện tử số công việc đo thử trạng thái làm việc của các thiết bị bên trong cũng như các tham số đường dây thuê bao và trung kế được tiến hành tự động và thường kỳ. Các kết quả đo thử và phát hiện sự cố được in ra tức thời hoặc hẹn giờ nên thuận lợi cho công việc bảo dưỡng định kỳ. Thiết bị chuyển mạch của tổng đài SPC làm việc theo phương thức tiếp thông từng phần. Điều này dẫn đến tồn tại các trường chuyển mạch được cấu tạo theo phương thức tiếp thông nên hoàn toàn không gây ra tổn thất dẫn đến quá trình khai thác cũng không tổn thất. Tổng đài điện tử số xử lý đơn giản với các sự cố vì chúng có cấu trúc theo các phiến mạch in liên kết kiểu cắm. Khi một phiến mạch in có lỗi thì nó được tự động phát hiện nhờ chương trình bảo dưỡng và chuẩn đoán. II. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN. Viễn thông là cơ sở cho sự phát triển của xã hội. Sự phát triển của cơ sở hạ tầng viễn thông là yếu tố quan trọng thúc đẩy nền kinh tế phát triển góp phần nâng cao đời sống xã hội. Nhờ kế thừa được các thành tựu của khoa học kỹ thuật, ngành công nghiệp điện tử, công nghệ thông tin mà ngành thông tin viễn thông trên thế giới đã có những bước tiến nhảy vọt. Thông tin số đã thâm nhập vào cuộc sống hàng ngày đem lại sự thuận lợi cho người sử dụng với độ tin cậy cao, tốc độ truyền dẫn lớn. Hệ tổng đài dùng nhân công gọi là loại dùng điện tử được xây dựng ở New Haven của Mỹ năm 1878 là tổng đài thương mại thành công đầu tiên trên thế giới. Hệ tổng đài tự động không cần có nhân công được Strowger của Mỹ phát minh năm 1889. Version cải tiển của mô hình này gọi là hệ tổng đài kiểu Strowger, các cuộc gọi được kêt nối lien tiếp tùy theo các số điện thoại trong hệ thập phân và do đó được gọi là hệ thống gọi theo từng bước. EMD(Edelmaltall-Drehwahler) do công ty Siemens của Đức phát triển cũng thuộc; hệ thống này còn được gọi là hệ tổng đài cơ vì các chuyển mạch của nó được vận hành theo nguyên tắc cơ điện Do đại chiến thế giới thứ II bùng nổ, sự cố gắng lập nên các hệ thống tổng đài mới bị tạm thời đình chỉ. Sau chiến tranh, nhu cầu về các hệ thống tổng đài có khả năng xử lý các cuộc gọi đường dài tự động và nhanh chóng đã tăng lên. Ericsson của Thụy Điển đã có khả năng xử lý các vấn đề phức tạp về tính cước và truyền cuộc gọi tái sinh bằng cách phát triển thành công hệ tổng đài có các thanh chéo (Cross bar). Hệ tổng đại có các thanh chéo được đặc điểm hóa bằng việc tách hoàn toàn việc chuyển mạch cuộc gọi và các mạch điều khiển được phát triển đồng thời ở Mỹ. Năm 1965, một hệ thống tổng đài điện tử thương mại có dung lượng lớn gọi là hệ ESS số 1 được thương mại hóa thành công ở Mỹ , do vậy đã mở ra một kỷ nguyên mới cho các hệ tổng đài điện tử.. Đến năm 1970 tổng đài điện tử số đầu tiên được lắp đặt và đưa vào khai thác ở Pháp. Tháng 1 năm 1976 tổng đài chuyển tiếp theo phương thức chuyển mạch số mang tính chất thương mại đầu tiên trên thế giới đã được lắp đặt và đưa vào khai thác. Tổng đài này có dung lượng 107.000 kênh và mạch nghiệp vụ nó có thể truyền tải tới 47.500 Erlang và có khả năng chuyển mạch 150 cuộc gọi trong 1 giây. Tổng đài E 10B(OCB-181) của hãng ACALTER là tổng đài nội hạt đầu tiên dùng phương thức chuyển mạch rõ, đồng thời một số tổng đài của hãng khác cũng xuất hiện trên thị trường. Từ năm 1947 đến 1976 là giai đoạn phát triển nhanh nhất và có hiệu quả kỹ thuật. Tổng đài số đã có những nghiên cứu lý luận quan trọng bổ ích trong lĩnh vực chuyển mạch số. Công việc cải tạo trong mạch viễn thông theo phương thức số hoá và hợp nhất đa dịch vụ. III. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ: Quá trình phát triển công nghệ trong quá trình chế tạo tổng đài điện tử gắn liền với quá trình phát triển công nghệ vi mạch (IC).Tuy nhiên ngoài các phần tử vi mạch ứng dụng trong các loại bộ nhớ, điều khiển thì công nghệ chế tạo tổng đài còn phụ thuộc vào các loại phần tử chuyển mạch.Sau khi công nghệ bán dẫn Tranzitor ra đời, việc áp dụng công nghệ này vào lĩnh vực chuyển mạch được thực hiện nhanh chóng nhờ kỹ thuật vi xử lý và máy tính điều khiển tổng đài bằng nguyên lý SPC. Hiện nay công nghệ chế tạo tổng đài điện tử chủ yếu định hướng vào phương thức chuyển mạch số và hướng tới các hệ thống chuyển mạch cụ thể ứng dụng cho mạng và dịch vụ ISDN. Việc nghiên cứu thử nghiệm cho các hệ thống chuyển mạch đa dịch vụ hãng rộng được thực hiện để đáp ứng cho mạng viễn thông số hiện đại. CHƯƠNG II: NGUYÊN LÝ HOẠT ĐỘNG, CẤU TRÚC, CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA CÁC KHỐI TRONG TỔNG ĐÀI SPC. I. NGUYÊN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔNG ĐÀI SPC Mạng trung tâm chuyển mạch gồm các tổng chuyển mạch phân kênh theo thời gian cho phép các tín hiệu trên khe thời gian ghép kênh nào cũng được chuyển nhập đến khe thời gian ghép kênh khác. Các nguồn tín hiệu khác được gắn vào mạng trung tâm chuyển mạch, các nguồn này gồm các âm hiệu tổng hợp, các thiết bị xử lý báo hiệu. Việc điều khiển toàn mạng được thực hiện bởi bộ xử lý dùng chương trình ghi sẵn, có các đường thông đến các phần tử khác nhau. Các thiết bị đầu vào, đầu ra được dùng để tạo nên nhiều chức năng khác nhau cho hệ thống như quản lý quay số thu nhận các loại cảnh báo, giám sát lưu thoại, báo hiệu kênh chung. Sau đây ta nghiên cứu các hoạt động của một bộ chuyển mạch số trong tổng đài đơn gian như sau. Hình 1: Sơ đồ hoạt động của bộ chuyển mạch tổng đài. Trong hình trên bộ chuyển mạch số gồm có ba cấp điều khiển: Một bộ điều khiển hệ thống, các bộ tiền xử lý và bộ điều khiển tại bộ tập trung đường dây. Các tín hiệu tương tự cho vào mạch thuê bao BORSCHT được đổi sang dạng số, được đưa vào các khe thời gian trong đường ghép kênh sơ cấp. Đường ghép kênh sơ cấp có thể được thực hiện theo hai hình thức: theo luật ( và A. Một yêu cầu dịch vụ phát hiện bởi chức năng trong các chức năng của mạch giao tiếp thuê bao BORSCHT và chứa trong bộ xử lý chung cho nhiều đường dây, kênh báo hiệu chung trên đường ghép kênh sơ cấp được dùng để chuyển đi các tin giữa bộ xử lý từ các mạch lấy tín hiệu báo hiệu, các mạch này luôn theo dõi đường ghép kênh sơ cấp, bộ tiền xử lý liên lạc với một bộ điều khiển toàn mạng có thể thấy khi ta theo dõi các bước xử lý. Các tin tức từ bộ tiền xử lý từ các mạch lấy tín hiệu báo hiệu, các mạch này luôn theo dõi đường ghép kênh sơ cấp, bộ tiền xử lý liên lạc với một bộ điều khiển hệ thống qua một đầu vào/ra đã cấp sẵn.Chức năng điều khiển toàn mạng có thể thấy khi ta theo dõi các bước xử lý trong một cuộc gọi. Một thuê bao nhấc máy, mạch BORSCHT phát hiện dòng điện kín mạch. Một bộ vi xử lý quét đường dây mắc nối tiếp với tất cả các mạch BORSCHT và phát hiện nhấc máy. Bộ xử lý thông báo một tin tức nhấc máy đến bộ tiền xử lý có liên quan đến nó (Tin tức nhấc máy được truyền đi trên kênh báo hiệu trong bộ ghép sơ cấp). Sau khi nhận được tin tức nhấc máy bộ tiền xử lý khởi động bộ đếm thời gian để xét khoảng thời gian nhấc máy dưới dạng số và loại ra các loại nhiều trong đài thoại này. khi bộ tiền xử lý đã kiểm tra chắc chắn nơi nào đã nhấc máy, nó ngắt bộ điều khiển hệ thống và gửi một tin tức cho biết có thuê bao nhấc máy. Bộ điều khiển các bước xử lý cuộc gọi bằng cách xem thuê bao này thuộc loại nào trong bộ nhớ để quyết định thuê bao này thuộc loại nào trong bộ nhớ để quyết định thuê bao này được phép sử dụng loại dịch vụ nào. II. CẤU TRÚC CỦA TỔNG ĐÀI SPC 2.1 SƠ ĐỒ KHỐI CỦA TỔNG ĐÀI  2.2 CÁC KHỐI CHỨC NĂNG CỦA TỔNG ĐÀI Tuy có nhiều khác nhau giữa các tổng đài nhưng nhìn chung đều có khối như hình 2 gồm các chức năng: * Giao tiếp thuê bao, giao tiếp trung kế (I): Bao gồm các mạch thuê bao, mạch trung kế, thiết bị tập chung và xử lý tín hiệu * Thiết bị chuyển mạch (II), có cả chức năng chuyển mạch và truyền dẫn: Bao gồm các tầng chuyển mạch theo thời gian hoặc ghép hợp. * Thiết bị ngoại vi báo hiệu (III): Thiết bị ngoại vi báo hiệu kênh chung và kênh riêng hợp thành thiết bị ngoại vi báo hiệu lên tổng đài theo mạng báo hiệu kênh riêng để xử lý thông tin báo hiệu kênh riêng. * Thiết bị ngoại vi chuyển mạnh(IV): gồm các thiết bị phân phối báo hiệu, thiết bị đo thử, thiết bị điều khiển đấu nối hợp thành thiết bị ngoại vi chuyển mạch. * Thiết bị điều khiển trung tâm (V): Gồm các bộ vi xử lý trung tâm và các bộ nhớ. * Thiết bị giao tiếp người - máy (VI): Là các loại máy như màn hình, bàn phím, máy in,… để trao đổi thông tin vào ra và ghi lại các bản tin cần thiết phục vụ cho công tác điều hành và bảo dưỡng tổng đài. * Ngoài các khối chức năng trên, ở tổng đài khu vực của mạch công cộng, tổng đài chuyển tiếp, tổng tài chuyển tiếp, tổng đài quốc tế còn có các khối chức năng khác như tính cước, thống kê, đồng bộ mạng, trung tâm xử lý tin, thiết bị giao tiếp thuê bao xa. Các hoạt động của các khối chức năng được điều khiển bởi các bộ xử lý là điều khiển tập chung và điều khiển phân tán. III. CHỨC NĂNG CỦA CÁC KHỐI TRONG TỔNG ĐÀI SPC 3.1 GIAO TIẾP THUÊ BAO, GIAO TIẾP TRUNG KẾ 3.1.1 GIAO TIẾP THUÊ BAO Để hiểu được chức năng của mạch điện giao tiếp đường dây thuê bao ta hãy để ở vị trí của thiết bị này trong mối quan hệ với thiết bị tập chung đường dây thuê bao, thiết bị chuyển mạch (trường chuyển mạch), thiết bị điều khiển các cấp có liên quan và các thiết bị ngoại vi báo hiệu. Thiết bị giao tiếp thuê bao gồm các mạch điện kết cuối cho các loại: thuê bao thường, thuê bao bỏ tiền, thuê bao PABX (Private atomatic brand exchange). Đối với thuê bao thường nó nối được với 256 hoặc 512 thuê bao; đối với thuê bao PABX nó kết cuối được 128 hoặc 256 thuê bao. Ngoài ra thiết bị giao tiếp thuê bao đường dây còn giao tiếp với thiết bị đo thử ngoài, đo thử trong, thiết bị cảnh báo và thiết bị nguồn. Mỗi thuê bao đều có mạch thuê bao riêng để giao tiếp với đường dây thuê bao và thiết bị tổng đài. Như vậy mạch giao tiếp đường dâu thuê bao có 7 chức năng được viết tắt là BORSCHT B : Cấp nguồn (Battery) : Dùng bộ chỉnh lưu tạo các mức điện áp theo yêu cầu phù hợp với thuê bao từ điện áp xoay chiều. (Ví dụ: cung cấp điện gọi cho từng máy điện thoại thuê bao đồng thời truyền tín hiệu như nhấc máy, xung quay số). O (Over voltage - protecting) : Bảo vệ chống quá áp cho tổng đài và các thiết bị do nguồn điện áp cao xuất hiện từ đường dây như sấm sét, điện công nghiệp hoặc chập đường dây thuê bao. Ngưỡng điện áp bảo vệ 75V. R : Cấp chuông (Ringing) : Chức năng này có nhiệm vụ cấp dòng chuông 25Hz, điện áp 75-90 volts cho thuê bao bị gọi. Đối với máy điện thoại quay số dòng chuông này được cung cấp trực tiếp cho chuông điện cơ để tạo ra âm chuông. Còn đối với máy ấn phím dòng tín hiệu chuông này được đưa qua mạch nắn dòng chuông thành dòng một chiều cấp cho IC tạo âm chuông. Tại kết cuối thuê bao có trang bị mạch điện xác định khi thuê bao nhấc máy trả lời phải cắt ngang dòng chuông gửi tới để tránh gây hư hỏng các thiết bị điện tử của thuê bao. S : Giám sát (Supervisor) : Giám sát thay đổi mạch vòng thuê bao, xử lý thuê bao nhận dạng bắt đầu hoặc kết thúc cuộc gọi và phát tín hiệu nhấc máy, đặt máy từ thuê bao hoặc các tín hiệu phát xung quay số. C : Mã hoá và giải mã ( Code / Decode): Chức năng này để mã hoá tín hiệu tương tự thành tín hiệu số và ngược lại. H : Chuyển đổi 2 dây / 4 dây (Hybrid) : Chức năng chính của hybrid là chức năng chuyển đổi 2 dây từ phía đường dây thuê bao thành 4 dây ở phía tổng đài. T: Đo thử (Test) : là thiết bị kiểm tra tự động để phát hiện các lỗi như là : đường dây thuê bao bị hỏng do ngập nước, chập mạch với đường điện hay bị đứt bằng cách theo dõi đường dây thuê bao thường xuyên có chu kỳ. Thiết bị này được nối vào đường dây bằng phương pháp tương tự để kiểm tra và đo thử. Hình 3 là sơ đồ khối tổng quát của mạch giao tiếp thuê bao, trong đó: Khối mạch Slip : Làm chức năng cấp nguồn cho đường dây thuê bao, chuyển đổi 2 dây - 4 dây và chức năng giám sát mạch vòng thuê bao. Mạch cấp nguồn ở tổng đài số được sử dụng phương pháp mạch điện tử thông qua các mạch khuếch đại thuật toán có trở kháng cao cùng với mạch điều chỉnh dòng để đảm bảo dòng cấp cho thuê bao là không đổi. Khối mạch lọc và Codec : Mạch lọc hạn chế phổ cho tín hiệu thoại phát đi trong phạm vi (0,3 ( 3,4) kHz, đồng thời trên hướng thu làm chức năng khôi phục dãy xung PAM ở đầu ra mạch Codec. Codec làm nhiệm vụ chuyển đổi A-D và ngược lại cho tín hiệu theo 2 hướng thu và phát của đường thoại. Ngoài ra đối với giao tiếp thuê bao của máy bỏ tiền hoặc PABX thì ngoài chức năng trên còn có các mạch có chức năng đổi cực cấp cho nguồn thuê bao, truyền dẫn xung cước. 3.1.2. GIAO TIẾP TRUNG KẾ 1. Giao tiếp trung kế tương tự : Khối này chứa các mạch trung kế dùng cho các mạch gọi ra và gọi vào chuyển tiếp. Nó có chức năng cấp nguồn giám sát cuộc gọi, phối hợp báo hiệu. Khối này không có nhiệm vụ tập trung tải nhưng có nhiệm vụ biển đổi A-D ở tổng đài số. 2. Giao tiếp thiết bị kết cuối tương tự: Chứa các mạch điện gọi ra, gọi vào, gọi chuyển tiếp. chúng còn làm nhiện vụ cấp nguồn, giám sát cuộc gọi, phối hợp báo hiệu…giống như thuê bao tương tự. 3. Báo hiệu: Sự cung cấp trên dây của bộ thu phát báo hiệu là không hiệu quả và đắt tiền, đặc biệt là các bộ phận cấu thành hay các rơle logic được sử dụng. Dù vậy, việc sử dụng logic bán dẫn tốc độ cao cùng với bộ điều khiển trung tâm cho hệ thống báo hiệu đơn giản đêt đồng bộ bằmg một nhóm của mạch. Do đó, việc điều khiển báo hiệu Analog trong tổng đài số là tập trung lai trong thiết bị. Báo hiệu DC trong mạch trung kế được chuyển sang CAS TS16 trong luồng 2Mb/s tiến hành bằng ATTU. Báo hiệu được xử lý riêng với CAS từ trung kế PCM bằng sự gộp chung lại của báo hiệu kênh kết hợp các thiết bị trong tổng đài. Báo hiệu 1VF hay MF trong trung kế Analog không ảnh hưởng đến bộ tách báo hiệu DC 4. Cấp nguồn: Thông thường, mạch trung kế là 2dây hay 4dây mang ra ngoài băng giữa tổng đài và thiết bị FDM trong trạm truyền dẫn. Trung kế Analog sử dụng hệ thống truyền dẫn FDM phải sử dụng tín hiệu thoại bởi vì trạng thái DC không thể truyền đi xa được. 5. Sai động: Được yêu cầu trong mạch 2dây trong ATTU. Biến áp sai động tương tự như SLTU. 6. Ghép kênh và điều khiển: Ghép kênh hoạt động giống như như SLTU, ngoại trừ ATTU giải quyết tối đa là 30 kênh. 7. Giao tiếp trung kế số : Thiết bị giao tiếp số phải được trang bị chức năng báo lỗi 2 cực phát ra số lần định lại khung và trượt quá độ gọi tắt là GAZPACHO. Dưới đây là sơ đồ khối của giao tiếp trung kế số: G (Generation of frame) :Phát mã khung nhận dạng tín hiệu đồng bộ khung để phân biệt từng khung của tuyến số liệu PCM đưa từ tổng đài tới. A (Aligment of frame) : Sắp xếp khung số liệu phù hợp với hệ thống PCM. Z (Zero string suppression) : Khử dãy số “0” liên tiếp. Do dãy tín hiệu PCM có nhiều quãng chứa nhiều bít “0” nên phía thu khó khôi phục tín hiệu đồng hồ. Vì vậy nhiệm vụ này thực hiện khử các dãy bit “0” ở phía phát. P (Polar conversion) : Có nhiệm vụ biến đổi dãy tín hiệu đơn cực từ hệ thống thành lưỡng cực đường dây và ngược lại. A (Alarm processing) : Xử lý cảnh báo đường truyền PCM. C (Clock recovery) : Khôi phục xung đồng hồ, thực hiện phục hồi dãy xung nhịp từ dãy tín hiệu thu được. H (Hunt during reframe) : Tìm trong khi định lại khung tức là tách thông tin đồng bộ từ dãy tín hiệu thu. O (Office signalling) : Báo hiệu liên tổng đài. Đó là chức năng giao tiếp để phối hợp báo hiệu giữa tổng đài đang xem xét và các tổng đài khác qua đường trung kế. *Thiết bị nhánh thu gồm có : Khối khôi phục đồng bộ : Nhiệm vụ khôi phục xung đồng hồ. Khối đệm đồng hồ : Thiết lập đồng hồ giữa khung trong và khung ngoài. Khối điều khiển đồng bộ : Điều khiển sự làm việc của khối đệm đồng hồ. Khối tách báo hiệu : Tách thông tin báo hiệu từ dãy tín hiệu số chung. *Thiết bị nhánh phát gồm có : Khối cấy báo hiệu : Có nhiệm vụ đưa các dạng báo hiệu cần thiết vào dòng số. Khối triệt ‘0’ : Tạo ra dạng tín hiệu không có nhiều số ‘0’ liêp tiếp nhau. Khối mã hoá : Mã hoá tín hiệu nhị phân thành tín hiệu đường dây. * Hoạt động của mạch : Thông tin số từ đường trung kế được đưa vào thiết bị chuyển mạch thông qua các thiết bị giao tiếp nhánh thu. Dòng tín hiệu số thu được đưa tới mạch khôi phục xung đồng hồ, đồng thời dạng sóng của tín hiệu vào được chuyển đổi từ dạng lưỡng cực sang mức logic đơn cực tiêu chuẩn, mức tín hiệu đơn cực này là mã nhị phân. Thông tin trước khi đưa đến thiết bị chuyển mạch được lưu vào bộ đệm đồng bộ khung bởi nguồn đồng hồ vừa được khôi phục từ dãy tín hiệu số. Sau đó tín hiệu lấy ra từ bộ đệm đồng hồ đưa tới bộ chuyển mạch. Dòng thông tin số lấy ra từ thiết bị chuyển mạch được cấy thông tin báo hiệu vào rồi đưa tới thiết bị triệt ‘0’. Các dãy số ‘0’ liên tiếp trong dãy tín hệu số mang tin được khử tại khối chức năng này để đảm bảo sự là việc của các bộ lặp trên tuyến truyền dẫn. Nhiệm vụ đưa báo hiệu vào và tách báo hiệu ra được thực hiện ở hệ thống báo hiệu kênh riêng còn hệ thống sử dụng báo hiệu kênh chung thì không cần phải thực hiện. 3.2 KHỐI THIẾT BỊ NGOẠI VI BÁO HIỆU 3.2.1 Khái niệm về báo hiệu Báo hiệu trong mạng viễn thông là sự trao đổi thông tin giữa các thành phần tham gia vào cuộc gọi để cấp dịch vụ cho người sử dụng. Chẳng hạn báo hiệu giữa người sử dụng và mạng viễn thông bao gồm: Quay số, cấp âm mời quay số, truy nhập vào hộp thư thoại, gửi âm hiệu chờ cuộc gọi(Call-waiting),vv. Tóm lại, báo hiệu là phương tiện thiết lập, giám sát và giải phóng cuộc gọi. Thuật ngữ báo hiệu trong lĩnh vực viễn thông bao gồm hai nghĩa sau: - Tất cả các tín hiệu báo hiệu cần thiết để thiết lập cuộc gọi và các dịch vụ mà nhà cung cấp đưa ra. - Công nghệ sử dụng để truyền các tín hiệu báo hiệu. 3.2.2 Phân loại các báo hiệu Hình 6 thể hiện sự phân loại cơ bản báo hiệu. Thường thì hệ thống báo hiệu được chia làm 2 nhóm chính: - Báo hiệu giữa tổng đài và thuê bao (Báo hiệu đường dây thuê bao - Subscriber Loop Signalling) là các tín hiệu liên lạc giữa thuê bao và tổng đài. - Báo hiệu trung kế (báo hiệu liên tổng đài – Inter-Exchange Signalling) thực hiện để báo hiệu giữa các tổng đài, phục vụ cho kết nối các thuê bao thuộc tổng đài khác nhau. Báo hiệu trung kế lại được chia thành hai phân nhóm như sau: - Báo hiệu kênh liên kết (Báo hiệu kênh riêng – Channel associated signaling). Báo hiệu này lại có hai dạng là: trong băng và ngoài băng (in – band và out – of – band). 3.2.3 Các dạng báo hiệu trong tổng đài 1. Báo hiệu đường dây thuê bao: Là báo hiệu được thực hiện giữa thuê bao với tổng đài hay giữa tổng đài với thuê bao.Để thiết lập cuộc gọi thuê bao “nhấc tổ hợp” máy. Trạng thái nhấc tổ hợp được tổng đài phát hiện và nó gửi tín hiệu “mời quay số” đến thuê bao. Thuê bao nhận được tín hiệu đó thì bắt đầu quay số đến thuê bao bị gọi. Nếu thuê bao bị gọi rỗi, tổng đài sẽ gửi dòng chuông cho thuê bao bị gọi, đồng thời tín hiệu hồi chuông được gửi trở lại thuê bao gọi. Nếu thuê bao bị gọi đang bận thì thí hiệu báo bận được gửi trở lại thuê bao chủ gọi. Khi quay số xong thuê bao nhận được một số tín hiệu của tổng đài tương ứng với từng trạng thâí như tín hiệu “hồi âm chuông”, tín hiệu “báo bận”, hay một số tín hiệu khác. 2. Báo hiệu liên tổng đài: Báo hiệu liên tổng đài (hay báo hiệu trung kế) có thể được gửi đi th
Luận văn liên quan