Đề tài Hoàn thiện pháp luật hôn nhân và gia đình trong xu thế toàn cầu hóa

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt”. Cũng chính từ quan điểm đó, Đảng và nhà nước ta đã quan tâm xây dựng những chính sách phù hợp để mỗi gia đình trở thành một tế bào tốt, tạo tiền đề để đất nước ngày một phát triển. Điều đó được thể hiện qua việc Quốc hội đã họp và thông qua Luật hôn nhân và gia đình (Luật HN&GĐ) năm 1986 và sau đó đã được sửa đổi bổ sung vào năm 2000. Luật HN&GĐ đã góp phần xây dựng, củng cố, bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình phù hợp với hoàn cảnh của đất nước trong thời kỳ đó. Tuy nhiên, hiện nay, do sự đổi mới của nền kinh tế đất nước, dưới sự hợp tác hội nhập giao lưu kinh tế giữa các nước trên thế giới, đòi hỏi hệ thống pháp luật HN&GĐ ở nước ta cần phải được sửa đổi, hoàn thiện cho phù hợp với quá trình phát triển của đất nước. Với lý do trên, em xin chọn đề tài “Hoàn thiện pháp luật hôn nhân và gia đình trong xu thế toàn cầu hóa”. Do sự hiểu biết có hạn, trong bài viết không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong được sự góp ý của các thầy cô.

doc17 trang | Chia sẻ: ngtr9097 | Ngày: 25/05/2013 | Lượt xem: 1550 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Hoàn thiện pháp luật hôn nhân và gia đình trong xu thế toàn cầu hóa, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỤC LỤC Danh mục tài liệu tham khảo A- ĐẶT VẤN ĐỀ Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt”. Cũng chính từ quan điểm đó, Đảng và nhà nước ta đã quan tâm xây dựng những chính sách phù hợp để mỗi gia đình trở thành một tế bào tốt, tạo tiền đề để đất nước ngày một phát triển. Điều đó được thể hiện qua việc Quốc hội đã họp và thông qua Luật hôn nhân và gia đình (Luật HN&GĐ) năm 1986 và sau đó đã được sửa đổi bổ sung vào năm 2000. Luật HN&GĐ đã góp phần xây dựng, củng cố, bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình phù hợp với hoàn cảnh của đất nước trong thời kỳ đó. Tuy nhiên, hiện nay, do sự đổi mới của nền kinh tế đất nước, dưới sự hợp tác hội nhập giao lưu kinh tế giữa các nước trên thế giới, đòi hỏi hệ thống pháp luật HN&GĐ ở nước ta cần phải được sửa đổi, hoàn thiện cho phù hợp với quá trình phát triển của đất nước. Với lý do trên, em xin chọn đề tài “Hoàn thiện pháp luật hôn nhân và gia đình trong xu thế toàn cầu hóa”. Do sự hiểu biết có hạn, trong bài viết không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong được sự góp ý của các thầy cô. B- GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I- ẢNH HƯỞNG CỦA TOÀN CẦU HÓA ĐỐI VỚI HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CỦA VIỆT NAM Toàn cầu hóa là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ ảnh hưởng, tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên thế giới, làm nổi bật hàng loạt biến đổi có quan hệ lẫn nhau mà từ đó chúng có thể phát sinh một loạt điều kiện mới. Toàn cầu hoá tác động rất lớn đến sự phát triển của xã hội nước ta hiện nay, song nó cũng đặt ra những thách thức vô cùng bức xúc và nan giải. Do chứa đựng nhiều loại giá trị rất phức tạp, toàn cầu hoá đã và đang phá vỡ nhiều hình thức và nội dung trong lối sống truyền thống Việt Nam. Thời nay do phong cách, lối sống ồn ào, gấp gáp chạy đua với xu thế phát triển của xã hội đã tác động lên cả quan niệm "yêu nhanh, sống thoáng". Học đòi phong cách “sống thoáng” như ở các nước phương Tây, nhiều nam nữ gặp nhau, chỉ qua vài ba câu chuyện, thấy thích nhau là có thể dọn về ở cùng phòng với nhau như vợ chồng. Hiện tượng xuất hiện nhiều tại các khu nhà trọ sinh viên, đặc biệt tại các khu công nghiệp, nơi nhiều công nhân sinh sống. Tại đây, thật dễ dàng bắt gặp những "đôi uyên ương" ăn chung, ngủ chung... dưới một mái nhà. Tất tần tật mọi sinh hoạt của họ hệt như những cặp vợ chồng thực sự, có điều chưa công nhận kết hôn. Thêm vào đó, xu hướng của toàn cầu hóa đã và đang tác động lên mọi mặt của cuộc sống, từ công việc tới thói quen sống hàng này. Nhiều cặp gia đình, do nhu cầu công việc đòi hỏi vợ hoặc chồng phải đi công tác ở nước ngoài. Chính điều này lại làm nẩy sinh một vấn đề lớn, khi giữa hai người có sự cách biệt về địa lý, tài sản trong thời kỳ hôn nhân này tuy là của chung nhưng sẽ khó kiểm kê, dẫn tới việc khi hai người xảy ra những mâu thuẫn dẫn tới việc ly hôn thì tài sản sẽ được xác định như thế nào? Ở nước ta, các quan hệ HN& GĐ có yếu tố nước ngoài ngày càng phát triển một cách đa dạng và phức tạp cùng với xu thế xã hội hóa, hội nhập quốc tế. Việc điều chỉnh các quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài trở thành một yêu cầu cấp bách, quan trọng nhằm làm ổn định và phát triển giao lưu dân sự quốc tế, đồng thời bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của công dân các nước liên quan. Tuy nhiên, pháp luật điều chỉnh quan hệ HN & GĐ có yếu tố nước ngoài hiện nay chưa đáp ứng được với thực tiễn đời sống trong thời kì hội nhập quốc tế. Các quy định hiện hành chưa dự liệu hết được những tranh chấp phát sinh về HN & GĐ có yếu tố nước ngoài hoặc không còn phù hợp. Do đó, việc hoàn thiện pháp luật là đòi hỏi tất yếu khách quan. Trên đây là một số mặt của toàn cầu hóa đối với hôn nhân và gia đình ở Việt Nam. Do quá trình toàn cầu hóa mang lại, chúng ta nảy sinh những vấn đề ít và thậm chí có thể chưa được gặp trước đây trong vấn đề hôn nhân và gia đình. Đó là một phần lý do chúng ta cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật hôn nhân và gia đình để điều chỉnh những mối quan hệ mới xuất hiện trong thời đại ngày nay. II- NGUYÊN NHÂN PHẢI HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM Về cơ bản, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã kế thừa và tiếp tục phát huy những thành tựu lập pháp của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, đồng thời bổ sung những chế định quan trọng phù hợp với giai đoạn phát triển mới. Tuy nhiên, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế. Ngoài ra, các văn bản hướng dẫn thi hành nằm rải rác ở nhiều văn bản khác nhau và nhiều khi các văn bản hướng dẫn thi hành cũng đã quá cũ và không còn phù hợp với thực tiễn cuộc sống hiện nay. Do vậy, việc phải hoàn thiện hệ thống pháp luật về HN&GĐ nói chung và Luật HN&GĐ nói riêng là điều hoàn toàn cần thiết. Qua gần 10 năm triển khai thực hiện Luật HN&GĐ 2000, ta nhận ra một điểm chưa được hợp lý. Điều này do cả nguyên nhân khách quan và chủ quan mang tới. Thứ nhất, do pháp luật HN&GĐ chưa được hoàn thiện. Ở nhiều địa phương, vẫn thường xuyên xảy ra những hành vi vi phạm pháp luật HN&GĐ ở nhiều dạng với những mức độ khác nhau. Hiện tượng lừa dối, cướng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ vẫn còn xảy ra trong đời sống xã hội gây ra những hậu quả xấu cho những quan hệ hôn nhân được xác lập. Hiện tượng tảo hôn vẫn xảy ra ở nhiều vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, hải đảo và các vùng dân tộc thiểu số. Việc tảo hôn đã dẫn đến tình trạng sức khỏe của vợ, chồng, con không được đảm bảo, ảnh hưởng xấu tới việc thực hiện nguyên tắc hôn nhân tiến bộ, tự nguyện,… Thứ hai, nhiều quy định của Luật HN&GĐ còn mang tính nguyên tắc chung, khái quát, có tính chất luật khung, thiếu cụ thể, nên khó thực hiện trên thực tiễn. Một số điều luật chưa chặt chẽ dẫn tới nhiều cách hiểu và áp dụng không thống nhất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và dễ bị vận dụng tùy tiện, ảnh hưởng tới quyền lợi của công dân, gây bất ổn đối với quan hệ HN&GĐ. Một số quy định của Luật chưa phù hợp với sự vận động thực tế của các quan hệ HN&GĐ. Có những quy định của Luật không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền hướng dẫn áp dụng nên không tránh khỏi có những quan điểm khác nhau trong quá trình thực hiện và áp dụng. Thứ ba, trong điều kiện phát triển của cơ chế thị trường, dưới sự tác động của toàn cấu hóa, không tránh khỏi những ảnh hưởng tiêu cực đối với các quan hệ xã hội trong lĩnh vực HN&GĐ. Có những trường hợp cá nhân thực hiện việc kết hôn không phải để xây dựng gia đình hạnh phúc mà nhằm vào mục đích kinh tế. Tình trạng kết hôn không đăng ký đang là hiện tượng phổ biến ở các vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Thực trạng này đã gây khó khăn không nhỏ trong việc kiểm soát của Nhà nước đối với các quan hệ HN&GĐ. Mặt khác, tình hình kinh tế xã hội trong giai đoạn hiện nay có nhiều thay đổi, trong đó quan hệ HN&GĐ cũng đã phát sinh nhiều vấn đề mới cần được pháp luật điều chỉnh như vấn đề kết hôn giữa những người cùng giới, giải quyết tài sản giữa vợ và chồng… Thứ tư, trong những năm qua, Nhà nước ta đã ban hành nhiều đạo luật cần thiết để điều chỉnh các lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm thực hiện đổi mới nâng cao chất lượng công tác lập pháp và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Trong thực tiễn đời sống, các quan hệ HN&GĐ đan xen, chịu ảnh hưởng qua lại của nhiều mối quan hệ khác như quan hệ dân sự, quan hệ đất đai, quan hệ hành chính… Trong khi pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ đó đã có nhiều thay đổi, đã và đang tác động sâu sắc đến các quan hệ HN&GĐ thì luật HN&GĐ cần phải được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với các quy định của các đạo luật trong hệ thống pháp luật của nhà nước ta. Pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội, song các quan hệ xã hội luôn biến động, thay đổi, đòi hỏi pháp luật cũng phải thay đổi theo. Xu hướng toàn cầu hóa hiện nay cũng đòi hỏi phải có sự điều chỉnh mới cho phù hợp với sự thay đổi đa dạng của các quan hệ xã hội, trong đó có quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài. Chính vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cấp thiết để giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra. Ngoài việc sửa đổi, bổ sung Luật NH&GĐ còn nhằm thực hiện mục tiêu tăng cường hiệu lực quản lý của nhà nước, đề cao vài trò, trách nhiệm cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội đối với quan hệ HN&GĐ, tạo cơ sở pháp lý cần thiết cho công tác xét xử của Tòa án, bảo đảm cho Luật HN&GĐ được nghiêm chỉnh thực thi trong cuộc sống. III- MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CHẾ ĐỊNH KẾT HÔN Về vấn đề tuổi kết hôn Pháp luật Việt Nam đã đưa ra độ tuổi cho phép kết hôn là đủ 18 với nữ và đủ 20 với nam. Mức quy định độ tuổi như vậy không hẳn hợp lý trong mọi trường hợp. Theo em, cần phải hạ thấp độ tuổi được kết hôn và để nam nữ có độ tuổi kết hôn như nhau. Vì: Việc đưa ra độ tuổi kết hôn là căn cứ trên sự phát triển về tâm sinh lý, sức khoẻ và sự phát triển của nhận thức người đó. Trước đây, người ta cho rằng, sự phát triển tâm sinh lý và nhận thức của nữ thường sớm hơn so với nam. Vì vậy, tuổi kết hôn của nữ ít hơn nam hai tuổi. Tuy nhiên, cuộc sống ngày nay đã khác trước rất nhiều. Trẻ ngày nay được nuôi dưỡng đầy đủ về mặt dinh dưỡng nên sự phát triển cơ thể đang có xu hướng sớm hơn trước đây, nhất là trẻ em ở thành phố. Bên cạnh đó là môi trường giáo dục tri thức, nhận thức cho trẻ. Ngày nay, các bạn trẻ có nhiều điều kiện để hoàn thiện tri thức, học hỏi nâng cao nhận thức từ nhiều kênh khác nhau. Và việc phát triển này tương đối đồng đều giữa nam và nữ, chứ ít có chênh lệch rõ ràng như trước. Nam giới lập gia đình ở độ tuổi 18, về mặt thể lực và sự phát triển tâm sinh lý, họ có thể gánh vác được trách nhiệm gia đình. Thứ hai, cần có những ngoại lệ về độ tuổi kết hôn: Khác với nhiều quốc gia khác trên thế giới, pháp luật Việt Nam không quy định bất kỳ ngoại lệ nào được phép kết hôn trước tuổi quy định. Ví dụ, ở Pháp tồn tại một “cơ quan Biện lý”. Trong những trường hợp có lý do hợp lý và được cơ quan nêu trên chấp nhận thì hôn nhân vẫn được pháp luật chấp nhận. Trường hợp có lý do hợp lý có thể là người nữ đã có con… Giả sử với lý do trên, nếu pháp luật không thừa nhận hôn nhân do chưa đủ tuổi, các đương sự sẽ vẫn chung sống như vợ chồng mà không cần đăng ký kết hôn hoặc người nữ giới sẽ phải tự mình gánh vác hậu quả. Do đó, để tạo điều kiện, bảo vệ quyền và lợi ích của các đương sự mà đặc biệt là phụ nữ và trẻ em trong trường hợp này, việc pháp luật thừa nhận hôn nhân là cần thiết. Như vậy, trong tương lai phát triển của pháp luật hôn nhân và gia đình, Việt Nam cũng nên học tập các quốc gia phát triển, mềm dẻo hơn trong các quy định về độ tuổi, dự kiến các trường hợp đặc biệt cho phép kết hôn dưới độ tuổi quy định. Một vấn đề khác là vấn đề chênh lệch tuổi tác giữa các đương sự tham gia quan hệ hôn nhân gia đình. Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 cấm kết hôn với bố chồng và con dâu, mẹ vợ và con rể…. để bảo vệ giá trị đạo đức xã hội, truyền thống tốt đẹp của dân tộc nhưng trong khi đó lại không cấm kết hôn giữa những người ở độ tuổi cha với con, ông với cháu. Việc kết hôn giữa những người chênh lệch tuổi tác quá lớn cũng làm ảnh hướng tới thuần phong mỹ tục của người Việt Nam, và thực tế thì những cuộc hôn nhân như vậy cũng chưa chắc xuất phát từ tình yêu và mong muốn chung sống của các đương sự. Dẫu biết rằng tình yêu là không biên giới, nhưng pháp luật cần đặt cho nó một cái cột mốc để đảm bảo quyền lợi của các chủ thể và đảm bảo thuần phong mĩ tục của dân tộc đồng thời cũng là đảm bảo sự thống nhất với các quy định khác. Vì vậy, trong tương lai, pháp luật về hôn nhân cần đưa ra những quy định chặt chẽ và cụ thể về điều kiện kết hôn đối với những trường hợp này. Ví dụ như cấm kết hôn giữa những người chênh lệch từ 40 tuổi trở lên… Vấn đề năng lực hành vi dân sự Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam cấm kết hôn đối với những người bị mất năng lực hành vi dân sự. Cấm kết hôn đối với những người mất năng lực hành vi dân sự là hợp lý, tuy nhiên thì trường hợp này vẫn cần có ngoại lệ. Ví dụ, hai người yêu nhau và mong muốn tiến tới hôn nhân, sau đó một trong hai bị tai nạn và mất năng lực hành vi dân sự, người còn lại vẫn mong muốn kết hôn. Trường hợp này không được pháp luật Việt Nam cho phép kết hôn. Một lần nữa, pháp luật Việt Nam lại tỏ ra cứng nhắc và thiếu linh hoạt, vô hình chung trở thành rào cản đối với tự do hôn nhân. Luật hôn nhân gia đình trên thế giới phần lớn đều cấm kết hôn đối với người mất năng lực hành vi dân sự, tuy nhiên pháp luật nhiều quốc gia đã cho phép các trường hợp ngoại lệ được kết hôn với những người này. Cụ thể, pháp luật Pháp quy định người bị tuyên bố mất năng lực hành vi bày tỏ ưng thuận trong thời gian còn tỉnh táo và việc kết hôn có sự cho phép của cha mẹ trên cơ sở ý kiến của bác sĩ điều trị thì vẫn được phép kết hôn. Vì vậy, trong xu hướng hoàn thiện các quy định về điều kiện kết hôn, pháp luật Việt Nam cần tỏ ra linh hoạt, ghi nhận các trường hợp ngoại lệ được kết hôn đối với những người mất năng lực hành vi dân sự. 1.3 Vấn đề về quan hệ họ hàng, huyết thống Pháp luật hôn nhân gia đình cần phải bổ sung các quy định rõ ràng về việc kết hôn giữa con riêng của chồng và con riêng của vợ, giữa những người con nuôi hoặc giữa con đẻ với con nuôi trong một gia đình. Để khi trường hợp này xảy ra trên thực tế thì người thi hành pháp luật sẽ không phải lúng túng, và người tuân thủ pháp luật có thể biết được việc đó mình được làm hay không được làm. 1.4 Về vấn đề giới tính trong điều kiện kết hôn Thứ nhất, pháp luật hôn nhân nên bổ sung các quy định rõ ràng về việc kết hôn của những người chuyển đổi giới tính. Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại, vấn đề xác định chính xác giới tính của người đăng ký kết hôn thực chất khá phức tạp. Thực tế có thể xảy ra hai trường hợp đặc biệt. Trường hợp thứ nhất: hai người đã đăng ký kết hôn hợp pháp nhưng sau đó một người chuyển giới. Trường hợp thứ hai: hai người khi sinh ra cùng giới tính nhưng một trong hai đã phẫu thuật chuyển giới. Lưu ý rằng hiện việc xác định lại giới tính với người không có khuyết tật bẩm sinh về giới tính trong pháp luật hiện hành là không được phép. Nói cách khác, pháp luật Việt Nam không công nhận xác định lại giới tính với người đã chuyển giới. Như vậy thì trong hai trường hợp trên, sự phi lý ở chỗ hai người cùng giới thực tế lại được pháp luật công nhận như vợ chồng còn hai người thực tế khác giới thì lại bị cấm kết hôn. Điều đó đã cho thấy sự cứng nhắc và thiếu tính mềm dẻo trong việc xác định giới tính của pháp luật Việt Nam. Vì vậy, nhằm phát huy và mở rộng quyền tự do dân chủ, pháp luật Việt Nam nên có thêm quy chế xác định lại giới tính cho những trường hợp người chuyển giới, tạo điều kiện cho những người này có thể được kết hôn như những người bình thường khác. Mặt khác, theo em thì pháp luật nên có quy định về việc kết hôn đồng giới. Thực tế đã cho thấy, càng ngày càng nhiều những người đồng tính vẫn sống với nhau một cách công khai. Nếu pháp luật không công nhận mối quan hệ giữa họ, thì quyền lợi của họ sẽ được bảo đảm như thế nào?. Mặt khác, trên thế giới hiện nay đã có rất nhiều nước cho phép hôn nhân đồng giới: ví dụ: Hà Lan đã thông qua Luật hôn nhân đồng giới năm 2001; Bỉ đã thông qua Luật hôn nhân đồng giới năm 2003; Tây Ba Nha thông qua Luật hôn nhân đồng giới năm 2005; Canada (2005); Nam Phi (2006); Na uy (2008); Bồ Đào Nha (2010)… Tuy nhiên, cái đáng nói ở đây là, quan hệ đồng giới là một vấn đề cực kì nhạy cảm. Đó không chỉ là một căn bệnh bẩm sinh về tâm sinh lí mà còn là một xu hướng tình dục của giới trẻ. Chúng ta cần phải có những nghiên cứu kĩ lưỡng để đưa ra các quy định thật khéo léo để vừa đảm bảo cho họ được kết hôn nhưng lại không “vẽ đường cho hươu chạy” có nghĩa là không khuyến khích giới trẻ đi theo xu hướng đó một cách quá đà. Ví dụ như: quy định về độ tuổi, điều kiện sức khỏe… CHẾ ĐỊNH TÀI SẢN GIỮA VỢ VÀ CHỒNG Tài sản chung của vợ chồng Thứ nhất, bởi Luật HN&GĐ không quy định về các loại bằng chứng được sử dụng để chứng minh trong tranh chấp tài sản giữa vợ và chồng nên trong thực tiễn tất cả các loại bằng chứng đều có thể được chấp nhận. Để bảo vệ tốt hơn quyền của chủ sở hữu tài sản riêng đồng thời làm đơn giản hóa việc tìm các chứng cớ chứng minh trong tranh chấp, pháp luật HN&GĐ Việt Nam có thể tham khảo thêm trong luật dân sự Pháp. Có thể thấy, các loại bằng chứng chứng minh trong luật của Pháp được liệt kê tương đối cụ thể, trong đó giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản có giá trị pháp lý cao nhất trong thủ tục chứng minh nguồn gốc của tài sản. Đối với việc đăng ký tài sản chung, thiết nghĩ, nếu Luật cũng cần quy định cụ thể “những tài sản khác” cần đăng ký tên cả hai vợ chồng là những loại tài sản nào để có sự áp dụng thống nhất trong thực tiễn thi hành. Thứ hai, theo quy định, vợ, chồng có thể yêu cầu Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nếu không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được. Tuy nhiên, Luật HN&GĐ chưa quy định cụ thể nguyên tắc chia tài sản chung trong trường hợp này, gây khó khăn trong thực tiễn áp dụng giải quyết các tranh chấp phát sinh. Quay trở lại với Điều 18 Luật HN&GĐ năm 1986 thì: “Khi hôn nhân còn tồn tại, nếu một bên yêu cầu và có lý do chính đáng, thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại điều 42 (nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn) của Luật này”. Vì vậy, trên cơ sở kế thừa quy định của Luật HN&GĐ năm 1986 thì nên bổ sung thêm quy định: Việc chia tài sản chung căn cứ vào các nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn quy định tại Điều 95 của Luật HN&GĐ. Thứ ba, việc chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo quy định của pháp luật không làm thay đổi quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng và quan hệ giữa cha mẹ và con. Tuy nhiên, Luật chưa quy định rõ về trách nhiệm của vợ, chồng đối với các tài sản được sử dụng vào mục đích chung của gia đình và sau khi khi hai bên chia tài sản chung. Do đó, Luật cần bổ sung quy định về trách nhiệm của vợ chồng đối với tài sản chi tiêu trong gia đình trên cơ sở thỏa thuận của vợ chồng bằng văn bản, nếu không thỏa thuận được thì hai bên có thể yêu cầu Tòa án giải quyết, trên cở sở nhu cầu thực tiễn của gia đình và khả năng kinh tế của các bên. Sự độc lập về tài sản sau khi chia có thể dẫn tới một trong các bên lẩn tránh trách nhiệm đối với gia đình, với việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chưa thành niên hoặc con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động, không có thu nhập, không có tài sản để tự nuôi mình. Vì vậy, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các con, Luật nên quy định rõ: Việc giải quyết tranh chấp liên quan đến con áp dụng tương tự quy định về quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con khi ly hôn. Trường hợp vợ chồng thỏa thuận hoặc đã yêu cầu Tòa án chia hết tài sản chung thì vợ, chồng vẫn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng lẫn nhau nếu một bên túng thiếu, có yêu cầu cấp dưỡng và có lý do chính đáng. Tài sản riêng của vợ, chồng Tài sản là đồ dùng, tư trang cá nhân được ghi nhận là tài sản riêng của vợ, chồng (Khoản 1 Điều 32 Luật HN&GĐ). Tuy nhiên, việc quy định đồ dùng, tư trang cá nhân là tài sản riêng mà không giải thích cụ thể sẽ có nhiều quan điểm khác nhau về loại tài sản này. Vì vậy, khi xác định là tài sản riêng cần xem xét nguồn gốc và giá trị của đồ dùng, tư trang cá nhân đó so với giá trị của khối tài sản chung và thu nhập của hai vợ chồng. Nếu giá trị tài sản đó khá lớn và tài sản được sử dụng với mục đích chung của gia đình thì không nên coi đó là tài sản riêng. Vấn đề hôn ước Pháp luật các nước phương Tây khi điều chỉnh tranh chấp về tài sản giữa vợ và chồng cho phép áp dụng hôn ước. Hôn ước có thể hiểu là sự thỏa thuận giữa vợ và chồng về việc lựa chọn chế độ quản lý và thanh toán tài sản trong gia đình để áp dụng trong suốt thời kỳ hôn nhân của họ. Hôn ước có thể được các bên lập ra trong thời kỳ trước khi tiến hành kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân. Nội dụng của hôn ước thường đề cập đến các vấn đề tài sản và nhân thân phi tài sản giữa các bên. Luật HN&GĐ năm 1986 và Luật HN&GĐ năm 2000 đều chỉ tâp rung quy định về chế độ tài sản pháp định, vấn đề hôn ước không được đặt ra. Do đó, việc giải quyết quan hệ tài sản giữa vợ và chồng phải căn cứ vào quy định củ
Luận văn liên quan