Đề tài Laser nội tĩnh mạch dùng trong một số bệnh tim mạch

Định nghĩa: Laser nội tĩnh mạch là phương pháp can thiệp vào trong lòng tĩnh mạch thông qua cơ chế chuyển hóa và hiệu ứng quang học nhằm tối ưu hóa các chức năng của cơ thể, đặc biệt là hệ tim mạch và hệ thần kinh. - Chiếu tia Laser vào nội mạch. Phương thức điều trị này được gọi là Laser nội tĩnh mạch.

pdf34 trang | Chia sẻ: tienduy345 | Ngày: 14/04/2016 | Lượt xem: 1837 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Laser nội tĩnh mạch dùng trong một số bệnh tim mạch, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LASER NỘI TĨNH MẠCH DÙNG TRONG MỘT SỐ BỆNH TIM MẠCH Nội dung chính • Giải thích laser nội tĩnh mạch là gì? • Cơ chế điều trị. • Một số bệnh tim mạch dùng laser nội tĩnh mạch điều trị. A. Laser nội tĩnh mạch: Định nghĩa: Laser nội tĩnh mạch là phương pháp can thiệp vào trong lòng tĩnh mạch thông qua cơ chế chuyển hóa và hiệu ứng quang học nhằm tối ưu hóa các chức năng của cơ thể, đặc biệt là hệ tim mạch và hệ thần kinh. - Chiếu tia Laser vào nội mạch. Phương thức điều trị này được gọi là Laser nội tĩnh mạch. B. Cơ chế tác dụng của Laser. 1. Cơ chế tác dụng sơ cấp của laser nội mạch: - Laser nội mạch có cơ chế sơ cấp đặc biệt, đó là tính gián tiếp khi các lượng tử năng lượng của laser chuyển trạng thái phân tử oxy lên trạng thái kích thích, các phân tử oxy này tác động đến cấu hình của các đại phân tử sinh học dẫn đến sự thay đổi chuyển hóa tế bào và dẫn đến hiệu ứng kích thích sinh học. B. Cơ chế tác dụng của Laser. • Ở trạng thái cân bằng, bề mặt tế bào luôn tồn tại một lớp nước có cấu trúc fractal bội ba ổn định về mặt động học, dày khoảng 10-9 m. Cấu trúc này ảnh hưởng tới dung dịch nước xung quanh với khoảng cách 10-6 m. Mặc khác, khi photon của laser được hấp thụ bởi oxy để tạo ra trạng thái singlet có hoạt tính sinh học cao và không bền ( thời gian sống 10-6 s). Khi chuyển về trạng thái cơ bản, oxy singlet nhường phần năng lượng hấp thụ cho hệ “đơn vị sinh học cơ chất nước” dẫn đến sự thay đối cấu trúc nước và cấu hình các đại phân tử sinh học. B. Cơ chế tác dụng của Laser. • Hệ thống mạch máu của con người theo định luật Hayflic đều có tính xơ cứng theo năm tháng do rối loạn chuyển hóa và xâm nhập tổn thương thứ phát ở thành mạch. Do đó tốc độ dòng máu chậm, độ nhớt máu tăng, hồng cầu ít biến dạng. Đây chính là nguyên nhân tạo ra những tắc nghẽn ở các cơ quan trọng yếu của cơ thể như não, tim, mắt B. Cơ chế tác dụng của Laser. • Laser nội tĩnh mạch có đặc điểm là chỉ kích thích và đặt nguồn phát ở một vị trí nhưng hiệu ứng đi khắp cơ thể vì năng lượng hoạt hóa lan theo dòng máu tác động lên tất cả các thành phần hữu hình (hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu) và dịch thể, không phụ thuộc vào khoảng cách xa hay gần. B. Cơ chế tác dụng của Laser. • Một kim luồn đưa hiệu ứng năng lượng này vào trong lòng mạch máu sẽ làm hồng cầu linh động hơn, vi mạch máu giãn ra nhanh hơn gấp 2 lần thuốc thông thường, tạo điều kiện phục hồi và khắc phục phần lớn các rối loạn trên. • Hệ thống enzyme được kích hoạt cải thiện trao đổi chất, tăng cường miễn dịch, chu trình hô hấp của tế bào được thúc đẩy tạo điều kiện cho mỗi tế bào trong cơ thể hoạt động một cách hữu hiệu nhất, tự đề kháng lại với tác nhân bệnh lý từ ngoài xâm nhập hoặc chính từ bên trong cơ thể tạo nên, ngăn cản phần lớn các gốc tự do là nguyên nhân phá hủy màng sinh học tế bào. 2. Tác dụng sinh học của laser nội mạch: a. Điều chỉnh miễn dịch đặc hiệu và không đặc hiệu: Dưới tác dụng của laser nội mạch, hoạt động của bạch cầu, đại thực bào và các tế bào miễn dịch trong máu tăng lên rõ rệt nên làm giãm sự viêm nhiễm ở các mao mạch. Ngoài ra, nó còn nâng cao chức năng họat động của limpho B, limpho T trong đáp ứng miễn dịch. Việc này được thể hiện dưới bảng sau: • Cũng do tác dụng điều chỉnh hệ miễn dịch mà laser nội mạch được dùng trong nhiễm trùng ngoại khoa nhằm giảm mức độ nhiễm độc nội sinh và tăng cường chức năng miễn dịch. b. Tăng cường hoạt tính kháng oxi hóa: Hoạt tính kháng oxy hóa do một loạt các enzyme đảm nhận, trong đó nổi bật là superoxide dismutase và catalase. Superoxide dismutase là một enzyme bảo vệ, có tác dụng kháng các gốc tự do, đặc biệt là O2. Laser nội mạch có tác dụng hoạt hóa superoxide dismutase và catalase, do đó chúng có khả năng kích hoạt tính kháng oxy hóa. c. Tăng khả năng kết hợp oxi với hồng cầu, tăng khả năng vận chuyển oxi trong máu: áp lực riêng phần của oxy tăng và CO2 giảm, cụ thể là hiệu áp lực giữa động mạch và tĩnh mạch tăng một phần là do áp lực tĩnh mạch giãm. Trong đó sự giãm áp lực tĩnh mạch là kết quả của việc tăng ái lực hemoglobin trong máu. Mặt khác, nó còn làm hiệu độ bão hòa oxy ở động mạch và tĩnh mạch tăng. Tất cả đã góp phần nâng cao tính lỏng, hoạt hóa chức năng vận chuyển của máu, tránh được tình trạng giãm oxy huyết và bình thường hóa sự trao đổi chất. d. Giảm kết dính hồng cầu, hoạt hóa hệ tiêu sợi huyết: laser nội mạch có ưu điểm rõ rệt. Do có có tính hệ thống, hạn chế tăng lipid trong máu, hạn chế xơ vữa và hạn chế tình trạng hình thành cục máu đông ở các hệ vi mạch mà laser ngoài khó có thể đạt được. - Ngoài ra, laser nội mạch còn có tác dụng giãm cholesterin trong máu, giãm chỉ số xơ vữa và mức fibrinogen e. Chống rung, chống loạn nhịp, điều chỉnh huyết áp: Do có khả năng tác động đến cấu trúc hydrat, nên laser nội mạch tăng cường hoạt tính các ion quan trọng trong việc hình thành và dẫn truyền điện thế hoạt động của màng tế bào. Vì vậy dẫn tới việc chúng có thể điều hòa thần kinh tim, cải thiện sức co bóp cơ tim và do đó có tác dụng chống lọan nhịp tim, chống rung tim. g. Tác động tới cấu trúc và tính thấm màng, chuyển hóa và điều hòa tế bào, sự tổng hợp ATP và các polymer sinh học: Laser nội mạch có khả năng làm tăng quá trình sinh tổng hợp ATP, ADN, ARN, các đại phân tử sinh học và các enzyme; trong đó tác dụng sinh tổng hơp ATP giúp hình thành năng lượng của tế bào là quan trọng, do đó các quá trình tái sinh, phục hồi mô mềm và mô liên kết cũng tăng theo. Như vậy, có thể nói laser nội mạch có tác dụng ở mức tế bào và mức dưới tế bào. • Tóm lại: laser nội mạch có tất cả những tác dụng như laser chiếu ngoài. Tuy nhiên, do đặc tính của phương pháp nên mức độ thể hiện mạnh mẽ và rõ rệt hơn. Mặt khác, nhờ dòng máu tuần hòan nên nó có tác động đồng bộ và nhanh chóng tới nhiều hệ chức năng và nhiều hoạt động sống của cơ thể. Phản chỉ định cũng được rút xuống đến mức tối thiểu, chỉ còn bệnh máu khó đông và tuân thủ tuyệt đối qua trình điều trị nhằm tránh nguy cơ nhiễm trùng, cũng như các bệnh lây lan qua đuờng máu. C. Một số bệnh tim mạch dùng laser nội tĩnh mạch điều trị. • Laser nội tĩnh mạch có những ưu điểm như trên nên những bệnh về tim mạch, thần kinh, miễn dịch, bệnh ngoài da, tiết niệu, hô hấp được lựa chọn hàng đầu. • Các bệnh được điều trị bằng máy laser nội mạch được chia làm 2 nhóm: C. Một số bệnh tim mạch dùng laser nội tĩnh mạch điều trị. • . Nhóm 1: các bệnh nên điều trị định kỳ 6 tháng một đợt, mỗi đợt 10 ngày như hội chứng chuyển hóa (bao gồm tăng huyết áp, nhiễm mỡ máu, nhiễm mỡ gan, gout, tiểu đường), thiếu máu cơ tim, vữa xơ động mạch, thiếu máu não, di chứng tai biến mạch máu não. C. Một số bệnh tim mạch dùng laser nội tĩnh mạch điều trị. • Nhóm 2: các bệnh cần điều trị theo phác đồ riêng như viêm tắc động tĩnh mạch, suy nhược thần kinh, nhức đầu mãn tính và di chứng chấn thương sọ não; bệnh da liễu nặng (tổ đỉa, chàm, vẩy nến, mụn trứng cá nặng); tăng sức đề kháng cho bệnh nhân ung thư... I. Điều trị di chứng liệt nửa người do tai biến mạch máu não bằng bức xạ laser Heli-Neon chiếu nội mạch. • Giới thiệu chung về laser He-Ne: - Laser khí He-Ne làm việc ở bước sóng 632,8nm với công suất phát xạ cố định, có thể 2mW hay 5mW hoặc 7mW - Bộ phận định thời phục vụ cho việc điều trị. - Một đoạn sợi quang học mềm, một đầu nối trực tiếp với đầu ra của laser, đầu thứ hai nối trực tiếp với bộ phận đưa chùm tia laser khí He-Ne vào nội tĩnh mạch. • Bộ phận dẫn chùm tia laser vào nội tĩnh mạch bao gồm 1 đầu nối giữa thiết bị phát tia laser với sợi quang học, sợi quang học, bộ phận nối giữa sợi quang học với kim luồn tĩnh mạch, kim luồn tĩnh mạch( loại dùng 1 lần). Tia laser sẽ đi qua bộ phận nối, theo sơi quang học, tiếp tục qua bộ phận nối với kim và cuối cùng qua kim đi thẳng vào trong tĩnh mạch đang hoạt động. Đặt vấn đề : Tai biến mạch máu não (TBMMN) là một bệnh khá phổ biến, nếu người bệnh qua được giai đoạn hiểm nghèo thường phải chịu những hậu quả như liệt nửa người, tinh thần sa sút ... và trở thành phế nhân, một gánh nặng cho gia đình và xã hội. Ở Việt Nam, riêng ở bệnh viện Chợ Rẫy trong 10 năm cũng có 2.962 bệnh nhân bị TBMMN . Phương pháp tiến hành: a. Đối tượng: Những bệnh nhân tai biến mạch máu não đã qua giai đoạn cấp cứu tại bệnh viện đa khoa và đến trực tiếp Lâm sàng: Liệt nửa người có thể kèm theo liệt dây thần kinh trung ương VII, có một số ít bệnh nhân có rối loạn tâm thần nhẹ. Phương tiện: -Máy Laser He-Ne 10mW. - Dây quang dẫn được chế tạo lại sao cho đường kính ngoài của dây gần bằng đường kính trong của kim. - Kim số 18 để luồn dây quang dẫn vào mạch máu. - Bơm tiêm 10ml. - Vitamin C 500mg/5ml Thủ thuật: - Bệnh nhân được chuẩn bị như tiêm tĩnh mạch, lấy tĩnh mạch nền. - Chọc kim vào mạch như thủ thuật tiêm mạch máu, tiêm vitamin C vào mạch, tháo bơm tiêm, để lại kim, dùng ngón tay bấm nhẹ lên phần tĩnh mạch đầu kim để tránh máu chảy ngược ra, luồn dây quang dẫn qua kim, đầu dây quang dẫn qua khỏi mũi kim khoảng 2-3mm. - Dùng băng dính cố định. - Điều chỉnh máy hẹn giờ tùy ý thầy thuốc. *Liệu trình điều trị: - Mỗi lần 15 phút. - Mỗi liệu trình là 10-15 lần và cách nhau từ 5-10 ngày. Khó khăn: • Ở một số bệnh nhân do mạch máu chìm, nhỏ hoặc phải làm nhiều lần tại một vị trí cho nên việc luồn dây quang dẫn vào tĩnh mạch đôi lúc găp trở ngại và mất thời gian. Tư liệu thu thập: Có 168 bệnh nhân từ 9.1991 đến tháng 6.1994. * Kết quả cụ thể: - Khá: : 50-70% - Trung bình: : 30-50% - Kém: : < 30% Nhận xét và bàn luận: - Phương pháp này đơn giản, mọi cơ sở có thể áp dụng được, chỉ cần có phương tiện. - Nhược điểm của phương pháp này là luồn dây quang dẫn vào mạch mạch máu qua một kim lớn, gây đau và dễ vỡ mạch máu, nhất là với bệnh nhân có tĩnh mạch chìm và nhỏ. - Trong quá trình trị liệu nếu được chiếu Laser sớm được thì đa số bệnh nhân thấy đáp ứng rất rõ rệt (về chức năng vận động, tinh thần) trong 2 tuần đầu tiên. Cảm ơn các bạn đã lắng nghe.