Đề tài Liên minh an ninh Mỹ - Nhật trong chiến tranh lạnh

Sau thế chiến II, Nhật Bản là nước bại trận còn phe Đồng minh gồm Mỹ, Anh, Pháp và Liên Xô là các nước thắng trận. Ngày 14/8/1945, Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng quân đội Đồng minh vô điều kiện, Nhật Bản chịu sự chiếm đóng của lực lượng quân Đồng minh với Tướng Douglas Mac Arthur được chỉ định giữ chức Tổng chỉ huy tối cao các lực lượng Đồng minh. Mục tiêu chủ yếu của lực lượng Đồng minh chiếm đóng ở Nhật Bản là thủ tiêu chủ nghĩa quân phiệt và thiết lập dân chủ hóa nước Nhật. Song lực lượng Đồng minh chiếm đóng ở Nhật Bản lúc này chủ yếu là người Mỹ nên các chính sách thực thi của họ không nằm ngoài mục tiêu đảm bảo Nhật Bản không thể trở thành mối đe doạ đối với Mỹ. Tuy nhiên, sự chiếm đóng của Mỹ ở Nhật diễn ra đồng thời với việc Mỹ giúp đỡ Nhật Bản phục hồi kinh tế và phát triển văn hoá. Cùng với kế hoạch Marshall ở châu Âu, Mỹ viện trợ kinh tế và khoa học kĩ thuật cho Nhật. Phong cách Mỹ và lối sống Mỹ cũng bắt đầu xâm nhập vào xã hội Nhật Bản. Năm 1949, khi cách mạng Trung Quốc thành công với sự ra đời của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Mỹ đã thực hiện "đường lối đảo ngược", đẩy mạnh quan hệ với Nhật Bản nhằm ngăn chặn làn sóng cộng sản ở châu Á. Tóm lại, Nhật Bản bại trận trong CTTG II đã mở ra một thời kỳ mới trong quan hệ Mỹ-Nhật. Kết thúc chiến tranh cũng có ý nghĩa là mở đầu thời kỳ chiếm đóng của Mỹ ở Nhật Bản. Điều này phản ánh đúng thực trạng của hai nước sau chiến tranh, một bên thắng trận và một bên bại trận. Kẻ bại trận bị nhiều điều khoản ràng buộc mang tính quốc tế và bị kiệt quệ về kinh tế. Quan hệ Mỹ-Nhật vốn là cựu thù trong chiến tranh nay đã trở thành đồng minh chiến lược.

doc20 trang | Chia sẻ: ngtr9097 | Ngày: 03/06/2013 | Lượt xem: 4676 | Lượt tải: 16download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Liên minh an ninh Mỹ - Nhật trong chiến tranh lạnh, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
DANH SÁCH NHÓM LỚP CT B35 Nguyễn Thị Minh Thư (nhóm trưởng) Mai Thị Thùy Linh Lê Trung Anh Đặng Ngọc Hường Lê Thanh Hải MỤC LỤC LỊCH SỬ QUAN HỆ MỸ - NHẬT SAU CTTG II: Sau thế chiến II, Nhật Bản là nước bại trận còn phe Đồng minh gồm Mỹ, Anh, Pháp và Liên Xô là các nước thắng trận. Ngày 14/8/1945, Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng quân đội Đồng minh vô điều kiện, Nhật Bản chịu sự chiếm đóng của lực lượng quân Đồng minh với Tướng Douglas Mac Arthur được chỉ định giữ chức Tổng chỉ huy tối cao các lực lượng Đồng minh. Mục tiêu chủ yếu của lực lượng Đồng minh chiếm đóng ở Nhật Bản là thủ tiêu chủ nghĩa quân phiệt và thiết lập dân chủ hóa nước Nhật. Song lực lượng Đồng minh chiếm đóng ở Nhật Bản lúc này chủ yếu là người Mỹ nên các chính sách thực thi của họ không nằm ngoài mục tiêu đảm bảo Nhật Bản không thể trở thành mối đe doạ đối với Mỹ. Tuy nhiên, sự chiếm đóng của Mỹ ở Nhật diễn ra đồng thời với việc Mỹ giúp đỡ Nhật Bản phục hồi kinh tế và phát triển văn hoá. Cùng với kế hoạch Marshall ở châu Âu, Mỹ viện trợ kinh tế và khoa học kĩ thuật cho Nhật. Phong cách Mỹ và lối sống Mỹ cũng bắt đầu xâm nhập vào xã hội Nhật Bản. Năm 1949, khi cách mạng Trung Quốc thành công với sự ra đời của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Mỹ đã thực hiện "đường lối đảo ngược", đẩy mạnh quan hệ với Nhật Bản nhằm ngăn chặn làn sóng cộng sản ở châu Á. Tóm lại, Nhật Bản bại trận trong CTTG II đã mở ra một thời kỳ mới trong quan hệ Mỹ-Nhật. Kết thúc chiến tranh cũng có ý nghĩa là mở đầu thời kỳ chiếm đóng của Mỹ ở Nhật Bản. Điều này phản ánh đúng thực trạng của hai nước sau chiến tranh, một bên thắng trận và một bên bại trận. Kẻ bại trận bị nhiều điều khoản ràng buộc mang tính quốc tế và bị kiệt quệ về kinh tế. Quan hệ Mỹ-Nhật vốn là cựu thù trong chiến tranh nay đã trở thành đồng minh chiến lược. CƠ SỞ HỢP TÁC: Giữa Mỹ và Nhật Bản, quan hệ đặc biệt đã được xác lập suốt trong giai đoạn chiến tranh lạnh, đó là mối quan hệ giữa người bảo trợ và người được bảo trợ. Sau thất bại trong chiến tranh thế giới II, Nhật Bản đã chọn con đường phát triển kinh tế bằng toàn bộ sức lực của mình, phó thác việc phòng vệ Nhật Bản vào tay Mỹ, nước thắng Nhật trong chiến tranh. Mối quan hệ bất bình đẳng này đã tồn tại trong một thời gian dài vì nó phục vụ cho lợi ích của cả Mỹ và Nhật Bản. Lý thuyết về cơ sở hợp tác an ninh Trong quá trình để bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và các lợi ích quốc gia, các quốc gia có cùng chung mục đích hoặc có chung kẻ thù đã liên kết với nhau để kết hợp khả năng quân sự, chính trị tạo nên sức mạnh chung nhằm đạt được mục đích đề ra. Do các quốc gia có sự khác nhau về đặc điểm dân cư, địa lý, giới cầm quyền, văn hóa … nên luôn tồn tại các mâu thuẫn. Vì vậy từ thời thượng cổ đến nay việc quốc gia này liên minh hợp tác với các quốc gia khác để bảo vệ an ninh quốc gia là việc thường thấy. Có những liên minh tạm thời, lỏng lẻo nhưng cũng có những liên minh tồn tại lâu dài, chặt chẽ. An ninh quốc gia được đảm bảo khi không có các mối đe dọa đến các lợi ích của nó hoặc nếu có thì quốc gia này có khả năng ngăn chặn và đẩy lùi các đe dọa đó. Các quốc gia thường lựa chọn tham gia vào một liên minh là giải pháp đem lại cho quốc gia nhiều mặt lợi. Thứ nhất, một liên minh sẽ giúp quốc gia bổ sung được sức mạnh. Do các quốc gia luôn bị giới hạn về nguồn lực nên quốc gia sẽ gặp phải những hạn chế nhất định khi phải tự đối phó với các nguy cơ an ninh. Với sự kết hợp thành liên minh khả năng kết hợp sức mạnh lại với nhau để tang cường sức mạnh của cả hai Ngoài ra hợp tác an ninh là một phương cách hợp lí và có hiệu quả để góp phần thực hiện được mục tiêu an ninh của một quốc gia thông qua việc tăng cường khả năng chống chọi với các mối đe dọa, giảm được chi phí, tiết kiệm được nguồn lực, răn đe các đối thủ và tạo dựng quan hệ tốt hơn với đồng minh. Thêm vào đó, các nhà hiện thực chủ nghĩa cho rằng mục đích cơ bản của các chủ thể trong chính trị quốc tế là bảo vệ lợi ích dân tộc, mà trước hết là đảm bảo an ninh tối đa của riêng mình. Trong một thế giới vô chính phủ, để đảm bảo an ninh của mình chống lại một nước hoặc một nhóm nước đang tăng cường quyền lực quá mức và do đó đe doạ sẽ thống trị cả thế giới hay một phần thế giới, các quốc gia thường thi hành chính sách cân bằng lực lượng bằng cách tạo ra một đối trọng sức mạnh tương đương nhờ vào việc tăng cường sức mạnh của chính mình hoặc thiết lập liên minh phòng thủ với một số nước khác. Trong bối cảnh chiến tranh lạnh, khi mà hai nước đối đầu là Liên Xô và Mỹ đều đang tìm cách để nâng cao sức mạnh, mở rộng tầm ảnh hưởng của mình, đồng thời kìm chế sức mạnh của đối phương thì việc tìm thêm cho mình một đồng minh là rất quan trọng. Để đối phó với Liên Xô và chủ nghĩa cộng sản đang ngày càng lớn mạnh, Mỹ và Nhật Bản đã chọn lựa cách liên minh với nhau. Đối với Mỹ thì Nhật Bản là một đồng minh quan trọng ở khu vực châu Á Thaí Bình Dương, là căn cứ tiền tiêu của Mỹ chống lại Liên Xô và các nước cộng sản. Còn với Nhật Bản thì sự có mặt của Mỹ ở đây sẽ đảm bảo an ninh cho nước này khi mà Liên Xô và Trung Quốc bên cạnh đang ngày càng tăng cường khả năng quân sự, đặc biệt là vũ khí hạt nhân của hai nước này lúc nào cũng có thể lăm le đe dọa đến Nhật Bản. Giữa Mỹ và Nhật Bản, quan hệ đặc biệt đã được xác lập trong suốt giai đoạn chiến tranh lạnh, đó là quan hệ giữa người bảo trợ và người được bảo trợ. Mới nhìn qua thì có thể thấy được tính bất cân đối, bất bình đẳng trong mối quan hệ này, tuy vậy hai nước vẫn là đồng minh với nhau ngay cả khi chiến tranh lạnh kết thúc, có lẽ phần lớn là do nó còn phục vụ cho những lợi ích riêng khác của cả hai nước. Phía Mỹ: Chính sách đối ngoại của Mỹ sau chiến tranh thế giới 2 nhằm thực hiện hai mục tiêu chính: Xoá bỏ hoàn toàn trật tự thế giới cũ của các đế quốc Tây Âu, đưa toàn bộ thế giới tư bản chủ nghĩa vào một trật tự chính trị và kinh tế mới do Hoa Kỳ khống chế. Làm suy yếu, ngăn chặn sự phát triển và lan rộng ảnh hưởng của Liên Xô và chủ nghĩa xã hội. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, Mỹ chọn mục tiêu thứ hai làm chủ đạo, thực hiện chính sách “ngăn chặn cộng sản”. Học thuyết quân sự của Mỹ trong thời kỳ này nhằm tìm cách giành ưu thế quân sự trên phạm vi toàn cầu; bao vây cô lập Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa; xây dựng các khối quân sự để vừa kiểm soát các đồng minh, vừa tạo cơ sở cho hoạt động quân sự khi cần thiết. Ở Tây Âu, Mỹ đã xây dựng khối Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO). Trong khi đó ở châu Á Thái Bình Dương, Mỹ đã xây dựng hàng trăm căn cứ quân sự thành các phòng tuyến nhiều tầng nấc, trong đó Mỹ coi việc xây dựng Hiệp ước phòng thủ với Nhật Bản lâu dài là hết sức cần thiết, thậm chí coi Nhật Bản như một NATO phương Đông. Lợi ích chiến lược của Mỹ ở châu Á được xác định vào khoảng thời gian 1949-1950. Tháng 1/1950, Ngoại trưởng Mỹ Dean Acheson đã tuyên bố: “Phạm vi phòng thủ của Mỹ trải từ A-lơ-san đến Nhật Bản và tiếp tục đến tận quần đảo Ryu-kyu và Phillipin”. Chính sách của Mỹ đối với Nhật Bản thời kỳ sau Chiến tranh thế giới II phản ánh chiến lược toàn cầu của Mỹ nhằm thực hiện cuộc chiến tranh lạnh mà nội dung chính của nó là cô lập và tiến tới xoá bỏ hệ thống XHCN theo mô hình Xô viết. Việc chiếm đóng Nhật Bản sau chiến tranh và giúp Nhật khôi phục và phát triển kinh tế nằm trong những tính toán chiến lược của nước này. Một mặt Mỹ muốn chứng tỏ với công luận của Nhật Bản và thế gới rằng cuộc chiến tranh đã qua, sự giúp đỡ đối với Nhật Bản là cần thiết và qua đó nhằm xoá đi hình ảnh chẳng đẹp đẽ gì của đội quân chiếm đóng. Mặt khác, dùng Nhật như một căn cứ tiền tiêu để răn đe hai siêu cường cộng sản là Liên Xô và Trung Quốc. Bên cạnh đó, Hiệp ước an ninh Mỹ- Nhật là Mỹ nhằm biến Nhật thành một bàn đạp cho các lực lượng của Mỹ ở Viễn Đông, lôi kéo Nhật vào liên minh chống liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, gây chiến tranh xâm lược ở Triều Tiên (1950- 1953), chống nhân dân hai nước Trung – Triều, đàn áp phong trào dân chủ đang phát triển mạnh mẽ ở Nhật Bản. Hơn nữa, việc liên minh với Nhật Bản, đặc biệt là sau sự ra đời của Hiệp ước phòng thủ giữa hai nước còn tạo cơ sở pháp lý cho việc có mặt dài hạn của các căn cứ quân sự Mỹ ở Nhật, đồng thời Mỹ cũng muốn kiểm soát trực tiếp và kiềm chế khả năng quân sự của Nhật Bản. Một liên minh quân sự với Nhất cũng là một sự đảm bảo chắc chắn cho sự có mặt của Mỹ trong khu vực và sự an tâm của Nhật trước các thách thức lớn như Liên Xô, Trung Quốc hay Triều Tiên. 3. Phía Nhật Bản: Chính sách của Nhật Bản được bắt đầu với “Học thuyết Yoshida” và được củng cố, phát triển vào những năm 1960 dưới thời các Chính phủ Ikeda và Satò, bao gồm 3 điểm cốt lõi: Trong chiến tranh lạnh, Nhật Bản coi mình là một thành viên của phương Tây, xác định phương châm chủ yếu “thoát Á, nhập Âu”. Dựa vào Mỹ để đảm bảo an ninh quốc phòng, hạn chế đến mức nhỏ nhất việc xây dựng lực lượng phòng vệ của riêng mình. Nhật hoàn toàn phụ thuộc vào Mỹ, tranh thủ sự giúp đỡ của Mỹ về an ninh, quốc phòng để tạp trung phát triển kinh tế. Coi trọng khôi phục và phát triển kinh tế. Đặc trưng của chính sách ngoại giao kinh tế này là đuổi kịp và vượt các nước phát triển khác. Tôn chỉ của Nhật trong thời kỳ này là “ chỗ ngồi thấp, lợi nhuận cao”. Do đó, thêm một hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật dường đóng vai trò tích cực cho chiến lược phát triển của Nhật hơn là những tiêu cực nó đưa lại. Chiến tranh thế giới thứ hai để lại cho Nhật Bản những hậu quả nặng nề (gần 3 triệu người chết và mất tích, kinh tế bị tàn phá, 13 triệu người thất nghiệp, đói rét…), bị Mỹ chiếm đóng dưới danh nghĩa Đồng minh (1945 – 1952). Trong tình hình hết sức khó khăn như vậy và thêm sức ép của các nước thắng trận Nhật đã cam kết đi theo chính sách hòa bình và chỉ duy trì một lực lượng quân sự hòa toàn có tính chất phòng thủ. Điều 9 Hiến pháp năm 1947 của Nhật quy định Nhật không được quyền sở hữu các lực lượng bộ binh, hải quân và không quân cấm xuất khẩu vũ khí cũng như không cho phép Nhật giải quyết tranh chấp bằng vũ lực. Với hạn chế như thế và trước một nước Nga hùng mạnh với vô số các đầu đạn hat nhân tên lửa và Trung Quốc đang muốn khẳng định mình thì Nhật không có cách nào tốt hơn là hợp tác an ninh với Mỹ, dựa vào Mỹ và ô hạt nhân của Mỹ để duy trì hạt nhân trong thời kỳ chiến tranh lạnh Lê Linh Lan, “Vai trò an ninh của Nhật Bản thời kỳ sau chiến tranh lạnh”, Tạp chí nghiên cứu quốc tế số 4,tháng 12/1995. . Bên cạnh đó, việc ký hiệp ước với Mỹ sẽ giúp Nhật tiết kiệm được một khoản chi phí quốc phòng lớn và cho phép Nhật chỉ tập trung vào một mối quan tâm chủ yếu là phát triển kinh tế. Ngoài ra cũng phải ghi nhận rằng sự phục hồi sau chiến tranh chưa tạo cho nước Nhật một vị trí đủ mạnh để mặc cả với Mỹ khi ký kết hiệp ước giữa hai nước. III. NỘI DUNG HỢP TÁC: 1. Các nguyên tắc duy trì Liên minh Hiệp ước hòa bình công nhận rằng Nhật Bản là một quốc gia có chủ quyền có quyền tham gia vào các thỏa thuận an ninh tập thể, và hơn nữa, Điều lệ của Liên Hiệp Quốc công nhận rằng tất cả các quốc gia có quyền cố hữu của cá nhân và tập phòng thủ tự. Trong thực hiện các quyền này, Nhật Bản mong muốn, như một sự sắp xếp tạm thời cho quốc phòng của mình, rằng Hoa Kỳ sẽ duy trì lực lượng vũ trang của riêng mình và về Nhật Bản để ngăn chặn cuộc tấn công vũ trang vào Nhật Bản. Hoa Kỳ, vì lợi ích của hòa bình và an ninh, hiện đang sẵn sàng để duy trì nhất định của lực lượng vũ trang của mình và về Nhật Bản, với mong muốn, tuy nhiên, Nhật Bản sẽ ngày càng tự chịu trách nhiệm phòng thủ của riêng mình chống lại trực tiếp và gián tiếp xâm lược, luôn luôn tránh bất kỳ trang bị vũ khí mà có thể là một mối đe dọa tấn công hoặc phục vụ khác hơn là để thúc đẩy hòa bình và an ninh theo quy định của mục đích và nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp Quốc. Hoa Kỳ cung cấp các lực lượng không quân và lực lượng biển cho Nhật Bản. Các lực lượng này có thể được sử dụng để góp phần duy trì hòa bình và an ninh ở vùng Viễn Đông và đến an ninh của Nhật Bản chống lại cuộc tấn công vũ trang, bao gồm cả hỗ trợ được theo yêu cầu rõ ràng của Chính phủ Nhật Bản để đưa ra cuộc bạo loạn và rối loạn nội mô lớn ở Nhật Bản, gây ra thông qua sự xúi giục hoặc can thiệp của một quyền lực bên ngoài, quyền hạn.(Điều1) Trong quá trình thực hiện quyền nêu tại Điều 1, Nhật Bản sẽ không cấp, nếu không có sự đồng ý trước của Hoa Kỳ, bất kỳ cơ sở hoặc bất kỳ quyền, quyền hạn, cơ quan nào, trong hoặc liên quan đến cơ sở, quyền của đơn vị đồn trú hoặc của cơ động, hoặc quá cảnh của mặt đất, không khí hay các lực lượng hải quân đến bất kỳ quyền lực thứ ba. Điều 2, Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật năm 1951 Các điều kiện đó phải phối trí các lực lượng vũ trang của Hoa Kỳ tại và về Nhật Bản được xác định bằng các thoả thuận hành chính giữa hai Chính phủ. Điều 3, Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật năm 1951 Hiệp ước này sẽ hết hạn bất cứ khi nào theo ý kiến ​​của các Chính phủ của Hoa Kỳ và Nhật Bản có trách nhiệm đã có hiệu lực như Liên Hợp Quốc sắp xếp hoặc bố trí thay thế như an ninh cá nhân hoặc tập thể tốt sẽ cung cấp cho việc bảo dưỡng của Liên Hiệp Quốc hay không hòa bình và an ninh trong khu vực Nhật Bản. Điều 4, Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật năm 1951 Theo hiệp ước, cả hai bên có nghĩa vụ để duy trì và phát triển năng lực của họ để chống lại cuộc tấn công vũ trang ở chung và để hỗ trợ lẫn nhau trong trường hợp tấn công vũ trang vào vùng lãnh thổ thuộc quyền quản lý của Nhật Bản., tuy nhiên, rằng Nhật Bản không thể giúp đỡ với các quốc phòng của Hoa Kỳ bởi vì nó đã được hiến pháp cấm việc gửi các lực lượng vũ trang ở nước ngoài (Điều 9). Hiệp ước cũng thể hiện sự từ bỏ của người dân Nhật Bản về "mối đe dọa hoặc sử dụng vũ lực như một phương tiện giải quyết tranh chấp quốc tế". Điều 6 của hiệp ước quy định về việc đóng quân của lực lượng Hoa Kỳ tại Nhật Bản, với chi tiết cụ thể về cung cấp cơ sở và các khu vực sử dụng của họ và chính quyền của công dân Nhật Bản. Biên bản thỏa thuận với các điều ước quy định rằng chính phủ Nhật Bản phải được tư vấn trước khi thay đổi trong việc triển khai lực lượng Hoa Kỳ tại Nhật Bản hay với việc sử dụng các căn cứ của Nhật Bản cho các hoạt động chiến đấu khác trong quốc phòng của Nhật Bản chính nó. Phạm vi của hiệp ước năm 1960 không mở rộng đến quần đảo Ryukyu, nhưng trong trường hợp của một cuộc tấn công vũ trang trên đảo, cả hai chính phủ sẽ tham khảo ý kiến ​​và có hành động thích hợp Năm 1960 Mỹ-Nhật Bản hiệp ước an ninh Nhật Bản yêu cầu duy nhất Nhật Bản cung cấp cơ sở và trang thiết bị quân đội Mỹ đóng quân ở đó. Hiệp ước ký năm 1960 cho phép quân đội Mỹ đưa vũ khí nguyên tử vào Nhật Bản mà không cần hỏi ý kiến trước. Hiệp ước này vô hiệu hóa các thỏa thuận hai nước đã ký trước đó, theo đó Mỹ phải hỏi ý kiến Nhật Bản trước khi đưa vũ khí nguyên tử tới nước này. 2. Phạm vi đối tượng và hình thức phối hợp. 2.1 Phạm vi đối tượng Hiệp ước này ký kết tại Washington ngày 19/1/1960, gắn bó hai cựu thù của Chiến tranh thế giới thứ II trong  mối quan hệ đối tác an ninh chiến lược, Mỹ- Nhật Bản. Mỹ cam kết sẽ bảo vệ Nhật Bản - nước thực thi Hiến pháp hòa bình - bằng sự hiện diện quân sự lâu dài tại đất nước này. Mỹ sẽ giúp Nhật đáp trả lại các cuộc tấn công vào Nhật Bản, – “không chỉ đóng góp vào nền an ninh của quốc gia mà còn góp phần vào sự ổn định và phát triển của khu vực châu Á – Thái Bình Dương”. Theo hiệp ước, khoảng 47.000 binh lính Mỹ hiện đồn trú tại Nhật Bản, trong đó hơn một nửa số binh lính có mặt tại miền Nam đảo Okinawa. Lần sửa đổi thứ nhất năm 1960, khu vực mà hiệp ước an ninh Mỹ- Nhật trực tiếp nhằm vào là vùng Cận Đông với mục đích ngăn chặn Nga và chủ nghĩa cộng sản. Trương Tiểu Minh, “Chiến tranh lạnh và di sản của nó”, NXB chính trị Quốc gia . 2003 "Hiệp ước phòng thủ chung" này đã tồn tại tới đầu năm 1978 mà không có sửa đổi bổ sung gì. Từ cuối những năm 70, tình hình quốc tế có nhiều biến đổi và theo sự đánh giá của Nhật Bản và Hoa Kỳ, thì sự biến đổi đó là bất lợi cho họ. Việc Liên Xô lúc đố chuẩn bị đưa quân vào Afganixtan đã gây sự lo ngại cho Nhật Bản và phương Tây. Việc suy giảm ảnh hưởng của Mĩ ở Đông Nam á gây ra một cú sốc cho một số đồng minh của Mĩ ở khu vực này. Trước bối cảnh đó, Nhật Bản và Hoa Kỳ đã điều chỉnh một bước chíên lược hợp tác an ninh song phương vào cuối 1978. Có thể nói đây là lần điều chỉnh đầu tiên của chương trình hợp tác phòng thủ Nhật Bản - Hoa Kỳ kể từ khi họ ký hiệp ước an ninh 1960. Lần điều chỉnh hợp tác an ninh Nhật Bản - Hoa Kỳ thứ hai diễn ra từ giữa những năm 1980. Có thể nói sự điều chỉnh lần này chỉ mang tính chất chiến thuật chứ không phải chiến lược. Bởi vì hầu như không có sửa đổi gì so với lần sửa đổi 1978. Trong lần sửa đổi năm 1978 "chiến lược hợp tác phòng vệ Nhật Bản" xác định khu vực phòng thủ của liên minh Nhật Bản - Hoa Kỳ là "vùng Viễn Đông" không bao gồm Trung Quốc và Nam Triều Tiên. Đây là một bước mở rộng so với hiệp ước an ninh Nhật Bản - Hoa Kỳ ký năm 1960. Hiệp ước này xác định, khu vực phòng vệ chung Nhật Bản - Hoa Kỳ được giới hạn trong phạm vi 200 hải lý mà điểm mốc là căn cứ vào ba eo biển của Nhật Bản là Tsugaru, Tushima và Soya. Sự điều  chỉnh chương trình hợp tác an ninh lần này chỉ mang tính chất chiến thuật bởi vì thời kỳ đó Nhật Bản tỏ ra kiên quyết ủng hộ các hành động quân sự và ngoại giao cứng rắn của Mĩ nhằm chống lại "chủ nghĩa phiêu lưu" của Liên Xô. Đồng thời Nhật Bản cũng đồng ý tham gia chương trình "sáng kiến phòng thủ chiến lược - cuộc chiến tranh giữa các vì sao" do Hoa Kỳ chủ xướng. Còn nội dung hợp tác an ninh mà hai nước đã thoả thuận trước đó không có gì thay đổi.  Ü Trên thực tế, những điều chỉnh chiến lược hợp tác an ninh giữa Nhật Bản và Hoa Kỳ trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh vẫn thiên về học thuyết lấy phòng vệ làm "phương châm chỉ đạo" và sẵn sàng đáp lại đối phương nếu nước Nhật bị tấn công. 2.2. Hình thức phối hợp Có thể thấy hiếm có cơ chế hợp tác song phương nào có sự phối hợp toàn diện như liên minh Mỹ_ Nhật. Theo hiệp ước, mỗi chính phủ sẽ hỗ trợ nhau trong trường hợp bị tấn công, bất cứ bên nào bị tấn công thì bên kia cũng coi như sự tấn công nhằm vào quốc gia mình. Chính phủ Nhật có những điều khoản hỗ trợ trang thiết bị, máy móc phương tiện cho sự hoạt động để đảm bảo an ninh của quân đội Mỹ tại Nhật. Có thể thấy, có tơí 75% chi phí quân sự của Mỹ trên đất Nhật do nước chủ nhà cung cấp. Chương trình viện trợ quân sự đã cung cấp cho việc mua lại của Nhật Bản vốn, trang thiết bị và các dịch vụ thiết yếu cho quốc phòng của quốc gia. Although Japan no longer received any aid from the United States by the 1960s, the agreement continued to serve as the basis for purchase and licensing agreements ensuring interoperability of the two nations' weapons and for the release of classified data to Japan, including both international intelligence reports and classified technical information. Mặc dù Nhật Bản không còn nhận được viện trợ từ Hoa Kỳ, những năm 1960, thỏa thuận tiếp tục phục vụ như là cơ sở để mua và cấp giấy phép thỏa thuận đảm bảo khả năng chuyển giao công nghệ quốc phòng của hai quốc gia như vũ khí , việc phát hành các dữ liệu đã được phân loại vào Nhật Bản, bao gồm cả tình báo quốc tế báo cáo và thông tin kỹ thuật phân loại. 3.So sánh liên minh Mỹ - Nhật và liên minh Mỹ - Hàn trong chiến tranh lạnh 3.1. Liên minh Mỹ-Nhật và Mỹ -Hàn: vành đai an ninh ở khu vực Châu á của Mỹ để ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản, gia tăng ảnh hưởng tại khu vực: Về cơ bản, cơ sở hình thành hai liên này là đều hình thành dựa trên lợi ích của Mỹ lúc bấy giờ là ngăn chặn sự lan rộng của chủ nghĩa Cộng sản bằng việc viện trợ để tìm kiếm đồng minh tại Châu Á, duy trì các lực lượng quân đội cần thiết tại các điềm nóng: như Triều Tiên hay Đông Nam Á. Ngược lại, cả Nhật Bản và Hàn Quốc đều muốn tận dụng Chiến tranh lạnh làm thời cơ để tái thiết đất nước sau cuộc chiến tranh thế giới thứ hai mà Nhật là nước bại trận và cuộc chiến tranh Triều Tiên sau khi Hàn Quốc đã bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Ngoài ra, bản chất của liên minh cũng đều có tính một chiều, do Mỹ lãnh đạo, còn Hàn Quốc và Nhật Bản là hai quốc gia bị động về chính trị và quân sự. Sau khi Mỹ ký với Nhật Bản và Hàn Quốc hai hiệp ước về
Luận văn liên quan