Đề tài Lý luận tuần hoàn và chu chuyển tư bản của C.Mác - Ý nghĩa của nó đối với vấn đề huy động và sử dụng vốn ở nước ta hiện nay

Trong mọi nền kinh tế, sự gia tăng tư bản và giá trị thặng dư luôn là quan tâm hàng đầu của các nhà tư bản, để đi đến những mục tiêu đó, thì tuần hoàn và chu chuyển tư bản chính là những định hướng cơ bản mà nền kinh tế phải dựa vào. Lựa chọn đề tài “ Lý luận tuần hoàn và chu chuyển tư bản của C.Mác. Ý nghĩa của nó đối với vấn đề huy động và sử dụng vốn ở nước ta hiện nay ’’ là dựa trên một số lý do sau: -Thứ nhất, tuần hoàn và chu chyển là điều kiện để tư bản lớn lên và đồng thời tạo ra giá trị thặng dư nhờ đó mà nền kinh tế mới phát triển được. -Thứ hai, tuần hoàn và chu chuyển giống như một con đường mà bất kỳ một nhà tư bản nào muốn tồn tại và phát triển thì buộc phải đi. Vì chỉ khi hiểu được bản chất, những điều kiện và các yếu tố liên quan đến quá trình lưu thông thì người ta mới có thể tham gia vào quá trình sản xuất và tạo ra giá trị thặng dư. -Thứ ba, ngày nay nền kinh tế chịu nhiều yếu tố tác động về mọi mặt. Vì vậy, việc bám sát vào quá trình tuần hoàn và chu chuyển có thể giúp cho các nhà tư bản có thể phát triển dây truyền sản xuất, định hướng và hoạch định chiến lược một cách đúng đắn và phù hợp hơn. Nhờ đó mới có thể đứng vững và tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển. -Thứ tư, từ việc lấy ví dụ thực tế về vấn đề huy động và sử dụng vốn của nước ta hiện nay trong những năm gần đây sẽ góp phần hiểu rõ hơn về ý nghĩa lý luận tuần hoàn và chu chuyển tuần hoàn của C.Mác. Thêm vào đó đây là một vấn đề rất nhạy cảm hiện nay vì để thực hiện điều này thì đòi hỏi sự nhạy bén và sự đúng đắn cao độ nếu không sẽ rất dễ dẫn đến những hậu quả khôn lường. Từ những kết quả trong thực tế cho thấy: Nếu sử dụng hợp lý nó sẽ góp phần không nhỏ đến sự phát triển chung của nền kinh tế. Ngược lại, nếu không biết cách khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn vốn có thể dẫn đến những sai lần ngiêm trọng gây thất thoát nguồn tài chính quý báu đồng thời cũng ảnh hưởng tới nhiều yếu tố khác .

doc31 trang | Chia sẻ: lvbuiluyen | Lượt xem: 13509 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Lý luận tuần hoàn và chu chuyển tư bản của C.Mác - Ý nghĩa của nó đối với vấn đề huy động và sử dụng vốn ở nước ta hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tiểu luận Lý luận tuần hoàn và chu chuyển tư bản của C.Mác. Ý nghĩa của nó đối với vấn đề huy động và sử dụng vốn ở nước ta hiện nay Phần 1: LỜI MỞ ĐẦU Trong mọi nền kinh tế, sự gia tăng tư bản và giá trị thặng dư luôn là quan tâm hàng đầu của các nhà tư bản, để đi đến những mục tiêu đó, thì tuần hoàn và chu chuyển tư bản chính là những định hướng cơ bản mà nền kinh tế phải dựa vào. Lựa chọn đề tài “ Lý luận tuần hoàn và chu chuyển tư bản của C.Mác. Ý nghĩa của nó đối với vấn đề huy động và sử dụng vốn ở nước ta hiện nay ’’ là dựa trên một số lý do sau: -Thứ nhất, tuần hoàn và chu chyển là điều kiện để tư bản lớn lên và đồng thời tạo ra giá trị thặng dư nhờ đó mà nền kinh tế mới phát triển được. -Thứ hai, tuần hoàn và chu chuyển giống như một con đường mà bất kỳ một nhà tư bản nào muốn tồn tại và phát triển thì buộc phải đi. Vì chỉ khi hiểu được bản chất, những điều kiện và các yếu tố liên quan đến quá trình lưu thông thì người ta mới có thể tham gia vào quá trình sản xuất và tạo ra giá trị thặng dư. -Thứ ba, ngày nay nền kinh tế chịu nhiều yếu tố tác động về mọi mặt. Vì vậy, việc bám sát vào quá trình tuần hoàn và chu chuyển có thể giúp cho các nhà tư bản có thể phát triển dây truyền sản xuất, định hướng và hoạch định chiến lược một cách đúng đắn và phù hợp hơn. Nhờ đó mới có thể đứng vững và tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển. -Thứ tư, từ việc lấy ví dụ thực tế về vấn đề huy động và sử dụng vốn của nước ta hiện nay trong những năm gần đây sẽ góp phần hiểu rõ hơn về ý nghĩa lý luận tuần hoàn và chu chuyển tuần hoàn của C.Mác. Thêm vào đó đây là một vấn đề rất nhạy cảm hiện nay vì để thực hiện điều này thì đòi hỏi sự nhạy bén và sự đúng đắn cao độ nếu không sẽ rất dễ dẫn đến những hậu quả khôn lường. Từ những kết quả trong thực tế cho thấy: Nếu sử dụng hợp lý nó sẽ góp phần không nhỏ đến sự phát triển chung của nền kinh tế. Ngược lại, nếu không biết cách khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn vốn có thể dẫn đến những sai lần ngiêm trọng gây thất thoát nguồn tài chính quý báu đồng thời cũng ảnh hưởng tới nhiều yếu tố khác . . Bên cạnh đó, việc tìm hiểu về tuần hoàn và chu chuyển tư bản là một yếu tố cần thiết cho tiền đề phát triển của nền sản suất nói riêng và nền kinh tế nói chung, điều này góp phần làm cho mọi người hiểu rõ hơn một phần nào đó về quá trình lưu thông của tư bản và giá trị thặng dư. Bài thảo luận dựa vào phương pháp tìm hiểu, thống kê, phân tích số liệu trong thực tế, cùng với phân tích những luận điểm trong giáo trình những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin và một số sách tham khảo khác. Trong bài làm còn có nhiều sai sót rất mong có sự đóng góp thêm của tất cả các bạn và cô giáo. Phần 2: Cơ sở lý thuyết 1.TIỀN VÀ SỰ CHUYỂN HÓA CỦA TIỀN THÀNH TƯ BẢN. 1.1 Sự ra đời của tiền Khi nền kinh tế thị trường phát triển, con người có nhu cầu trao đổi hàng hóa với nhau. Lúc đầu người ta trao đổi một cách rất ngẫu nhiên với nhau bằng các vật ngang giá, nhưng càng về sau, khi lực lượng sản xuất và phân công lao động phát triển cao, sản xuất hàng hóa và thị trường ngày càng mở rộng, hàng hóa vô cùng nhiều về số lượng, phong phú, đa dạng về chủng loại mẫu mã. Lúc này để trao đổi hàng hóa thì xuất hiện rất nhiều vật ngang giá chung làm cho sự trao đổi giữa các địa phương, các vùng miền trở nên hết sức khó khăn dẫn đến đòi hỏi một khách quan là cần phải có một vật ngang giá chung nhất. Và khi vật ngang giá chung nhất này xuất hiện, chiếm vị trí độc tôn, là vật để đánh giá mọi mức độ giá trị của các vật khác thì vật ngang giá đó được coi là tiền. Đã có nhiều loại tiền trên khắp thế giới nhưng về sau được cố định lại ở hai kim loại quý là bạc, vàng và cuối cùng là vàng. Sở dĩ bạc và vàng đóng vai trò tiền tệ là do những ưu điểm của nó như: thuần nhất về chất, dễ chia nhỏ, không hư hỏng, với một lượng nhỏ nhưng chứa đựng giá trị lớn. Về bản chất, tiền tệ là một loại hàng hóa đặc biệt được tách ra từ trong thế giới hàng hóa làm vật ngang giá chung thống nhất cho các hàng hóa khác, nó thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa. 1.2 Công thức chung của tư bản Tiền là sản vật cuối cùng của lưu thông hàng hóa, đồng thời cũng là hình thức biểu hiện đầu tiên của tư bản. Mọi tư bản lúc đầu đều biểu hiện dưới hình thái một số tiền nhất định. Nhưng bản thân tiền không phải là tư bản. Tiền chỉ biến thành tư bản trong những điều kiện nhất định, khi chúng được sử dụng để bóc lột lao động của người khác. Tiền được coi là tư bản vận động theo công thức: T - H - T ( tiền - hàng - tiền), tức là sự chuyển hóa của tiền thành hàng hóa, rồi hàng hóa lại chuyển hóa ngược lại thành tiền. Nhìn vào công thức chung của tư bản ta thấy có hai sự vận động, do hai giai đoạn đối lập nhau là mua và bán hợp thành, trong mỗi giai đoạn đều có hai nhân tố vật chất đối diện nhau là tiền và hàng tạo thành, hai người có quan hệ kinh tế với nhau là người mua và người bán. Lưu thông của tư bản bắt đầu từ việc mua (T - H) và kết thúc bằng việc bán (H - T). Trong đó tiền vừa là điểm xuất phát vừa là điểm kết thúc của quá trình, hàng hóa chỉ đóng vai trò trung gian; tiền ở đây không được chi ra dứt khoát mà chỉ là ứng ra rồi thu về. Mục đích của lưu thông tư bản không phải là giá trị sử dụng mà là giá trị, hơn thế nữa là giá trị tăng thêm. Vì vậy nếu số tiền thu về bằng số tiền ứng ra thì vô nghĩa. Do đó, số tiền thu về phải lớn hơn số tiền ứng ra, nên công thức vận động đầy đủ của tư bản là T - H - T’, trong đó T’= T + ΔT. Số tiền trội hơn so với số tiền ứng ra gọi là giá trị thặng dư. Số tiền ban đầu đã chuyển hóa thành tư bản. Vậy tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư. Mục đính lưu thông tư bản là sự lớn lên của giá trị, là giá trị thặng dư, nên sự vận động của tư bản là không có giới hạn, vì sự lớn lên của giá trị là không có giới hạn. 1.3 Mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản. Khi đưa tiền vào lưu thông, số tiền trở về tay người chủ sau khi kết thúc quá trình lưu thông tăng thêm một giá trị là DT. Vậy có phải do lưu thông đã làm tăng thêm lượng tiền đó hay không? Trong lưu thông ta xét 2 trường hợp trao đổi ngang giá và trao đổi không ngang giá: Nếu hàng hoá trao đổi ngang giá thì chỉ có sự thay đổi hình thái của giá trị còn tổng số giá trị cũng như phần thuộc về mỗi bên trao đổi thì trước sau cũng không thay đổi. Về mặt giá trị sử dụng hai bên cùng có lợi còn về mặt giá trị thì cả hai bên cùng không có lợi. Như vậy trao đổi ngang giá thì không ai thu được lợi từ lưu thông một lượng giá trị lớn đã bỏ ra. Trong trường hợp trao đổi không ngang giá, nếu người bán bán hàng hóa với một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị của hàng hóa đó như vậy người bán có được giá trị thặng dư. Nhưng bù lại người mua lại bị mất đi một lượng giá trị đó. Ngược lại, nếu người bán bán hàng hóa của anh ta với một lượng giá trị nhỏ hơn lượng giá trị thực của hàng hóa đó thì anh ta bị mất đi một lượng giá trị thặng dư và người mua của anh sẽ có được lượng giá trị thặng dư đó. Trong một vài trường hợp thì đây có thể coi là cách làm dầu lên của một số người, và họ có được giá trị thặng dư thật trong lưu thông. Những người giàu có lên kia là do họ cướp đoạt giá trị thặng dư đó trên tay của người khác chứ không phải họ tạo thêm ra từ sự bóc lột sức lao động của riêng ai. Nhưng những người này là quá ít, quá nhỏ bé trong xã hội, không thể đại diện cho một tầng lớp nào trong xã hội. Hơn thế nữa nếu xét trên một tổng thể toàn thế giới thì lượng giá trị thặng dư không thay đổi. Do đó dù khi trao đổi ngang giá hay không ngang giá thì cũng không tạo ra giá trị thặng dư. Lưu thông hàng hoá không tạo ra giá trị thặng dư. Như vậy, liệu giá trị thặng dư có phát sinh ngoài lưu thông được không? Thực tế người sản xuất hàng hoá không thể biến tiền của mình thành tư bản nếu không tiếp xúc với lưu thông. “Vậy tư bản không thể xuất hiện trong lưu thông và cũng không thể xuất hiện ở bên ngoài lưu thông nó phải xuất hiện trong lưu thông và đồng thời không phải trong lưu thông”. Đó là mâu thuẫn của công thức chung của tư bản. 1.4 Các công thức của tư bản Công thức chung của tư bản công nghiệp: Sức lao động T - H - H’ - T’ Tư liệu sản xuất Trong công thức chung của tư bản công nghiệp, cũng như công thức chung của tư bản, điểm xuất phát và điểm kết thúc đều là tiền. Mục đích của các nhà tư bản công nghiệp ở đây là dùng tiền để mua hàng hóa gồm tư liệu sản xuất và sức lao động rồi nhờ sức lao động mà họ mua để, làm thay đổi tư liệu sản xuất làm ra một hàng hóa khác. Và bán với một số tiền T’ lớn hơn số tiền đã mua vào ban đầu để lấy giá trị thặng dư. Công thức chung của tư bản thương nghiệp: T - H - T’ Nhà tư bản thương nghiệp dùng tiền của mình để mua hàng hóa của các nhà sản xuất rồi bán ra với giá cao hơn. Thực chất khi nhà tư bản thương nghiệp mua hàng hóa của nhà tư bản công nghiệp thì có nghĩa là nhà tư bản thương nghiệp đã gúp tư bản công nghiệp lưu thông hàng hóa, quay vòng vốn nhanh hơn, kiếm được nhiều lợi nhuận hơn. Vì thế nhà tư bản công nghiệp sẵn sàng bỏ ra một lượng giá trị thặng dư mà họ đã bóc lột từ sức lao động làm thuê cho các nhà tư bản thương nghiệp để hàng hóa của mình được lưu thông. Vậy lượng tiền hay giá trị thặng dư mà nhà tư bản thương nghiệp có được cũng là giá trị thặng dư bóc lột được từ sức lao động của công nhân làm thuê. Công thức chung của tư bản cho vay: T - Cho vay - T’ Các nhà tư bản cho vay dùng tiền của mình để cho người khác vay với một lãi xuất họ cho là hợp lí rồi sau một thời gian họ sẽ thu lại được một khoản tiền khác lớn hơn khoản tiền họ bỏ ra. Lúc này họ cũng đã có thêm một lượng giá trị thặng dư mới từ lượng tư bản mà họ đã bỏ ra. Về bản chất, các nhà tư bản công nghiệp là người vay tiền của các nhà tư bản cho vay để lấy vốn đầu tư, sản xuất, có thể là mua thêm tư liệu sản xuất và sức lao động để tạo thêm ra giá trị thặng dư cho họ. Các nhà tư bản công nghiệp này muốn có thêm vốn để có thể có thêm nhiều giá trị thặng dư hơn thì họ phải nhường một lượng tư bản nhất định cho tư bản cho vay. Nói cách khác tư bản cho vay có được lượng giá trị thặng dư là nhờ sự bóc lột sức lao động của các lao động làm thuê. Lượng giá trị thặng dư đó thực chất là được bóc lột từ các công nhân lao động mà nhà tư bản công nghiệp đã thuê về. Công thức chung của tư bản ngân hàng: T - Ngân hàng - T’ Nhà tư bản ngân hàng là một nhà tư bản đặc biệt, họ là những người kinh doanh một mặt hàng đặc biệt đó là tiền. Tiền được họ bỏ ra thực hiện hai hoạt động đồng thời cùng xảy ra trong một lúc là cho các nhà tư bản công nghiệp hay các nhà tư bản khác vay như một nhà tư bản cho vay, và đồng thời họ cũng đi vay tiền của bất kì ai kể cả là các nhà tư bản hay các công nhân,...miễn là họ có tiền và sau một thời gian sẽ trả lại với một lượng lớn hơn. Tư bản ngân hàng hoạt động theo kiểu vừa cho vay có lãi xuất vừa đi vay có lãi xuất, và họ thu được giá trị thặng dư nhờ lãi xuất họ cho vay lớn hơn lãi xuất họ đi vay. Các nhà tư bản khác tìm đến vay tiền của tư bản ngân hàng là để có thêm vốn để sản xuất kinh doanh, họ cũng sẵn sàng nhường một phần giá trị thặng dư mà mình kiếm được cho tư bản ngân hàng. Những người có tiền khác cho nhà tư bản ngân hàng vay cũng là để lấy một lượng giá trị thặng dư mà nhà tư bản ngân hàng nhận được từ tư bản sản xuất. Nhà tư bản ngân hàng nhận được khoản giá trị thặng dư lớn hơn khoản giá trị thặng dư mà họ phải trả cho người có tiền cho họ vay và họ vẫn có lãi. Công thức chung của tư bản kinh doanh ruộng đất: T - Ruộng đất - T’ Nhà tư bản ruộng đất có ruộng đất và họ cho một nhà tư bản công nghiệp nào đó thuê trong một thời gian để họ có điều kiện sản xuất, có thêm được giá trị thặng dư. Nhưng bù lại, nhà tư bản công nghiệp đó phải nhượng lại một phần giá trị thặng dư mà mình sản xuất ra được kiếm được từ việc bóc lột công nhân làm thuê cho nhà tư bản kinh doanh ruộng đất. Vậy suy cho cùng thì lượng giá trị thặng dư mà nhà tư bản ruộng đất có cũng là lượng giá trị thặng dư mà các lao động làm thuê bị bóc lột. Nhà tư bản kinh doanh ruộng đất lúc này trở thành người gián tiếp bóc lột các lao động làm thuê. 2.TUẦN HOÀN CỦA TƯ BẢN Tư bản công nghiệp trong quá trình tuần hoàn đều vận động theo công thức: Sức lao động T - H ...SX...- H’ - T’ Tư liệu sản xuất Sự vận động này trải qua ba giai đoạn: hai giai đoạn lưu thông và một giai đoạn sản xuất. Giai đoạn thứ nhất- giai đoạn lưu thông. Nhà tư bản xuất hiện trên thị trường các yếu tố sản xuất, để mua tư liệu sản xuất và sức lao động. Sức lao động T - H Tư liệu sản xuất Quá trình lưu thông đó được biểu thị như sau: Giai đoạn này tư bản tồn tại dưới hình thái tư bản tiền tệ, chức năng giai đoạn này là mua các yếu tố cho quá trình sản xuất, tức là biến tư bản tiền tệ thành tư bản sản xuất. Giai đoạn thứ hai- giai đoạn sản xuất Sức lao động T - H ...SX...- H’ Tư liệu sản xuất Trong giai đoạn này tư bản tồn tại dưới hình thức tư bản sản xuất (TBSX), có chức năng thực hiện sự kết hợp hai yếu tố tư liệu sản xuất và sức lao động để sản xuất ra hàng hóa mà trong đó giá trị của nó có giá trị thặng dư. Trong các giai đoạn tuần hoàn của tư bản thì giai đoạn sản xuất có ý nghĩa quyết định nhất, vì nó gắn trực tiếp với mục đích của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Kết thúc của giai đoạn thứ hai là tư bản sản xuất chuyển hóa thành tư bản hàng hóa. Giai đoạn thứ 3- giai đoạn lưu thông H’- T’ Trong giai đoạn này tư bản tồn tại dưới hình thái tư bản hàng hóa, chức năng là thực hiện giá trị của khối lượng hàng hóa đã sản xuất ra. Trong giai đoạn này, nhà tư bản trở lại thị trường với tư cách là người bán hàng. Hàng hóa của nhà tư bản được chuyển hóa thành tiền. Kết thúc giai đoạn thứ ba, tư bản tư bản hàng hóa chuyển hóa thành tư bản tiền tệ. đến đây mục đích của nhà tư bản đã được thực hiện,tư bản quay trở lại hình thái ban đầu trong tay chủ của nó, nhưng với số lượng lớn hơn trước. Sự vận động của tư bản qua ba giai đoạn nói trên là sự vận động có tính tuần hoàn: tư bản ứng ra dưới hình thái tiền tệ và rồi đến khi quay trở về cũng dưới hình thái tiền có kèm theo giá trị thặng dư. Quá trình đó tiếp tục được lặp đi lặp lại không ngừng gọi là sự vận động tuần hoàn của tư bản. Tư bản vận động qua 3 giai đoạn, qua mỗi giai đoạn tư bản tồn tại dưới một hình thức và làm trên một chức năng nhất định. ở giai đoạn một tư bản tồn tại dưới hình thức tư bản tiền tệ mà chức năng của nó là mua hàng hoá. Cụ thể hơn chính là mua tư liệu sản xuất và sức lao động. ở giai đoạn hai, tư bản tồn tại dưới hình thức tư bản sản xuất mà chức năng của nó là sản xuất ra giá trị thặng dư. Cụ thể hơn ở giai đoạn này nhà tư bản sử dụng sức lao động tác động lên tư liệu sản xuất để tạo nên sản phẩm. Lao động của công nhân làm thuê sẽ tạo ra một lượng sản phẩm mà nhà tư bản không phải trả bằng vật ngang giá đó là giá trị thặng dư. ở giai đoạn ba tư bản tồn tại dưới hình thức tư bản hàng hoá chức năng của nó là thực hiện giá trị và giá trị thặng dư. ở giai đoạn này nhà tư bản đem hàng hoá ra thị trường bán, trong hàng hoá công nhân làm thêm. Nhà tư bản đem về giá trị bán được lớn hơn lượng giá trị bỏ ra ban đầu. Từ quá trình vận động của nhà tư bản ta rút ra định nghĩa về sự tuần hoàn của tư bản. Tuần hoàn của tư bản là sự vận động liên tục của tư bản trải qua ba giai đoạn, lần lượt mang ba hình thái khác nhau, thực hiện ba chức năng khác nhau để rồi lại quay về hình thái ban đầu có kèm theo giá trị thặng dư. Vậy quá trình tuần hoàn của tư bản là sự thống nhất giữa lưu thông và sản xuất, nó bao hàm cả hai. Trong những khâu, những giai đoạn nhất định nó thực hiện một chức năng nhất định. Giai đoạn I và giai đoạn III sự vận động của tuần hoàn diễn ra trong lưu thông. ở hai giai đoạn này nó thực hiện chức năng mua các yếu tố sản xuất và bán hàng hoá có chứa đựng cả giá trị thặng dư. Giai đoạn II diễn ra trong sản xuất, thực hiện chức năng sản xuất giá trị và giá trị thặng dư. Giai đoạn II mang tính chất quyết định và chỉ trong giai đoạn này mới sáng tạo ra giá trị và giá trị thặng dư. Nhưng cũng không vì vậy mà ta phủ nhận vai trò của lưu thông vì nếu không có lưu thông việc sản xuất hàng hoá sẽ bị đình trệ, chúng ta không thể nào tái sản xuất tư bản chủ nghĩa do đó tư bản cũng không tồn tại được. Tư bản chỉ có thể tuần hoàn một cách bình thường trong điều kiện các giai đoạn phải kế tiếp nhau liên tục, không ngừng. Nếu mà gián đoạn ở đâu thì sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình tuần hoàn của tư bản. Mặt khác tư bản cũng chỉ tuần hoàn một cách bình thường nếu tất cả tư bản của các nhà tư bản phải tồn tại ở ba hình thức: tư bản tiền tệ, tư bản sản xuất và tư bản hàng hoá, và một bộ phận thứ ba là tư bản hàng hoá phải biến thành tư bản tiển tệ. Không chỉ từng tư bản cá biệt mới thế mà điều này đòi hỏi tất cả các tư bản trong xã hội cũng phải thế. Các tư bản không ngừng vận động, không ngừng trút bỏ hình thức này để mang hình thức khác, thông qua quá trình vận động này tư bản lớn lên. 3.CHU CHUYỂN CỦA TƯ BẢN Sự tuần hoàn của tư bản, nếu xét nó là một quá trình định kỳ đổi mới và lặp đi lặp lại, chứ không phải là một quá trình cô lập riêng lẻ thì gọi là chu chuyển của tư bản. Những tư bản khác nhau chu chuyển với vận tốc khác nhau tùy theo thời gian sản xuất và thời gian lưu thông của hàng hóa. Thời gian chu chuyển của tư bản là khoảng thời gian kể từ khi tư bản ứng ra dưới một hình thức nhất định (tiền tệ, sản xuất, hàng hoá) cho đến khi nó trở về tay nhà tư bản do cùng dưới hình thức như thế nhưng có thêm giá trị thặng dư. Thời gian chu chuyển của tư bản bao gồm thời gian sản xuất và thời gian lưu thông. Thời gian sản xuất là thời gian tư bản nằm trong lĩnh vực sản xuất. Thời gian sản xuất gồm thời gian lao động, thời gian gián đoạn lao động và thời gian dự trữ sản xuất. Thời gian sản xuất của tư bản dài hay ngắn là do tác động của nhiều yếu tố như : Tính chất của ngành sản xuất, như ngành đóng tài thời gain sản xuất nhất định phải dài hơn ngành dệt vải, dệt thảm trơn ngắn hơn dệt thảm trang trí hoa văn. Quy mô hoặc chất lượng sản phẩm, như xây dựng một xí nghiệp mất thời gian dài hơn xây dựng một nhà ở thông thường. Thời gian vật sản xuất chịu tác động của quá trình tự nhiên dài hay ngắn Năng suất lao động Dự trữ sản xuất đủ hay thiếu V.v… Thời gian lưu thông là thời gian tư bản nằm trong lĩnh vực lưu thông. Trong thời gian lưu thông , tư bản không làm chức năng sản xuất , do đó không sản xuất ra hàng hóa, cũng không sản xuất ra giá trị thặng dư. Thời gian lưu thông gồm có thời gian mua và thời gian bán hàng hóa. Thời gian lưu thông dài hay ngắn là do các nhân thố sau đây quy định: thị trường xa hay gần, tình hình thị trường xấu hay tốt, trình độ phát triển của ngành giao thông vận tải.. Thời gian chu chuyển của tư bản càng ngắn thì càng tạo điều kiện cho giá trị thặng dư được sản xuất ra nhiều hơn, tư bản càng lớn nhanh hơn. Số vòng chu chuyển Các tư bản khác nhau hoạt động trong những lĩnh vực khác nhau thì số lần chu chuyển trong 1 đơn vị thời gian (1 năm) không giống nhau, nói cách khác, tôc độ chu chuyển của chúng khác nhau. Tốc độ chu chuyển của tư bản đo bằng số lần (vòng) chu chuyển cảu tư bản trong một năm Ta có công thức tính tốc độ chu chuyển của tư bản như sau: n= TGn/TGa Trong đó: n: Số lần chu chuyển cảu tư bản trong 1 năm TGn: Thời gian trong năm TGa: Thời gian chu chuyển của một tư bản nhất định Như vậy, tốc độ chu chuyển cảu tư bản tỷ lệ nghịch với thời gian chu chuyển cảu tư bản. Muốn tăng tốc độ chu chuyển của tư bản phải giảm thời gian san xuất va thời gian lưu thông của nó Lực lượng sản xuất phát triển, kỹ thuật tiến bộ, những tiến bộ về mặt tổ chức sản xuất, việc áp dụng những thành tựu của hóa học, sinh học hiện đại vào sản xuất, phương tiện vận tải và bưu điện phát triển, tổ chức mậu dịch được cải tiển… cho phép rút nagwns thời gian chu chuyển ảu tư bản, dô đó, tăng tốc độ chu chuyển của tư bản. 4. TƯ BẢN CỐ ĐỊNH VÀ TƯ BẢN LƯU ĐỘNG . Các bộ phận khác nhau cảu tư bản sản xuất không chu chuyển một cách giống nhau. Sở dĩ như vậy là vì mỗi bộ phận tư bản dịch chuyển giá trị của nó vào sản phẩm theo những cách thức khác nhau. Căn cứ vào tính chất chu chuyển khác n
Luận văn liên quan