Đề tài Một số biện pháp để luyện phát âm đúng cho trẻ mẫu giáo nhỡ 4 - 5 tuổi ở Huyện Yên Thuỷ - Tỉnh Hoà Bình

Đất nước ta bước sang một thiên niên kỷ mới, một thời kỳ đổi mới nền kinh tế xã hội đòi hỏi phải có con người mới xã hội chủ nghĩa - đó là những con người có nhận thức đúng đắn, có quan điểm sống tích cực để điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với xã hội. Giáo dục mầm non là nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân, đối tượng của giáo dục mầm non là trẻ em từ 0 đến 6 tuổi. Đây là một thực thể tự nhiên, bước đầu vào xã hội, dần dần trở thành “người”, trở thành con người có ích cho xã hội, chiến lược giáo dục con người mới trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục về mọi mặt. Chính vì vậy việc giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ mẫu giáo vô cùng quan trọng và cần thiết, nó tạo ra những tiền đề đầu tiên cho sự hình thành nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa. Nếu như ta không tiến hành giáo dục trẻ ở lứa tuổi mầm non thì sang giai đoạn sau khó có thể hình thành cho trẻ những nét phẩm chất tâm lý đạo đức bền vững để lĩnh hội những tri thức chuẩn mực xã hội. Trong thực tiễn hiện nay, việc giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ được chú ý đến, mặc dù ngành học mầm non đã đưa nội dung chương trình giáo dục lễ giáo đã được nhiều năm nay nhưng nội dung giáo dục chưa đầy đủ. Các biện pháp giáo dục của giáo viên còn mang tính áp đặt, tản mạn, không lô gích, gò ép trẻ. Chính vì thế hiệu quả của giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ chưa cao đặc biệt là cho trẻ mẫu giáo nhỡ. Nhiều trẻ ở độ tuổi này chưa có thái độ ứng xử đúng trong khi giao tiếp cho phù hợp với chuẩn mực xã hội, nhận thức đúng sai còn hạn chế. Chính vì thế qua thời gian học tại khoa Giáo dục mầm non - Trường đại học sư phạm Hà Nội tôi đã được các thầy cô giáo giảng dạy hướng dẫn cho thấy rõ việc giáo dục thế hệ trẻ ở lứa tuổi mầm non cần được chăm sóc giáo dục để tạo nên những con người mới xã hội chủ nghĩa có phẩm chất đạo đức, có khả năng và có thể lực cường tráng để phù hợp với thời đại công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Vì vậy, để nâng cao chất lượng giáo dục “giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ” tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp để luyện phát âm đúng cho trẻ mẫu giáo nhỡ 4 - 5 tuổi ở Huyện Yên Thuỷ - Tỉnh Hoà Bình” nhằm chỉ ra những biện pháp cụ thể, xây dựng những tiêu chí hợp lý góp phần nhân cách hiệu quả giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ tạo cơ sở ban đầu để hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ.

doc38 trang | Chia sẻ: ngtr9097 | Ngày: 30/05/2013 | Lượt xem: 3432 | Lượt tải: 23download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Một số biện pháp để luyện phát âm đúng cho trẻ mẫu giáo nhỡ 4 - 5 tuổi ở Huyện Yên Thuỷ - Tỉnh Hoà Bình, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỤC LỤC PHẦN I : MỞ ĐẦU I. Lý do chọn đề tài II. Mục đích nghiên cứu III. Khách thể và đối tượng nghiên cứu IV. Giả thiết khoa học V. Nhiệm vụ nghiên cứu VI. Giới hạn của đề tài VII. Phương pháp nghiên cứu PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN I. Cơ sở lý luận của việc giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá II. Thực tiễn của việc giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ mẫu giáo CHƯƠNG II: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC HÀNH VI GIAO TIẾP CÓ VĂN HOÁ CHO TRẺ MẪU GIÁO NHỠ 4 - 5 TUỔI Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ mẫu giáo nhỡ CHƯƠNG III: THỰC NGHIỆM VÀ PHÂN TÍCH THỰC NGHIỆM (kết quả đánh giá thực nghiệm) PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ PHẦN I : MỞ ĐẦU I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI : Đất nước ta bước sang một thiên niên kỷ mới, một thời kỳ đổi mới nền kinh tế xã hội đòi hỏi phải có con người mới xã hội chủ nghĩa - đó là những con người có nhận thức đúng đắn, có quan điểm sống tích cực để điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với xã hội. Giáo dục mầm non là nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân, đối tượng của giáo dục mầm non là trẻ em từ 0 đến 6 tuổi. Đây là một thực thể tự nhiên, bước đầu vào xã hội, dần dần trở thành “người”, trở thành con người có ích cho xã hội, chiến lược giáo dục con người mới trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục về mọi mặt. Chính vì vậy việc giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ mẫu giáo vô cùng quan trọng và cần thiết, nó tạo ra những tiền đề đầu tiên cho sự hình thành nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa. Nếu như ta không tiến hành giáo dục trẻ ở lứa tuổi mầm non thì sang giai đoạn sau khó có thể hình thành cho trẻ những nét phẩm chất tâm lý đạo đức bền vững để lĩnh hội những tri thức chuẩn mực xã hội. Trong thực tiễn hiện nay, việc giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ được chú ý đến, mặc dù ngành học mầm non đã đưa nội dung chương trình giáo dục lễ giáo đã được nhiều năm nay nhưng nội dung giáo dục chưa đầy đủ. Các biện pháp giáo dục của giáo viên còn mang tính áp đặt, tản mạn, không lô gích, gò ép trẻ. Chính vì thế hiệu quả của giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ chưa cao đặc biệt là cho trẻ mẫu giáo nhỡ. Nhiều trẻ ở độ tuổi này chưa có thái độ ứng xử đúng trong khi giao tiếp cho phù hợp với chuẩn mực xã hội, nhận thức đúng sai còn hạn chế. Chính vì thế qua thời gian học tại khoa Giáo dục mầm non - Trường đại học sư phạm Hà Nội tôi đã được các thầy cô giáo giảng dạy hướng dẫn cho thấy rõ việc giáo dục thế hệ trẻ ở lứa tuổi mầm non cần được chăm sóc giáo dục để tạo nên những con người mới xã hội chủ nghĩa có phẩm chất đạo đức, có khả năng và có thể lực cường tráng để phù hợp với thời đại công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Vì vậy, để nâng cao chất lượng giáo dục “giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ” tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp để luyện phát âm đúng cho trẻ mẫu giáo nhỡ 4 - 5 tuổi ở Huyện Yên Thuỷ - Tỉnh Hoà Bình” nhằm chỉ ra những biện pháp cụ thể, xây dựng những tiêu chí hợp lý góp phần nhân cách hiệu quả giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ tạo cơ sở ban đầu để hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ. II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU : Nhằm mục đích làm tốt công tác luyện phát âm của trẻ mẫu giáo nhỡ ở huyện Yên Thuỷ - Hoà Bình III. KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 1. Khách thể nghiên cứu: Giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ mầm non 2. Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ mẫu giáo nhỡ. IV. GIẢ THIẾT KHOA HỌC Để nâng cao hiệu quả giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ mẫu giáo nhỡ, giáo viên mầm non cần động viên khuyến khích trẻ tham gia tích cực vào các hoạt động và giao tiếp bằng cách phối hợp các biện pháp giáo dục dưới nhiều hình thức khác nhau. V. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU: 1. Nghiên cứu cơ sở lý luận. 2. Tìm hiểu thực trạng của việc giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ mẫu giáo nhỡ. 3. Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ mẫu giáo. VI. GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI Nghiên cứu biện pháp giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ mẫu giáo nhỡ ở huyện Yên Thuỷ - Hoà Bình IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Chúng tôi tiến hành điều tra và làm thực nghiệm tại một số trường mầm non trong địa bàn huyện Yên Thuỷ - Hoà Bình. Trong quá trình nghiên cứu đề tài này chúng tôi đã sử dụng một số biện pháp sau: 1. phương pháp điều tra bằng ankét Chúng tôi điều tra 30 giáo viên ở 2 trường mầm non trong huyện Yên Thuỷ - Hoà Bình : trường mầm non thuộc khu vực huyện Yên Thuỷ - Hoà Bình và trường mầm non xã Yên Lạc huyện Yên Thuỷ - Hoà Bình. Chúng tôi sử dụng phương pháp này nhằm mục đích tìm hiểu nhận thức và đánh giá của giáo viên về vấn đề giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ mẫu giáo nhỡ với những thế hệ câu hỏi đã được chuẩn bị sẵn và yêu cầu giáo viên trả lời. 2.Phương pháp thực nghiệm. Dùng phương pháp này nhằm để kiểm nghiệm các biện pháp đã nêu có liên quan đến giả thiết của đề tài. Chúng tôi tiến hành ở lớp mẫu giáo nhỡ A trường mầm non khu vực với thời gian 2 tháng từ ngày 1/11/2003 đến ngày 1/1/2004. Số cháu của lớp A có 28 cháu, các cháu còn lại là con em xung quanh thị trấn huyện Yên Thuỷ. Tôi chọn 25 cháu đi học đều thường xuyên, có sức khoẻ bình thường để làm nhóm thực nghiệm; Tại lớp mẫu giáo B có 30 cháu đều là con em xung quanh thị trấn Yên Thuỷ, tôi chọn 25 cháu đi học đều, sức khoẻ bình thường để làm nhóm đối chứng. Nhìn chung các cháu ở 2 nhóm này có tình trạng sức khoẻ ngang nhau, mức hình thành hành vi văn hoá như nhau. III. Phương pháp quan sát: a. Đối với giáo viên : Chúng tôi đã quan sát giáo viên trong quá trình tổ chức sinh hoạt hàng ngày cho trẻ và kết hợp trao đổi về vốn kinh nghiệm để giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ. b. Đối với trẻ: Chúng tôi quan sát quá trình hoạt động của trẻ trong khi thực hiện chế độ sinh hoạt hàng ngày, kết hợp trò chuyện với trẻ để đánh giá mức độ hình thành thói quen giao tiếp có văn hoá. 4. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Chúng tôi đã tổng kết một số kinh nghiệm thông qua báo cáo tổng kết cuối năm của một số trường mầm non của huyện Yên Thuỷ đã thực hiện xong chuyên đề lễ giáo và tìm hiểu kinh nghiệm giáo dục qua một số giáo viên có quá trình công tác lâu năm ở trường mầm non khu vực và trường mầm non xã Yên Lạc. 5. Phương pháp nghiên cứu tài liệu Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài. PHẦN II : NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC HÀNH VI GIAO TIẾP CÓ VĂN HOÁ CHO TRẺ MẪU GIÁO NHỠ. I. Cơ sở lý luận của việc giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ mẫu giáo 1.Các khái niệm: 1.1 Văn hoá là gì? Khi nói đến văn hoá có rất nhiều nhà lý luận văn học đề cập đến và họ đã định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Nhưng nhìn chung “văn hoá là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do loài người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử của mình”. Theo nghĩa rộng, văn hoá bao gồm cả văn hoá vật chất lẫn văn hoá tinh thần; còn theo nghĩa hẹp văn hoá chỉ liên quan đến đời sống hàng ngày và do con người tạo ra. Văn hoá bao giờ cũng gắn với những xã hội, dân tộc, thời kỳ lịch sử. Có văn hoá thời cổ đại, văn hoá thời Phục hưng, văn hoá thời Trung đại, văn hoá Việt Nam,văn hoá Trung Quốc… Văn hoá là do con người sáng tạo ra, có thể nói rằng con người sinh ra và trưởng thành trong xã hội nào thì chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi nền văn hoá của xã hội đó. Thậm chí cho dù có một thời gian dài sống tách khỏi xã hội thì con người vẫn tư duy và hành động theo những khuôn mẫu, tác phong, nề nếp quen thuộc. Nhân cách của mỗi thành viên trong một cộng đồng bao giờ cũng mang dấu vết bản sắc văn hoá dân tộc. 1.2 Hành vi: Những người theo chủ nghĩa hành vi quan niệm hành vi chỉ đơn thuần là tổng các phản ứng máy móc đáp lại kích thích, họ cho rằng cứ có kích thích là có phản ứng. Họ coi “Hành vi chỉ là các cử động bên ngoài hoàn toàn không liên quan gì tới ý thức được coi là cái bên trong”. Với họ hành vi được thực hiện không có sự tham gia của chủ thể, của nhân cách, chủ thể không kiểm soát được hành vi của mình. Tâm lý học Macxit cho rằng hành vi con người hoàn toàn khác, hành vi con người là cuộc sống là lao động, là thực tiễn và hành động, hành vi con người được thể hiện bên ngoài của hành động được điều chỉnh bởi cấu trúc bên trong của chủ thể, của nhân cách. Theo Vưgotxiki- nhà tâm lý học Xô Viết lỗi lạc thì có sự khác biệt về chất giữa cấu trúc hành vi động vật với cấu trúc hành vi người. Ông cho rằng nếu như ở động vật có hai loại hành vi (kinh nghiệm di truyền kết hợp với tự tạo) thì ở con người ngoài hai hành vi trên thì còn có kinh nghiệm lao động, kinh nghiệm lịch sử, kinh nghiệm xã hội. Ông còn khẳng định rằng trong cấu trúc hành vi người thì lao động giữ vai trò chủ đạo vì trong kinh nghiệm có vấn đề gì thì truyền lại cho đời sau. Hành vi con người được các nhà tâm lý học phân loại theo nhiều cách khác nhau : Như hành vi có nguồn gốc bên ngoài và hành vi có nguồn gốc bên trong; cũng có nhà tâm lý học đã phân biệt hành vi thành 3 loại khác nhau theo bản chất tâm lý học. Đó là hành vi bản năng, hành vi kỹ xảo và hành vi lý trí. Trong giáo dục học người ta thường quan tâm đến hành vi đạo đức. Đó là những hành động được thúc đẩy bằng các động cơ đạo đức, đem lại những kết quả có ý nghĩa đạo đức và được đánh giá bằng những phạm trù đạo đức. Hành vi đạo đức gồm 2 thành phần : Hành động đem lại những kết quả có ý nghĩa đạo đức với tư cách là mặt biểu hiện bên ngoài; thái độ (mục đích, ý định, động cơ) thấm nhuần ý thức đạo đức với tư cách là mặt kích thích bên trong. Như vậy, khi đánh giá con người có hành vi đạo đức hay không thì không những ta phải xem xét người đó hoạt động như thế nào, có phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội hay không mà còn phải xem xét người đó hoạt động với động cơ đúng hay sai, tích cực hay tiêu cực? Cũng như khi giáo dục hành vi văn hoá cho trẻ điều quan trọng là không ngừng tạo ra những hoạt động phù hợp với các chuẩn mực đạo đức xã hội và xây dựng động cơ hoạt động có đạo đức cao. 1.3. Văn hoá hành vi Theo quan điểm Mác xít coi văn hoá hành vi là toàn bộ những hình thức hành vi, lối sống giao tiếp hàng ngày của con người lao động mà các chuẩn mực đạo đức và thẩm mỹ bao trùm lên các hình thức ứng xử ấy. Nếu các chuẩn mực đạo đức quy định hành vi ấn định cụ thể con người cần phải làm gì thì văn hoá hành vi vạch rõ cụ thể phải làm bằng cách nào. Các yêu cầu đạo đức tồn tại trong hành vi. Hình thức bên ngoài của hành vi con người ra sao, trong phạm vi nào - các chuẩn mực này hoà nhập một cách hữu cơ tự nhiên và đương nhiên với hình ảnh của nó trong cuộc sống để trở thành các quy tắc sống hàng ngày. Vì thế, văn hoá hành vi còn được coi là văn hoá bên ngoài để phân biệt với văn hoá bên trong của con người bao gồm thế giới quan, niềm tin đạo đức, trình độ phát triển chung, kiến thức, hứng thú, nhu cầu… Giữa văn hoá bên trong và văn hoá bên ngoài của con người có mối liên hệ chặt chẽ, một sự thống nhất xác định. Mối quan hệ đó rất phức tạp và biện chứng có tính hai chiều. Văn hoá bên trong tuy quan trọng nhưng nó cần được biểu hiện ra bằng hành động cụ thể dưới những hình thức hành vi nhất định. Văn hoá bên trong quy định hành vi bên ngoài của con người. Hình thức hành vi là sự phản ánh cái bên trong chụi sự quy định của cái bên ngoài nhưng đồng thời nó lại tác động trở lại thế giới bên trong của chủ thể. Sự luộm thuộm trong sinh hoạt, thô lỗ cục cằn, thiếu tế nhị trong giao tiếp dần dần sẽ tạo nên những thói quen và phẩm chất cá nhân tương ứng. Vì vậy, sẽ là sai lầm nếu cho rằng phẩm chất bên trong mới là phẩm chất thực, còn hành vi bên ngoài chỉ là lớp vỏ hình thức. Chính quan niệm sai lầm này đã dẫn đến việc coi thường tuân thủ các hành vi văn hoá cũng như dẫn đến việc thiếu quan tâm giáo dục văn hoá hành vi cho thế hệ trẻ. Đồng thời, chống lại khuynh hướng giáo dục này sẽ tạo ra một thế hệ con người giả dối, tham lam ích kỷ. Những kẻ như vậy sẽ tạo ra một xã hội lừa bịp, giả tạo. Trong thực tiễn có thể xảy ra trường hợp một người có bản chất xã hội tốt nhưng trong giao tiếp hàng ngày lại vụng về, nếu là lãnh đạo thì thiếu quan tâm đến người khác. Ở đây bản chất xã hội của con người với các hành vi không có sự kết hợp chặt chẽ với nhau. Nếu người đó được giáo dục tốt tất sẽ có những kỹ năng giao tiếp tốt. * Tóm lại: văn hoá hành vi là một phần của đạo đức, giáo dục văn hoá hành vi là một trong những mặt giáo dục đạo đức cho trẻ mẫu giáo. 1.4 Giao tiếp: Có nhiều quan điểm khác nhau về giao tiếp nhưng nổi bật là hai trường phái tâm lý học Xô Viết sau: - Trường phái A. A Leonchep quan niệm giao tiếp là hệ thống những quá trình có mục đích và có động cơ đam bảo sự tương tác giữa người này với người khác. Trong hoạt động thực tiễn các quan hệ xã hội nhân cách và các quan hệ tâm lý sử dụng các phương pháp đặc thù mà trước hết là ngôn ngữ . Ông cho rằng giao tiếp có cấu trúc chung của hoạt động, giao tiếp nào cũng có động cơ quy định sự hình thành và phát triển của nó và cũng đều được tạo ra bởi các hành động và thao tác. Họ cho rằng giao tiếp nào cũng mang đặc tính của hoạt động tức là cũng có cụ thể nhằm vào một đối tượng nào đó để tạo ra một sản phẩm. - Phái limtop cho rằng: Giao tiếp không phải là một dạng hoạt động mà nó là một phạm trù tương đối độc lập trong tâm lý học bên cạnh phạm trù hoạt động. - ở Việt Nam cũng có một số tác giả đưa ra những quan niệm riêng của mình về giao tiếp như : + Đinh Trọng Lạc cho rằng giao tiếp là sự tiếp xúc với nhau giữa cá thể này với cá thể khác trong một cộng đồng xã hội . Căn cứ vào cuộc sống giao tiếp người ta phân giao tiếp ra làm nhiều loại như giao tiếp bằng ngôn ngữ , phi ngôn ngữ, bằng tín hiệu, gián tiếp, trực tiếp, giao tiếp gián tiếp…Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng đứa trẻ lớn lên trong điều kiện (đón giao tiếp) đều bị trì trệ trong sự phát triển tâm lý và thể chất. 1.5. Hành vi giao tiếp có văn hoá. Hành vi giao tiếp có văn hoá là biểu hiện trình độ văn hoá giao tiếp của con người, nó thể hiện các nét tính chất và kỹ năng đặc trưng như sau: Tôn trọng con người, có thiện chí tốt, quan tâm chú ý đến người khác, nhân hậu độ lượng lịch sự và cư xử khéo léo khi giao tiếp, không định kiến với ý kiến của người khác và biết lắng nghe ý kiến của người khác. Hành vi giao tiếp có văn hoá đòi hỏi con người phải biết vận dụng các quy tắc giao tiếp chung một cách đúng đắn linh hoạt và sáng tạo, phù hợp với những tình huống giao tiếp rất cụ thể trong đời sống hàng ngày với các đối tượng giao tiếp khác nhau. Hành vi giao tiếp có văn hoá đòi hỏi con người phải biết lựa chọn và sử dụng các phương tiện giao tiếp một cách có văn hoá phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp, mục đích giao tiếp, đề tài và đối tượng giao tiếp. Ngôn ngữ giao tiếp không dài dòng, lôi thôi luộm thuộm, không rườm rà, sáo rỗng mà trước hết phải ngắn gọn, giản dị, rõ ràng và dễ hiểu, có nội dung tư tưởng và tình cảm đúng đắn. ngôn ngữ giao tiếp còn biểu hiện ở cách phát âm không nói ngọng, nói lắp, nói tục… mà phải nhẹ nhàng ân cần cởi mở, thân mật với những người ít tuổi hoặc cùng tuổi; tôn trọng lễ phép với người lớn. 2. Hành vi giao tiếp văn hoá 2.1 ý nghĩa của việc giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ mẫu giáo. Văn hoá giao tiếp của trẻ mầm non là thể hiện hành vi của trẻ thực hiện các quy định về giao tiếp với bạn bè, với em nhỏ, người lớn trên cơ sở tôn trọng và thiện chí kết hợp với khả năng sử dụng vốn từ, các hình thức đối xử phù hợp. Giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ có ý nghĩa rất to lớn, nó giúp trẻ giao tiếp nhẹ nhàng, dễ chịu, lịch sự… giúp các thành viên trong gia đình và xã hội xích lại gần nhau hơn, hiểu nhau hơn. Con người hơn động vật ở chỗ là có ngôn ngữ nói với nhau. Qua giao tiếp trẻ hiểu nhau, thông cảm cho nhau và biết cách giúp đỡ nhau. Đông thời cũng chính bằng ngôn ngữ giao tiếp trẻ lĩnh hội được những tinh hoa của dân tộc, lĩnh hội được kinh nghiệm sống, biết trao đổi những suy nghĩ, tâm tư và tình cảm với nhau. Nếu sinh ra một đứa trẻ khuyết tật không nói được thì sẽ không hiểu được những gì đã, đang và sẽ xảy ra xung quanh. Ngày nay nền kinh tế thị trường có nhiều biến động dễ tạo ra những người có lối sống ích kỷ, tham lam chỉ biết có bản thân mình mà không nghĩ tới người khác. Xã hội ta đang trong thời kỳ đổi mới, mở rộng giao lưu với các dân tộc trên toàn thế giới, việc giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ mầm non càng trở nên cấp thiết. Văn hoá giao tiếp đòi hỏi ở trẻ không những biết hoạt động phù hợp mà còn phải biết kiềm chế hành động, lời nói đúng lúc, đúng chỗ. Trẻ nhỏ cần học quan sát trạng thái của người lớn khi giao tiếp, văn hoá giao tiếp nhất thiết phải có ngôn ngữ mạch lạc, muốn vậy trẻ phải có vốn từ phong phú, nói ngắn gọn dễ hiểu để giao tiếp. * Tóm lại: Hành vi giao tiếp có văn hoá của trẻ rất quan trọng khi bước vào trường phổ thông, nó cần biểu hiện trình độ cụ thể về văn hoá giao tiếp của mỗi con người. 2.2 Nhiệm vụ giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ mầm non. Các nhà tâm lý học Xô Viết cũng đã chỉ ra rằng việc trẻ không nắm vững các chuẩn mực và quy tắc cần thiết có thể làm cho các em phán đoán lệch lạc về những người xung quanh hoặc đánh giá không đúng, không chính xác các hành vi của bản thân mình. Ngược lại có những trẻ nắm vững chuẩn mực và quy tắc hành vi giao tiếp có văn hoá lại có những hành vi giao tiếp không đẹp, nguyên nhân chính là do các em bị thiếu hụt những kỹ năng, thói quen hành vi giao tiếp có văn hoá. Nhà giáo dục học nổi tiếng như A.X Macorenco và Usinki đã nhấn mạnh đến vai trò cuả thói quen trong việc giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá là buộc trẻ phải thực hiện thường xuyên và lặp đi, lặp lại nhiều lần để hình thành thói quen đó. Động cơ thúc đẩy những hành vi đó là nhiệm vụ của việc giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ mầm non. 2.2.1 Giúp cho trẻ hiểu được và nắm được nội dung một số chuẩn mực và quy tắc hành vi giao tiếp có văn hoá đơn giản phổ biến, cấp thiết nhất, phù hợp với lứa tuổi mẫu giáo nhỡ như chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi… 2.2.2 Bồi dưỡng cho trẻ những tình cảm và thái độ: - Tự tin, tự chủ, tự trọng khi giao tiếp. - Yêu thương, tôn trọng có lòng vị tha đối với mọi người. - Muốn đem nguồn vui, niềm hạnh phúc đến cho người khác. 2.2.3 Hình thành ở trẻ các kỹ năng. - Biết đánh giá hành vi của mình và những người xung quanh. - Thực hiện các chuẩn mực và quy tắc hành vi giao tiếp có văn hoá trong tình huống giao tiếp hàng ngày. 3. Đặc điểm và quá trình hình thành phát triển hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ mầm non. 3.1 Đặc điểm phát triển của trẻ mầm non nói chung và phát triển hành vi giao tiếp có văn hoá nói riêng. Trẻ em ở thời kỳ này có đặc điểm rất dễ uốn nắn về chuẩn mực hành vi giao tiếp có văn hoá và có nhịp độ phát triển nhanh về ngôn ngữ, nhịp độ phát triển nhanh như vậy không còn thấy ở những năm tháng về sau. Ở giai đoạn này, trẻ em có những đặc điểm, những quy luật phát triển độc đáo, không giống bất cứ một giai đoạn phát triển nào sau này, giáo dục trẻ ở lứa tuổi này là giúp cho việc xây dựng những cơ sở ban đầu của nhân cách trẻ. Tuy nhiên, mỗi em bé sẽ trở thành người theo một con đường riêng và sống cuộc đời riêng của mình với những đặc điểm mà chỉ riêng mình mới có. Những đặc điểm riêng này có ngay từ khi sinh ra và được phát triển theo thời gian để trở thành nhân cách không giống bất cứ một ai khác. Vì vậy, chúng ta tránh lối giáo dục áp đặt, dập khuôn, máy móc. Với trẻ mẫu giáo kinh nghiệm sống còn quá ít cho nên chúng dễ dàng chấp nhận mọi chuẩn mực và quy tắc của người giáo viên đề ra, và dần dần trở thành thói quen, nếu hàng ngày trẻ được thực hiện và được lặp đi, lặp lại nhiều lần, ở giai đoạn này nếu nhà giáo dục không quan tâm đến chúng từ nhỏ thì sau này sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá. Trẻ ở lứa tuổi này dễ xúc cảm với nhân vật có đức tính hiền lành, nhân hậu như cô Tấm, công chúa và trẻ căm ghét những nhân vật độc ác gian dối như mụ dì ghẻ, mụ phù thuỷ… Các em rất hào hứng thích thú khi
Luận văn liên quan