Đề tài Nghiên cứu về tính hợp lý của việc chuyển nhượng quyền nhân thân tác giả

Quyền tác giả còn được gọi là bản quyền, là một bộ phận tạo thành quan trọng của quyền sở hữu trí tuệ, nội dung của nó bao gồm hai bộ phận là quyền nhân thân của tác giả và quyền tài sản của tác giả. Quyền nhân thân của tác giả còn được gọi là quyền nhân cách, quyền tinh thần của tác giả, là quyền lợi nhân thân của tác giả được sản sinh ra từ việc sáng tạo tác phẩm; Quyền tài sản của tác giả còn được gọi là quyền kinh tế, là quyền của tác giả đối với việc sử dụng tác phẩm và cho phép người khác sử dụng đồng thời được hưởng thù lao đối với tác phẩm. Do quyền tác giả có thuộc tính quyền lợi kép, nó có tính phức tạp hơn so với việc giao dịch quyền sở hữu trí tuệ khác, đặc biệt là sau khi bước vào thập kỷ 90 của thế kỷ 20, sự phát triển của kỹ thuật thông tin đã đem đến những thách thức lớn cho chế độ quyền tác giả truyền thống, việc chuyển tải bằng chữ số hoá làm cho các quyền năng của con người đối với quyền tác giả không thể không được xác định lại vị trí, đồng thời cũng mang đến sự thách thức nhiều hơn cho chế độ giao dịch quyền tác giả ở Trung Quốc. Đồng thời với việc xác nhận tính có thể chuyển nhượng về quyền tài sản của tác giả, làm thế nào để thực hiện việc chuyển giao quyền nhân thân của tác giả có hiệu quả, để cho tác giả có thể được hưởng quyền và lợi ích về quyền tác giả một cách toàn diện và đầy đủ hơn, đó chính là vấn đề mà các nhà luật pháp Trung Quốc đang quan tâm.

doc14 trang | Chia sẻ: ngtr9097 | Ngày: 24/05/2013 | Lượt xem: 1282 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Nghiên cứu về tính hợp lý của việc chuyển nhượng quyền nhân thân tác giả, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Nghiên cứu về tính hợp lý của việc chuyển nhượng quyền nhân thân tác giả Người dịch: Trần lê Anh – Viện NCKH Pháp lý – Bộ Tư pháp Quyền tác giả còn được gọi là bản quyền, là một bộ phận tạo thành quan trọng của quyền sở hữu trí tuệ, nội dung của nó bao gồm hai bộ phận là quyền nhân thân của tác giả và quyền tài sản của tác giả. Quyền nhân thân của tác giả còn được gọi là quyền nhân cách, quyền tinh thần của tác giả, là quyền lợi nhân thân của tác giả được sản sinh ra từ việc sáng tạo tác phẩm; Quyền tài sản của tác giả còn được gọi là quyền kinh tế, là quyền của tác giả đối với việc sử dụng tác phẩm và cho phép người khác sử dụng đồng thời được hưởng thù lao đối với tác phẩm. Do quyền tác giả có thuộc tính quyền lợi kép, nó có tính phức tạp hơn so với việc giao dịch quyền sở hữu trí tuệ khác, đặc biệt là sau khi bước vào thập kỷ 90 của thế kỷ 20, sự phát triển của kỹ thuật thông tin đã đem đến những thách thức lớn cho chế độ quyền tác giả truyền thống, việc chuyển tải bằng chữ số hoá làm cho các quyền năng của con người đối với quyền tác giả không thể không được xác định lại vị trí, đồng thời cũng mang đến sự thách thức nhiều hơn cho chế độ giao dịch quyền tác giả ở Trung Quốc. Đồng thời với việc xác nhận tính có thể chuyển nhượng về quyền tài sản của tác giả, làm thế nào để thực hiện việc chuyển giao quyền nhân thân của tác giả có hiệu quả, để cho tác giả có thể được hưởng quyền và lợi ích về quyền tác giả một cách toàn diện và đầy đủ hơn, đó chính là vấn đề mà các nhà luật pháp Trung Quốc đang quan tâm. 1. Các quy định của lập pháp nước ngoài về vấn đề chuyển giao quyền nhân thân của tác giả: Do sự khác biệt về chính trị, xã hội, kinh tế và ý thức văn hoá, các nước trên thế giới trong lĩnh vực bảo vệ quyền tác giả đã hình thành các truyền thống văn hoá với phong cách khác nhau và thể hiện xu hướng giá trị pháp trị không giống nhau, sự hình thành này có ảnh hưởng không thể phủ nhận được đối với chế độ giao dịch quyền tác giả, trong đó có vai trò chủ đạo dẫn đầu là hai dòng tư tưởng lớn là hệ thống thông luật với Anh, Mỹ làm đại biểu và hệ thống luật lục địa với Pháp, Đức làm đại biểu. 1.1. Quy định của các nước theo hệ thống luật Anh-Mỹ: Luật quyền tác giả của các nước theo hệ thống luật Anh-Mỹ xây dựng trên cơ sở "Quan điểm về giá trị tài sản", thực hiện Thuyết về quyền tác giả thương mại, cho rằng thực chất của quyền tác giả chính là quyền lợi sao chép tác phẩm vì mục đích thương mại. Quyền lợi của người sáng tác ở đây được thể hiện bằng "copyright" (tức bản quyền), ẩn chứa ý về quyền sao chép. "Đạo luật của Nữ hoàng Anne" năm 1709 là đạo luật về quyền tác giả sớm nhất của Anh và cũng là đạo luật về quyền tác giả đầu tiên trong lịch sử thế giới, chính là được ban hành dựa vào các tiền đề lớn là quan niệm kinh tế của chủ nghĩa trọng thương và quan niệm về quyền lợi tài sản tư hữu, mục đích là "trao cho tác giả, nhà xuất bản có quyền sao chép, để khuyến khích sáng tạo", bảo đảm việc thực hiện đầy đủ chức năng truyền bá văn hoá. Các điều khoản của Luật quyền tác giả ở Anh đa số xuất phát từ việc tính toán, duy trì tính chất tài sản đơn nhất của "copyright" trong giao dịch thương mại, chưa chú ý đến lợi ích nhân cách của tác giả. Khoản 1 Điều 36 Luật quyền tác giả năm 1956 và Khoản 1 Điều 90 Luật quyền tác giả năm 1988 của Anh quy định: "Quyền tác giả có thể được dịch chuyển giống như động sản thông qua chuyển nhượng, phân chia theo di chúc hoặc thực thi theo pháp luật". Luật quyền tác giả của Mỹ đã kế thừa truyền thống của "Đạo luật của Nữ hoàng Anne" và cũng đã thể hiện lý luận cơ bản của "Thuyết giá trị tài sản". Điều 201 (d) (i) Luật quyền tác giả năm 1976 của Mỹ quy định: "Quyền tác giả có thể được dịch chuyển thông qua bất kỳ phương thức nào hoặc thực thi theo pháp luật". Nghiên cứu về nguyên nhân lập pháp quyền tác giả, luật pháp về quyền tác giả của các nước theo hệ thống luật Anh-Mỹ chịu sự ảnh hưởng sâu sắc về "Khế ước xã hội" triết học của chủ nghĩa công lợi, Nhà nước vì lợi ích chung của xã hội yêu cầu tác giả sáng tạo và truyền bá tác phẩm ưu tú nhiều hơn, ngược lại, Nhà nước sẽ bảo hộ tác giả được hưởng quyền lợi kinh tế do tác phẩm mang đến trong thời gian nhất định. Đúng như một học giả Nhật Bản đánh giá: "Việc bảo hộ đối với quyền tác giả không phải coi việc bảo hộ bản thân tác giả là ý nghĩa quan trọng thứ nhất, mà là đặt vị trí thúc đẩy sự phát triển của khoa học và công nghệ làm mục tiêu". Song cần phải chỉ ra rằng, tuy Luật quyền tác giả thành văn của các nước theo hệ thống luật Anh-Mỹ trong thời gian dài không có nội dung về quyền lợi nhân thân, nhưng không có nghĩa là quyền lợi nhân thân của tác giả không được bảo đảm ở những nước này, quyền nhân thân của tác giả có thể được bảo hộ dựa vào các nguyên tắc của thông luật ngoài Luật quyền tác giả ra. Đặc biệt là mấy năm gần đây, cùng với triết học lập pháp của những nước này từ chủ nghĩa công lợi thuần tuý quay trở về với Thuyết quyền lợi tự nhiên, và do sự ảnh hưởng của các Công ước quốc tế lấy tư tưởng Luật lục địa làm chủ đạo ngày càng rộng rãi, đại bộ phận Luật quyền tác giả của những nước theo hệ thống Luật Anh-Mỹ đã bắt đầu xuất hiện những quy định riêng có liên quan đến quyền lợi nhân thân, như Luật quyền tác giả năm 1988 của Anh đã có một chương riêng quy định về 4 loại quyền lợi nhân thân như quyền ký tên chống giả mạo của tác giả, quyền tư cách của tác giả, quyền phản đối việc tiến hành xuyên tạc, sửa chữa đối với tác phẩm, quyền phản đối tiến hành công khai mang tính thương mại đối với tác phẩm của người uỷ thác các tác phẩm nhiếp ảnh và điện ảnh. Đồng thời quy định, quyền nhân thân có thể được thực thi do chính tác giả, quyền được phân biệt là tác giả hay đạo diễn và quyền phản đối các tác phẩm bị xuyên tạc, bóp méo, thời hạn bảo lưu quyền tài sản của tác giả tác phẩm được duy trì, quyền chống giả mạo tác phẩm được kéo dài đến 20 năm sau khi tác giả chết. Quyền nhân thân trong giao dịch quyền tác giả không thể chuyển nhượng được, nhưng có thể thừa kế và từ bỏ được. Từ bỏ quyền nhân thân phải thông qua văn bản bằng chữ của tác giả, tác giả có thể từ bỏ quyền lợi nhân thân khi giao dịch một tác phẩm hay quyền tác giả một lần, cũng có thể từ bỏ quyền nhân thân đối với toàn bộ tác phẩm, thậm chí có thể từ bỏ trước quyền nhân thân đối với tác phẩm chưa ra đời, có thể từ bỏ có điều kiện, cũng có thể từ bỏ vô điều kiện Tham khảo Điều 87 Luật quyền tác giả của Anh năm 1988 . Từ thập kỷ 70 của thế kỷ 20 cho đến nay, Mỹ cũng lần lượt có hơn 10 bang trong Luật bảo hộ tác phẩm nghệ thuật của bang đã quy định tác giả của tác phẩm nghệ thuật được hưởng quyền lợi về nhân thân, nội dung chủ yếu bao gồm quyền đứng tên và quyền bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm của tác giả. Đồng thời năm 1990, Nghị Viện Liên bang Mỹ cũng đã đưa nội dung về quyền nhân thân tương tự với luật của các bang vào Luật quyền tác giả của Liên bang. Tuy Luật quyền tác giả của Liên bang Mỹ rất hạn chế bảo vệ quyền lợi nhân thân, nhưng cũng đã quy định rõ ràng quyền nhân thân của tác giả không những có thể từ bỏ,‚ Tham khảo Điều 106A "Luật quyền tác giả của Mỹ" mà còn bị hạn chế sử dụng một cách hợp lý. 1.2. Quy định của những nước theo hệ thống Luật lục địa: Những nước theo hệ thống Luật lục địa coi "Quan điểm về giá trị nhân cách' là cơ sở triết học của luật pháp về quyền tác giả, đưa tư tưởng nhân quyền vốn có vào phạm trù lý luận về quyền tác giả, xác lập quan niệm về quyền tác giả coi việc bảo vệ quyền lợi nhân thân của tác giả là trung tâm. Dưới sự ảnh hưởng tư tưởng của Luật tự nhiên này, tác phẩm được coi là sự kết tinh trí tuệ và sự kéo dài nhân cách của tác giả, vì vậy tác giả có quyền lợi tự nhiên vốn có đối với tác phẩm giống như quan hệ cha con vậy, họ không những có quyền sử dụng kinh tế, khống chế tác phẩm giống như đối với quyền tài sản, mà còn có quyền bảo vệ mối liên hệ tinh thần không thể cắt đứt được giữa nhân cách của tác giả với tác phẩm. Họ đã dùng thuật ngữ "quyền tác giả" để nhấn mạnh sự bảo hộ đối với quyền lợi cá nhân của tác giả, chứ không phải là sự bảo hộ đối với quyền lợi của nhà xuất bản; và nhấn mạnh pháp luật không những cần phải bảo vệ quyền lợi tài sản của tác giả, mà còn cần phải bảo vệ quyền lợi nhân thân của tác giả. "Luật quyền biểu diễn" năm 1791 và "Luật quyền sao chép" năm 1973 của Pháp đã thể hiện sự quan tâm và bảo vệ của các nhà lập pháp đối với quyền lợi tự nhiên của cá nhân đặc biệt là quyền nhân cách. Ngoài quy định tác giả được hưởng các loại quyền lợi về tài sản, còn quy định rõ quyền lợi nhân thân mà tác giả được hưởng lần đầu tiên trong lịch sử loài người. Luật quyền tác giả của hệ thông luật lục địa đã phát triển thuộc tính quyền tài sản đơn nhất trong quyền tác giả của hệ thống luật Anh-Mỹ thành quyền lợi tác giả có nội dung kép, đã khắc hoạ bản chất lý tính vốn có của quyền tác giả, đó chính là một sự tiến bộ lớn. ở những nước theo hệ thống luật lục địa còn tồn tại hai loại học thuyết chủ yếu là "Thuyết nhất nguyên" và "Thuyết nhị nguyên". "Thuyết nhất nguyên" lấy nước Đức làm đại biểu, đồng thời bao gồm những nước như áo, Hungari, Tiệp Khắc... Họ cho rằng quyền tác giả là thể phức hợp hữu cơ đặc biệt về quyền tài sản và quyền nhân thân của tác giả, gắn bó với nhau, bảo vệ một quyền lợi nào trong đó chắc chắn sẽ tạo thành sự bảo vệ đối với quyền lợi kia. Lý luận về "Thuyết nhất nguyên" này thể hiện về mặt chế độ chuyển nhượng quyền tác giả, biểu hiện là: quyền nhân thân của tác giả không được bảo hộ vĩnh viễn, mà là được hưởng thời hạn bảo hộ tương đương cùng với quyền tài sản của tác giả. Quyền nhân thân của tác giả không thể chuyển nhượng được, quyền tài sản của tác giả do có liên quan với quyền nhân thân của tác giả nên không thể tách rời được, do vậy việc chuyển nhượng quyền tài sản của tác giả cũng bị phủ định. Chỉ khi di chúc được thực thi có thể phát sinh sự dịch chuyển hoặc khi phân chia di sản giữa những người cũng được thừa kế mới phát sinh việc chuyển nhượng. Tham khảo Điều 28, 29, 64 "Luật quyền tác giả Đức" Tức là ở những quốc gia này không tồn tại việc chuyển nhượng quyền tác giả, chỉ tồn tại chế độ uỷ quyền sử dụng tác phẩm. "Thuyết nhị nguyên" lấy Pháp làm đại biểu, bao gồm các nước như ý, Tây Ban Nha, Nhật Bản.v.v., họ cho rằng quyền tác giả là "nhất quyền lưỡng thể", do quyền tài sản và quyền nhân thân của tác giả độc lập với nhau tạo nên, ngoài ra hai loại quyền lợi này được sự bảo hộ hoàn toàn khác nhau. Quyền tài sản của tác giả chỉ có thể được bảo hộ trong thời hạn nhất định, nhưng nó có thể tách rời với nhân thân của tác giả, có thể chuyển nhượng cho người khác trong lưu thông thương mại hoặc do tác giả từ bỏ; Còn quyền nhân thân của tác giả bao gồm quyền công bố, nó không thể tách rời với nhân cách của tác giả, vừa không thể chuyển nhượng vừa không thể từ bỏ, chỉ có sau khi tác giả chết mới có thể dịch chuyển cho người thừa kế theo pháp luật hoặc người được thừa kế theo di chúc.‚ Tham khảo Điều L121-1 "Bộ luật quyền sở hữu trí tuệ của Pháp" Ngoài ra mỗi khi việc thực thi quyền tài sản của tác giả xảy ra xung đột với quyền nhân thân của tác giả, thì quyền nhân thân của tác giả có hiệu lực ưu tiên, đã thể hiện sự bảo hộ ưu tiên đối với quyền nhân thân của tác giả. Vấn đề đáng đề cập tới là "Công ước Berne"- Công ước bảo hộ quyền tác giả có tính quốc tế rộng rãi cũng chịu sự ảnh hưởng tương đối nhiều của triết học luật tự nhiên ở hệ thống luật lục địa. Trong khoản 2 Điều 6 "Công ước Berne" một mặt đã cho thấy quyền kinh tế của tác giả có thể chuyển nhượng được, mặt khác đã quy định rõ ràng sau khi quyền kinh tế được chuyển nhượng thì tác giả vẫn có quyền đứng tên và quyền bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm, quyền lợi nói trên vẫn có hiệu lực sau khi tác giả chết, ít nhất cho đến khi thời hạn bảo hộ quyền kinh tế của tác giả chấm dứt. 1.3. Những nghi ngờ đối với lý luận truyền thống: Xu hướng giá trị của quyền tác giả ở hệ thống Luật Anh - Mỹ và ở hệ thống luật lục địa mặc dù bắt nguồn từ các lý luận tư tưởng khác nhau, nhưng đều dựa vào nguyên lý chung của Bộ luật dân sự, cho rằng: Quyền tài sản của tác giả có thể tồn tại độc lập tách rời với tác giả, có thể xử lý, tiến hành chuyển nhượng và cho phép theo nguyện vọng tự do của tác giả. Còn quyền nhân thân của tác giả do không thể tách rời với chủ thể, vì vậy cũng không thể chuyển nhượng được. Sau khi phân tích quy định lập pháp của hai hệ thống pháp luật lớn và các nước khác nhau, tác giả bài viết giữ thái độ phủ định đối với lý luận về quyền nhân thân của tác giả không thể tách rời với chủ thể, lý do như sau: Thứ nhất, quyền nhân thân của tác giả có thể thừa kế được. Bất luận là Luật quyền tác giả của Anh hay là Luật quyền tác giả của Pháp cũng đều thừa nhận quyền nhân thân của tác giả có thể chuyển giao cho người thừa kế theo Luật thừa kế. Điều này đã chứng minh đầy đủ rằng quyền nhân thân của tác giả có thể tách rời với chủ thể, sau khi tác giả chết thì do người thừa kế hoặc người thứ ba được chỉ định theo di chúc của họ thực thi. Thứ hai, Luật quyền tác giả của Anh quy định: cấm giả mạo quyền đứng tên của tác giả kéo dài đến 20 năm sau khi tác giả chết, Công ước Berne cũng quy định, các quốc gia thành viên đối với việc bảo hộ quyền nhân thân của tác giả không được ít hơn thời hạn bảo hộ quyền kinh tế tương ứng, và Công ước đồng thời còn quy định thời hạn bảo hộ quyền kinh tế không được dưới 50 năm sau khi tác giả chết, rõ ràng là sự bảo hộ quyền nhân thân của tác giả cũng không được dưới 50 năm sau khi tác giả chết. Vậy thì tất cả những tác phẩm được công bố sau khi tác giả chết cho đến trước khi thời hạn có hiệu lực về quyền nhân thân của tác giả hết thì các quyền lợi nhân thân có liên quan là hoàn toàn tách rời với chủ thể, điều này cũng đã bác bỏ lý luận về quyền nhân thân không thể tách rời với chủ thể. Thứ ba, những quốc gia theo "Thuyết nhất nguyên", tuy nhấn mạnh quyền tác giả là một chỉnh thể (bao gồm quyền tài sản và quyền nhân thân) không thể chuyển nhượng được, nhưng có thể được thực hiện thông qua sự uỷ quyền cho phép, trong đó sự cho phép về quyền tài sản là không có sự nghi ngờ gì, nhưng quyền nhân thân liệu có thể cho phép người khác sử dụng hay không thì chỉ có thể suy đoán là không thể. Cố vấn pháp luật của Bộ tư pháp áo trên tạp chí "Bản quyền" của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới đã chỉ ra rằng: do đại đa số các tác giả âm nhạc và tác giả kịch của áo đã uỷ thác toàn quyền về quyền sử dụng và quyền thu tiền nhuận bút tác phẩm thậm chí cả đến thủ tục tố tụng khi tác phẩm bị xâm phạm cho "Hiệp hội thu thuế bản quyền" giải quyết. Trên thực tế, khi tác phẩm bị người thứ ba sử dụng liệu có thể được đứng tên, đứng tên như thế nào, được sửa đổi hay không và sửa đổi ra sao, ghi tên hoặc sửa đổi tác phẩm không đúng sẽ bị kiện đến Toà án như thế nào, tất cả đều do Hiệp hội này (trong trường hợp không liên hệ với tác giả nữa) quyết định, điều này tương đương với việc tác giả khi ký kết hợp đồng uỷ thác với Hiệp hội này phải giao quyền tài sản và quyền nhân thân cho Hiệp hội này bằng phương thức cho phép độc quyền, thậm chí có thể coi là đã chuyển nhượng cho Hiệp hội này. Thứ tư, Luật quyền tác giả của những nước theo hệ thống Luật Anh-Mỹ đều cho thấy rõ, quyền nhân thân của tác giả có thể từ bỏ được, điều này trên thực tế chính là một kiểu giải quyết của tác giả đối với quyền nhân thân của mình. Tưởng tượng, khi một nhà xuất bản đàm phán với tác giả về vấn đề xuất bản sách, nhà xuất bản yêu cầu tác giả huỷ bỏ quyền sửa đổi (một loại quyền nhân thân của tác giả) đối với quyển sách đó, đồng thời đề xuất nếu tác giả từ bỏ quyền sửa đổi thì tiền nhuận bút có thể tăng lên gấp đôi, nếu tác giả đồng ý thì cũng sẽ được tiền thù lao nhiều gấp đôi, vậy thì điều này còn có sự khác biệt gì về bản chất so với việc chuyển nhượng có bồi hoàn về quyền nhân thân của tác giả? Từ đó có thể thấy rằng, luật pháp nước ngoài tuy cấm việc chuyển nhượng quyền nhân thân của tác giả, nhưng trên thực tế tồn tại tính có thể tách rời thậm chí tính phải tách rời giữa chủ thể và quyền nhân thân của tác giả. Năm 1985 khi Pháp sửa đổi Luật quyền tác giả, để thích ứng với nhu cầu của giới doanh nghiệp, trong văn bản sửa đổi đã quy định quyền lợi nhân thân của tác giả về chế phẩm đĩa hình và chế phẩm phần mềm máy tính có thể chuyển nhượng được. Lý luận về quyền tác giả của Pháp cũng cho thấy, nếu muốn bảo vệ thiết thực quyền nhân thân của tác giả thì không thể câu nệ vào lý luận không thể tách rời hoặc tuyệt đối không thể chuyển nhượng giữa quyền lợi này với chủ thể. 2. Mô hình lý luận và phân tích sự chuyển giao các quyền nhân thân có liên quan của tác giả hiện nay. Do sự chuyển giao quyền tác giả không phải là sự chuyển dịch về quyền lợi nhân thân mà là sự chuyển dịch về quyền lợi tài sản, nhưng do hậu quả của việc chuyển nhượng làm cho tác giả khi thực hiện quyền lợi nhân thân đối với tác phẩm chịu sự hạn chế nhất định, ít nhất trong một thời gian, việc thực hiện quyền lợi nhân thân sẽ ảnh hưởng đến việc sử dụng của người được chuyển nhượng đối với tác phẩm, thậm chí giảm bớt thu nhập kinh tế, như vậy, người được chuyển nhượng không thể không được quan tâm. Vì vậy, tác giả không thể nhấn mạnh quyền chuyển nhượng chỉ là quyền tài sản trong quyền tác giả, mà phải tính đến một thực tế hoặc một vấn đề pháp luật là: tách rời hoàn toàn quyền lợi nhân thân và quyền lợi tài sản trong quyền tác giả, để trở thành các bộ phận độc lập không có sự liên hệ với nhau là không thể. Để giải quyết mâu thuẫn này, các học giả đã đưa ra nhiều lý luận: Lý luận về việc từ bỏ quyền lợi nhân thân: Từ bỏ quyền lợi nhân thân là sau khi tác giả và người được chuyển nhượng đạt được thoả thuận về tác phẩm, người được chuyển nhượng được hưởng quyền tài sản của tác giả, tác giả sẽ không được chủ trương quyền lợi nhân thân có liên quan, tức là từ bỏ việc thực hiện đối với quyền lợi nhân thân có liên quan. Lý luận này bắt nguồn từ chế độ quyền nhân thân của tác giả hiện hành ở những nước theo hệ thống Luật Anh-Mỹ, mà ở những nước theo hệ thống luật Anh-Mỹ do họ thực hiện quy định quyền nhân thân của tác giả không được tách rời với nhân thân của tác giả thì đều không được cho phép. Mà khái niệm "từ bỏ" (waive) trong hệ thống luật Anh-Mỹ và khái niệm "từ bỏ" (abandon) trong hệ thống luật lục địa có sự khác nhau về cơ bản. "Từ bỏ" trong hệ thống luật Anh-Mỹ chủ yếu là hành vi được sản sinh ra căn cứ theo thoả thuận về mặt Luật hợp đồng, nó chỉ giới hạn ở trong phạm vi quy định của hợp đồng và nhằm vào đương sự của hợp đồng, ngoài hợp đồng ra tác giả vẫn có quyền nhân thân của tác giả. Ví dụ một tác giả uỷ quyền cho một doanh nghiệp truyền thông đại chúng căn cứ vào việc sáng tạo tác phẩm phát thanh, truyền hình, đồng thời đã ký thoả thuận từ bỏ quyền sửa đổi. Tuy tác giả không chủ trương quyền lợi nhân thân đối với hành vi sửa đổi nguyên tác của doanh nghiệp truyền thông đại chúng trong quá trình sáng tạo tác phẩm phát thanh, truyền hình nữa, nhưng vẫn có quyền phản đối doanh nghiệp truyền thông đại chúng này sửa đổi tác phẩm của họ trong thoả thuận từ bỏ chưa đề cập đến quá trình như là xuất bản sách..., và cũng có quyền phản đối những người khác sửa đổi tác phẩm của họ dưới bất kỳ hình thức nào trừ doanh nghiệp truyền thông đại chúng ra. Vì vậy việc từ bỏ quyền sửa đổi này, trên thực tế là tác giả thông qua thoả thuận chuyển nhượng quyền sửa đổi với mức độ nhất định cho doanh nghiệp truyền thông đại chúng này. Còn "từ bỏ" trong Luật lục địa thường là được sản sinh ra dựa vào hành vi chuyển quyền sở hữu tài sản, nó có tính tuyệt đối hay còn gọi là tính đối thế, hậu quả pháp lý của việc từ bỏ này là người có quyền sở hữu hoàn toàn mất đi sự chi phối khách thể đối với quyền lợi, đồng thời cũng hoàn toàn mất đi khả năng loại trừ việc tiến hành xâm hại tuỳ ý của người thứ ba đối với khách thể. Ví dụ, việc từ bỏ đối với quyền sở hữu vật hữu hình sẽ dẫn đến vật này trở thành tài sản vô chủ, chủ sở hữu cũ không được ngăn cấm việc sử dụng của bất cứ người nào đối với nó, đồng thời có thể sinh ra hậu quả pháp lý chiếm dụng quyền sở hữu. Nếu việc từ bỏ quyền nhân thân của tác giả cũng được tiến hành về mặt ý nghĩa này thì sẽ dẫn đến việc bất kỳ người nào cũng đều có thể quyết định tác phẩm n
Luận văn liên quan