Đề tài Phân tích các đặc điểm của nguyên tắc cơ bản trong quản lý hành chính nhà nước và ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này trong việc vận dụng các nguyê

Cũng giống như bất kỳ một hoạt động có mục đích nào, quản lý hành chính nhà nước được tiến hành trên cơ sở những nguyên tắc nhất định. Đây chính là những tư tưởng chủ đạo rất quan trọng trong tổ chức và hoạt động giúp cho các chủ thể quản lý hành chính nhà nước thực hiện có hiệu quả các công việc của mình trên các lĩnh vực đã được phân công. Các nguyên tắc trong quản lý hành chính nhà nước mang tính khách quan và khoa học. Ănghen cho rằng: “Nguyên tắc không phải là được ứng dụng vào giới tự nhiên và lịch sử loài người mà được rút ra trong giới tự nhiên và lịch sử loài người. Không phải giới tự nhiên và loài người thích ứng với nguyên tắc mà trái lại nguyên tắc chỉ đúng nếu nó phù hợp với giới tự nhiên và lịch sử.” Nên các nguyên tắc trong quản lý hành chính nhà nước phải được xây dựng, tổng kết và rút ra từ thực tiễn quản lý hành chính nhà nước. Trên thực tế, việc tiến hành hoạt động quản lý hành chính nhà nước cần phải dựa trên rất nhiều nguyên tắc tổ chức và hoạt động khác nhau, trong đó có những nguyên tắc được xác định là những nguyên tắc cơ bản trong quản lý hành chính nhà nước. Đây là những nguyên tắc có tính bao trùm, chi phối toàn bộ các hoạt động cơ bản của quản lý hành chính nhà nước đồng thời là cơ sở để hình thành, xây dựng và tổ chức thực hiện những nguyên tắc khác trong quản lý hành chính nhà nước. Với tầm quan trọng như vậy nên nhóm chúng em quyết định chọn đề “Phân tích các đặc điểm của nguyên tắc cơ bản trong quản lý hành chính nhà nước và ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này trong việc vận dụng các nguyên tắc đó trong thực tiễn quản lý hành chính nhà nước ở nước ta hiện nay.”

doc19 trang | Chia sẻ: ngtr9097 | Ngày: 24/05/2013 | Lượt xem: 3387 | Lượt tải: 13download
Tóm tắt tài liệu Đề tài Phân tích các đặc điểm của nguyên tắc cơ bản trong quản lý hành chính nhà nước và ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này trong việc vận dụng các nguyê, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Lời nói đầu Cũng giống như bất kỳ một hoạt động có mục đích nào, quản lý hành chính nhà nước được tiến hành trên cơ sở những nguyên tắc nhất định. Đây chính là những tư tưởng chủ đạo rất quan trọng trong tổ chức và hoạt động giúp cho các chủ thể quản lý hành chính nhà nước thực hiện có hiệu quả các công việc của mình trên các lĩnh vực đã được phân công. Các nguyên tắc trong quản lý hành chính nhà nước mang tính khách quan và khoa học. Ănghen cho rằng: “Nguyên tắc không phải là được ứng dụng vào giới tự nhiên và lịch sử loài người mà được rút ra trong giới tự nhiên và lịch sử loài người. Không phải giới tự nhiên và loài người thích ứng với nguyên tắc mà trái lại nguyên tắc chỉ đúng nếu nó phù hợp với giới tự nhiên và lịch sử.” Nên các nguyên tắc trong quản lý hành chính nhà nước phải được xây dựng, tổng kết và rút ra từ thực tiễn quản lý hành chính nhà nước. Trên thực tế, việc tiến hành hoạt động quản lý hành chính nhà nước cần phải dựa trên rất nhiều nguyên tắc tổ chức và hoạt động khác nhau, trong đó có những nguyên tắc được xác định là những nguyên tắc cơ bản trong quản lý hành chính nhà nước. Đây là những nguyên tắc có tính bao trùm, chi phối toàn bộ các hoạt động cơ bản của quản lý hành chính nhà nước đồng thời là cơ sở để hình thành, xây dựng và tổ chức thực hiện những nguyên tắc khác trong quản lý hành chính nhà nước. Với tầm quan trọng như vậy nên nhóm chúng em quyết định chọn đề “Phân tích các đặc điểm của nguyên tắc cơ bản trong quản lý hành chính nhà nước và ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này trong việc vận dụng các nguyên tắc đó trong thực tiễn quản lý hành chính nhà nước ở nước ta hiện nay.” PHẦN MỘT: CÁC NGUYÊN TẮC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI LÝ LUẬN VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỂ VẬN DỤNG CÁC NGUYÊN TẮC TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 1. Nguyên tắc Đảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng tháng Tám đã thắng lợi và nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - Nhà nước Việt Nam kiểu mới đã ra đời. Kể từ đó sự phát triển của Nhà nước Việt Nam kiểu mới luôn gắn với sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Thực tế lịch sử đã chỉ rõ, sự lãnh đạo của Đảng cộng sản là hạt nhân của mọi thắng lợi của của cách mạng nước ta. Bằng những hình thức và phương pháp hoạt động của mình, Đảng cộng sản giữ vai trò quyết định đối với việc xác định phương hướng hoạt động của Nhà nước trên mọi lĩnh vực. Sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước mang tính toàn diện cả về chính trị, kinh tế, khoa học kỹ thuật, tư tưởng văn hóa. Tuy vậy, sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của nhà nước không đồng nghĩa với việc can thiệp vào các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của các cơ quan nhà nước, mà đó chính là việc Đảng định hướng về mặt tư tưởng, xác định đường lối quan điểm giai cấp, phương châm chính sách, công tác tổ chức trên lĩnh vực chuyên môn. Hơn nữa, sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản với hoạt động của nhà nước không phải là không có giới hạn. Hiến pháp của nước ta đã xác định rõ: “mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật” (Điều 4 - Hiến pháp 1992). Những thành quả cách mạng mà nhân dân ta giành được trong công cuộc đấu tranh bảo vệ tổ quốc, xây dựng đất nước, đặc biệt là những thành công đạt được trong công cuộc đổi mới hiện nay là cơ sở để khẳng định rằng sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động quản lý nhà nước là một tất yếu khách quan. Do vậy, sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của nhà nước nói chung, hoạt động quản lý hành chính nhà nước nói riêng được thừa nhận là nguyên tắc cơ bản và được đặt lên hàng đầu trong quản lý hành chính nhà nước. Điều 4 Hiến pháp 1992 - đã khẳng định: “Đảng cộng sản Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Nguyên tắc đảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước biểu hiện ở cá hình thức và phương pháp hoạt động của Đảng: - Đảng đưa ra những đường lối, chủ trương, chính sách của mình về các lĩnh vực hoạt động khác nhau của quản lý hành chính nhà nước. Điều 22 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã xác định “Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh được xây dựng trên cơ sở đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội….”. Tuy vậy, ở đây cần nhấn mạnh rằng nghị quyết của Đảng không phải là văn bản mang tính quyền lực - pháp lý. Những Nghị quyết này được thực hiện trên thực tế thông qua hàng loạt những hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước của các chủ thể quản lý hành chính nhà nước. Qua những hoạt động này, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng sẽ được thực hiện hóa trong quản lý hành chính nhà nước. - Vai trò lãnh đạo của Đảng trong quản lý hành chính nhà nước thể hiện trong công tác tổ chức cán bộ. Đây là công việc có vai trò đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả của quản lý hành chính nhà nước. Điều 4 Pháp lệnh Cán bộ, công chức đã ghi nhận “Công tác cán bộ, công chức đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng cộng sản Việt Nam…”, thể hiện ở chỗ: Các tổ chức Đảng bồi dưỡng, đào tạo những Đảng viên ưu tú, có phẩm chất và năng lực để gánh vác những nhiệm vụ trong bộ máy hành chính nhà nước. Tổ chức Đảng có ý kiến về việc bố trí những cán bộ phụ trách vào những vị trí lãnh đạo của các cơ quan hành chính nhà nước. Tuy nhiên vấn đề bầu, bổ nhiệm được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước theo nội dung, trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Ý kiến của Đảng là cơ sở để các cơ quan nhà nước xem xét và đưa ra quyết định cuối cùng. - Đảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước bằng hình thức kiểm tra. Kiểm tra của các tổ chức Đảng là kiểm tra việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Việc kiểm tra này nhằm đánh giá tình hiệu quả, thực tế của các chính sách mà Đảng đề ra, trên cơ sở đó khắc phục những khiếm khuyết, phát huy những mặt tích cực trong công tác lãnh đạo. Điều này đảm bảo cho hoạt động của các tổ chức Đảng có tính thông tin hai chiều. Cũng thông qua công tác kiểm tra Đảng, các tổ chức Đảng biết được tình hình thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách do mình đề ra, trên cơ sở đó có các biện pháp uốn nắn kịp thời nhằm làm cho hoạt động quản lý hành chính nhà nước đi them đúng định hướng phù hợp với lợi ích của giai cấp, lợi ích dân tộc. - Cùng với những hình thức nêu trên, sự lãnh đạo của Đảng trong quản lý hành chính nhà nước còn được thực hiện thông qua uy tín và vai trò gương mẫu của các tổ chức Đảng và các Đảng viên. Việc nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật được coi là kỷ luật của tổ chức Đảng. Chính điều đó đã tạo cơ sở quan trọng để nâng cao uy tín của Đảng đối với nhân dân, với cơ quan nhà nước, làm cho các tổ chức Đảng trở thành hạt nhân lãnh đạo của các cơ quan hành chính nhà nước. Ví dụ đường lối, chủ trương của Đảng về cải cách hành chính trong tiến trình đổi mới. Từ xác định những nguyên nhân của tình hình khủng hoảng kinh tế – xã hội trầm trọng, Đại hội lần thứ VI của Đảng đã chỉ rõ nguyên nhân của mọi nguyên nhân là công tác tổ chức và đề ra chủ trương thực hiện một cuộc cải cách lớn về tổ chức bộ máy các cơ quan nhà nước. Thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, tổ chức bộ máy nhà nước đã được sắp xếp lại một bước theo hướng gọn nhẹ, bớt đầu mối. Đến Đại hội VII, Đảng xác định tiếp tục cải cách bộ máy nhà nước và đề ra những nhiệm vụ về sửa đổi Hiến pháp, cải tiến tổ chức và hoạt động của Quốc hội, sửa đổi cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Chính phủ, của chính quyền địa phương. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chiến lược ổn định và phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2000 do Đại hội VII thông qua đã khẳng định bước tiến về lý luận, nhận thức về nền hành chính nhà nước. Chiến lược cũng nêu trọng tâm cải cách “nhằm vào hệ thống hành chính với nội dung chính là xây dựng một hệ thống hành chính và quản lý hành chính nhà nước thông suốt, có đủ quyền lực, năng lực, hiệu quả”. Sau Đại hội VII, từ 1992 đến 1995 là giai đoạn phát triển mạnh tư duy, quan niệm, nhận thức của Đảng về nền hành chính nhà nước và về cải cách hành chính. Hội nghị Trung ương 8 khoá VII (1/1995) đánh dấu bước phát triển mới về xây dựng và phát triển nền hành chính nhà nước. Lần đầu tiên 3 nội dung chủ yếu của cải cách hành chính nhà nước được trình bày một cách hệ thống trong Nghị quyết Trung ương 8, đó là cải cách thể chế của nền hành chính, chấn chỉnh tổ chức bộ máy và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức. Tiếp tục khẳng định cải cách hành chính là trọng tâm của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước trong những năm trước mắt, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (năm 1996) nhấn mạnh yêu cầu tiến hành cải cách hành chính đồng bộ, dựa trên cơ sở pháp luật, coi đó là một giải pháp cơ bản để thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 1996-2000. Từ việc kiểm điểm tình hình và rút kinh nghiệm thực tiễn, Đảng đã đi đến khẳng định trong điều kiện một Đảng cầm quyền, sự đổi mới chưa đồng bộ các tổ chức trong hệ thống chính trị là trở ngại lớn của công cuộc cải cách hành chính trong thời gian qua. Không thể tiến hành cải cách riêng nền hành chính tách rời sự đổi mới tổ chức và phương thức lãnh đạo của Đảng, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của các đoàn thể nhân dân. Cũng không thể cải cách hành chính một cách biệt lập mà không đồng thời đổi mới tổ chức và cơ chế hoạt động của các cơ quan lập pháp, cơ quan tư pháp. Từ nhận thức đó, Nghị quyết Trung ương 7 (khoá VIII) đề ra chủ trương tiến hành sắp xếp lại tổ chức bộ máy Đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị gắn liền với cải cách hành chính theo hướng tinh gọn, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Đồng thời, với việc kiên quyết sắp xếp một bước bộ máy các tổ chức trong hệ thống chính trị, thực hiện tinh giảm biên chế, cải cách chính sách tiền lương. Đại hội IX (năm 2001) bên cạnh việc khẳng định mục tiêu xây dựng nền hành chính nhà nước dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại hoá đã đưa ra một loạt chủ trương, giải pháp có ý nghĩa quan trọng trong cải cách hành chính thời gian tới như điều chỉnh chức năng và cải tiến phương thức hoạt động của Chính phủ, nguyên tắc bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực; phân công, phân cấp; tách cơ quan hành chính công quyền với tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công; tiếp tục cải cách doanh nghiệp nhà nước, tách rõ chức năng quản lý nhà nước với sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp; tiếp tục cải cách thủ tục hành chính; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực; thiết lập trật tự kỷ cương, chống quan liêu, tham nhũng… 2. Nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý hành chính nhà nước. Với bản chất dân chủ sâu sắc, nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân được nhà nước xã hội chủ nghĩa ghi nhận và thực hiện. Nhà nước xã hội chủ nghĩa do nhân dân lao động tự tổ chức và lập nên để thực hiện quyền lực và phục vụ lợi ích của mình. Thông qua nhà nước, nhân dân lao động có thể phát huy tài năng sức lực của chính mình trong việc quản lý và phát triển xã hội. Điều 2 Hiến pháp 1992 (sủa đổi năm 2001 ) nêu rõ: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và nền tảng là giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức”. Để đảm bảo tính chất nhân dân là chủ thể đặc biệt của nhà nước pháp quyền, việc tạo điều kiện để nhân dân lao động tham gia vào quản lý hành chính nhà nước phải được ghi nhận và đảm bảo thực hiện như là một nguyên tắc cơ bản trong quản lý hành chính nhà nước. Điều 3 Hiến pháp 1992 sửa đổi năm 2001 khẳng định: “Nhà nước đảm bảo và không ngừng phát huy quyền làm chủ của nhân dân”. Quyền được tham gia vào quản lý hành chính nhà nước và xã hội là quyền cơ bản của công dân được hiến pháp ghi nhận và trên thực tế, nguyên tắc này đã được đảm bảo thực hiện thông qua hàng loạt những hoạt động cụ thể. Nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý hành chính nhà nước là nguyên tắc rất quan trọng trong quản lý hành chính nhà nước. Nó khẳng định vai trò đặc biệt của nhân dân lao động trong quản lý hành chính nhà nước nói riêng va quản lý xã hội nói chung. Điều này phù hợp với nguyên lý “Nhân dân là gốc của quyền lực Nhà nước” - một nguyên lý rất khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê Nin đã vạch ra và được thực tiễn lịch sử chưng minh. Không chỉ vây, nguyên tắc này cũng xác định những nhiệm vụ mà nhà nước phải thực hiện để đảm bảo những điều kiện cơ bản để nhân dân lao động được tham gia vào quản lý hành chính nhà nước. Các hình thức tham gia vào quản lý hành chính nhà nước của nhân dân lao động bao gồm: a. Tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước. Các cơ quan nhà nước là công cụ để thực hiện quyền lực nhà nước. Vì vậy, tham gia vào hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước là hình thức tham gia tích cực, trực tiếp vào quản lý hành chính nhà nước của nhân dân lao động. Người lao động nếu đáp ứng đầy đủ những tiêu chuẩn, yêu cầu mà pháp luật quy định đều có thể tham gia vào các hoạt động của các cơ quan hành chính Nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Cụ thể là: Người lao động có thể trở thành thành viên của các cơ quan quyền lực nhà nước - họ là những đại biểu được lưa chọn thông qua con đường bầu cử. Khi ở cương vị này, người lao động hoàn toàn có thể trực tiếp xem xét và giải quyết các vấn đề của đất nước thông qua các cơ quan nhà nước ở Trung ương hay địa phương tuỳ vào vị trí của mình. b. Tham gia vào hoạt động của các tổ chức xã hội Nhà nước ta tạo mọi điều kiện thuận lợi để nhân dân lao động có thể tham gia một cách tích cực vào hoạt động của các tổ chức xã hội. Trong các văn bản pháp luật của nhà nước có rất nhiều các quy định liên quan tới vị trí, vai trò, quyền hạn va nghĩa vụ của các tổ chức xã hội trong quản lý hành chính nhà nước nói riêng và quản lý nhà nước nói chung. Điều 9 Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001) khẳng định: “Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thanh viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân”. Các tổ chức xã hội được nhà nước hỗ trợ về vật chất và tinh thần để nhân dân lao động hòan toàn thể hiện được quyền làm chủ của mình thông qua các tổ chức này. Nhân dân lao động thể hiện được sự sáng tạo của mình trong việc quản lý hành chính nhà nước thông qua các tổ chức xã hội, vì thế mà các tổ chức xã hội thu hút đông đảo quần chúng nhân dân lao động tham gia vào quản lý hành chính nhà nước. Đây có thể coi là hình thức hoạt động có ý nghĩa lớn trong việc thúc đẩy và mở rộng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. c. Tham gia vào hoạt động tự quản ở cơ sở. Hoạt động tự quản ở cơ sở trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước của ta từ lâu đã trở thành hoạt động mang tính chất truyền thống. Đây là hoạt động do nhân dân lao động tự thực hiện và chúng có mối liên quan chặt chẽ với các công việc khác của quản lý hành chính nhà nước và quản lý xã hội. Trên thực tế, ở bất kỳ địa phương nào hiện nay đều có hoạt động tự quản bởi lẽ chúng rất gần gũi với đời sống của mỗi công dân như: hoạt động quản lý an ninh trật tự, công tác vệ sinh môi trường, tổ chức đời sống công cộng....Chính trong những hoạt động tự quản này, nhân dân lao động tham gia tích cực, nhiệt tình va cụ thể, bởi vậy, quyền tham gia quản lý hành chính nhà nước và quản lý xã hội thực sự được tôn trọng và đảm bảo thực hiện. d. Trực tiếp thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công dân trong quản lý hành chính nhà nước. Điều 53 Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001) đã quy định công dân có quyền “tham gia quản lý hành chính nhà nước và xã hội, tham gia thao luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan nhà nước, biểu quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân”. Để đảm bảo thực hiện quyền cơ bản này của nhân dân, pháp luật đã quy định quyền và nghĩa vụ cụ thể của công dân trong các lĩnh vực khác nhau của quản lý hành chính nhà nước. Các quyền và nghĩa vụ này của công dân có thể thực hiện thông qua hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội hoặc có thể được chính người dân trực tiếp thực hiện. Sự tham gia trực tiếp đó cũng chính là một hình thức tham gia vào quản lý hành chính nhà nước của nhân dân lao động. Cùng với sự phát triển của xã hội, các quyền và nghĩa vụ của công dân ngày càng được tôn trọng và đảm bảo thực hiện một cách đầy đủ hơn. Chính vì thế, đây cũng chính là một hình thức quan trọng không thể thiếu để nhân dân lao động có thể phát huy quyền làm chủ của mình đối với nhà nước. Thực tiễn về tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước của nhân dân: Người lao động nếu đáp ứng đầy đủ các yêu cầu mà pháp luật quy định có thể tham gia ứng cử vào cơ quan quyền lực nhà nước thông qua con đường bầu cử. Với tư cách là đại biểu Quốc hội, người lao động trực tiếp xem xét và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, của từng địa phương, trong đó có các vấn đề về quản lý hành chính nhà nước. Bên cạnh đó, nhân dân lao động có thể tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước khác như toà án, viện kiểm soát… Với tư cách là những cán bộ, công chức, nhân dân lao động sẽ sử dụng một cách trực tiếp quyền lực nhà nước để tiến hành những công việc khác nhau của quản lý hành chính nhà nước thể hiện vai trò làm chủ đất nước, làm chủ xã hội của mình. Ngoài ra, người lao động có thể tham gia gián tiếp vào hoạt động của các cơ quan nhà nước thông qua việc thực hiện quyền bầu cử để lựa chọn những đại biểu xứng đáng thay mặt mình vào cơ quan quyền lực nhà nước trung ương hay địa phương. 3. Nguyên tắc tập trung dân chủ: Điều 6 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ”. Trong tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc tập trung dân chủ có tầm quan trọng đặc biệt. Một mặt, nó bảo đảm sự thống nhất ý chí và lợi ích vì những mục đích và nhiệm vụ của toàn xã hội. Và, mặt khác, nó bảo đảm phát huy tính chủ động và sáng tạo của các tổ chức, cá nhân và quần chúng đông đảo trong việc giải quyết những vấn đề cụ thể, trong những hoàn cảnh và cơ sở cụ thể. Nguyên tắc này thể hiện sự tập trung trên cơ sở dân chủ chân chính, kết hợp sáng tạo với sự thực hiện, chấp hành nghiêm chỉnh và tinh thần trách nhiệm, ý thức kỷ luật cao. Tập trung dân chủ là một nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước ta, vì lẽ đó hoạt động quản lý hành chính nhà nước cũng phải tuân thủ nguyên tắc này. Trên cơ sở nguyên lý chung và nội dung có tính phổ biến của nguyên tắc tập chung dân chủ, cần vận dụng vào tổ chức và hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước tùy theo đặc điểm của những đối tượng quản lý khác nhau (ngành, cấp, lĩnh vực...). Sự quản lý thống nhất của Nhà nước không những không hạn chế mà còn bao hàm và phát huy cao độ tính đa dạng của các ngành, các địa phương, các đơn vị cơ sở. Tính thống nhất ấy còn được tạo thành và giữ vững bởi tính chủ động, sáng tạo và cách mạng của quần chúng nhân dân. Dưới sự quản lý thống nhất và tập trung của Trung ương, Nhà nước phân chia những đơn vị hành chính - lãnh thổ (tỉnh - thành phố, huyện - quận, xã - phường). Nguyên tắc tổ chức đoì hỏi một mặt giữ vững quyền tập trung quản lý những vấn đề cơ bản trong tay Nhà nước ở Trung Ương (Chính phủ, các Bộ); mặt khác, phát huy dân chủ một cách mạnh mẽ, giao đầy đủ quyền và trách nhiệm giải quyết cho cấp nào, nơi nào có điều kiện am hiểu cụ thể nhất. Sự lãnh đạo tập trung trên cơ sở dân chủ là một yêu cầu khách quan của việc “thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” trong điều kiện hiện nay. Những biểu hiện của nguyên tắc tập trung dân chủ được thể hiện trong năm điểm sau: a.Sự phụ thuộc của cơ quan hành chính nhà nước vào cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp: Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và hội đồng nhân dân, đó là những cơ quan quyền lực Nhà nước do nhân dân trực tiếp bầu ra và phải chịu trách nhiệm trước nhân dân. Sau đó, thông qua các cơ quan quyền lực
Luận văn liên quan