Đề tài Phân tích nhóm quyền chính trị của công dân theo Hiến pháp 2013

Trong bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mĩ năm 1776 có viết: “Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa đã ban cho họ những quyền mà không ai có thể xâm phạm được”. Quả thật vậy, đó là nhân quyền, là dân quyền, những quyền lợi cơ bản và chính đáng được nhà nước ghi nhận trong văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lí cao nhất – Hiến pháp. Từ khi Hiến pháp 1946 ra đời đến nay, trải qua năm bản Hiến pháp, quyền công dân vẫn được Nhà nước chú trọng và ngày càng mở rộng, có thể kể đến như quyền dân sự, chính trị; quyền kinh tế, văn hóa xã hội Trong đó, quyền chính trị của công dân hết sức quan trọng. Vậy Hiến pháp 2013 đã quy định thế nào về quyền chính trị của công dân? Trong bài này em xin trình bày vài nét về “Phân tích nhóm quyền chính trị của công dân theo Hiến pháp 2013”.

docx9 trang | Chia sẻ: lecuong1825 | Ngày: 18/07/2016 | Lượt xem: 11266 | Lượt tải: 23download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Phân tích nhóm quyền chính trị của công dân theo Hiến pháp 2013, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI NÓI ĐẦU Trong bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mĩ năm 1776 có viết: “Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa đã ban cho họ những quyền mà không ai có thể xâm phạm được”. Quả thật vậy, đó là nhân quyền, là dân quyền, những quyền lợi cơ bản và chính đáng được nhà nước ghi nhận trong văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lí cao nhất – Hiến pháp. Từ khi Hiến pháp 1946 ra đời đến nay, trải qua năm bản Hiến pháp, quyền công dân vẫn được Nhà nước chú trọng và ngày càng mở rộng, có thể kể đến như quyền dân sự, chính trị; quyền kinh tế, văn hóa xã hội Trong đó, quyền chính trị của công dân hết sức quan trọng. Vậy Hiến pháp 2013 đã quy định thế nào về quyền chính trị của công dân? Trong bài này em xin trình bày vài nét về “Phân tích nhóm quyền chính trị của công dân theo Hiến pháp 2013”. Bài làm còn nhiều thiếu sót mong thầy cô góp ý bổ sung giúp em hoàn thiện kiến thức. Em xin chân thành cảm ơn! B. NỘI DUNG I. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUYỀN CHÍNH TRỊ CỦA CÔNG DÂN 1. Khái niệm quyền chính trị của công dân a. Định nghĩa quyền chính trị của công dân Khái niệm công dân được dung để chỉ mối liên hệ giữa cá nhân và Nhà nước. Có thể định nghĩa rằng: “Công dân là những cá nhân được mang quốc tịch của một Nhà nước sở tại”. Công dân của một nước được hưởng những quyền nhất định và phải thực hiện nghĩa vụ của mình vói Nhà nước đó. Thuật ngữ “chính trị “ có nguồn gốc La-tinh là “politis” mang nghĩa công việc nhà nước. Cụ thể hơn, có thể hiểu chính trị là “toàn bộ những hoạt động có liên quan đến các mối quan hệ giữa các giai cấp, giữa các dân tộc, các tầng lớp xã hội, mà cốt lõi của nó là vấn đề giành chính quyền, duy trì và sử dụng quyền lực nhà nước, sự tham gia vào công việc của nhà nước, sự xác định hình thức tổ chức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà nước". Như vậy quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong lĩnh vự chính trị là quyền và nghĩa vụ của công dân tham gia vào các công việc quản lí nhà nước. Đó là các quyền tự do bầu cử, ứng cử, quyền khiếu nại, tố cáo, tham gia đóng góp ý kiến vào các công việc của Nhà nước. Những quyền chính trị được Hiến pháp ghi nhận còn được gọi là quyền hiến định về chính trị của công dân. Các quyền hiến định của công dân về chính trị nhằm đáp ứng nhu cầu, lợi ích, đời hỏi hợp pháp về tự do tư tưởng, chính trị, hoạt động chính trị và các giao lưu chính trị để phục vụ cho việc thực hiện quyền làm chủ về chính trị của công dân; góp phần củng cố, bảo vệ sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. b. Đặc điểm của các quyền hiến định về chính trị Một là, các quyền hiến định về chính trị của công dân được xác lập trên cơ sở lí luận của chủ nghĩa Mác- Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về các quyền dân tộc cơ bản là độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, tự do, dân chủ, bình đẳng, hạnh phúc. Hai là, các quyền hiến định về chính trị của công dân được xác định trên nền tảng lí luận là tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về quyền làm chủ nhà nước của công dân. Ba là, các quyền hiến định về chính trị của công dân luôn luôn được xác lập xuất phát từ những nhiệm vụ chính trị cụ thể trong từng giai đoạn của cách mạng nước ta. Bốn là, các quyền hiến định về chính trị của công dân được xác lập đồng thời vói các quyền hiến định khác của công dân, góp phần tạo nên một hệ thống thống nhất các quyền hiến định của công dân Việt Nam về chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội. Năm là, các quyền hiến định về chính trị của công dân ngày càng được mở rộng, phù hợp với tình hình và nhiệm vụ mới của cách mạng và với trình độ phát triển kinh tế,chính trị, tư tưởng, văn hóa và dân trí của xã hội. Quyền chính trị của công dân trong lịch sử lập hiến Việt Nam Hiến pháp 1946 là Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam quy định rất rõ quyền và nghĩa vụ chính trị của công dân. Đó là quyền công dân có thể tham gia vào công việc của chính quyền, kiến thiết quốc gia tùy theo tài năng và đức hạnh của mỗi người. Hiến pháp 1959, bổ sung thêm một số quyền về chính trị có thể kể đến như: Điều 29,Điều 30Và Hiến pháp 1959 cũng quy định các hình thức mà công dân thực hiện các quyền lực Nhà nước thuộc về mình. Hiến pháp 1980 đặc biệt nhấn mạnh quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, và mở rộng quyền làm chủ của nhân dân. Hiến pháp 1992 quy định quyền tham gia quản lí Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận chung các vấn đề của Nhà nước và địa phương, kiến nghị các cơ quan Nhà nước, biểu quyết khi trương cầu ý dân Hiếp pháp 2013 ghi nhận rõ ràng các quyền chính trị của công dân và có một số điểm đối mới so với các bản Hiến pháp trước. III. Quyền chính trị của công dân trong Hiến pháp 2013 Hiến pháp 2013 được ban hành có sự tiếp nối và bổ sung các bản Hiến pháp khác. Quyền chính trị của công dân được ghi nhận trong chương II “quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”. Quyền tham gia công việc quản lý nhà nước và xã hội: Quyền tham gia quản lí đất nước và xã hội là quyền của công dân tham gia thảo luận vào các công việc chung của đất nước trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong phạm vi của cả nước và trong địa phương; quyền kiến nghị với các cơ quan nhà nước về xây dựng bộ máy nhà nước và phát triển kinh tế - xã hội. Điều 28 Hiến pháp 2013 quy định: “Công dân có quyền tham gia quản lí Nhà nước và xã hội”. Đây là quyền cơ bản về chính trị của công dân đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Việc ghi nhận trong Hiến pháp về quyền này có ý nghĩa là việc thừa nhận về mặt nhà nước tầm quan trọng trong đời sống chính trị của công dân, là cơ sở pháp lí quan trọng nâng cao ý thức chính trị của mỗi người trong việc tham gia vào hoạt động của bộ máy Nhà nước, nhằm động viên phát huy sức mạnh toàn dân, toàn xã hội nhằm xây dung một Nhà nước vững mạnh, có hiệu quả. Ngoài ra quy định này còn cho thấy rõ một đặc điểm của bộ máy nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Điều 28 Hiến pháp năm 2013 bổ sung nội dung Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân. Việc bổ sung này đã ràng buộc nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước trong việc bảo đảm quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của người dân. Qua đó, bảo đảm quyền này của người dân được bảo đảm thực hiện trong thực tế. Công dân có thể tham gia quản lý Nhà nước và xã hội dưới nhiều hình thức khác nhau theo quy định của Hiến pháp 2013. Trước hết, cũng giống như Hiến pháp 1992, công dân thực hiện quyền quản lý Nhà nước thông qua đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội Đồng Nhân Dân. Công dân thể hiện trách nhiệm xã hội bằng việc sáng suốt lựa chọn những người có đức, có tài để quản lý Nhà nước và xã hội.Thứ hai, công dân có quyền phản ánh, kiến nghị đến các cơ quan hành pháp, các cơ quan tư pháp và các cơ quan khác của Nhà nước. Thứ ba, Đảng Cộng sản giữ vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội nên người dân muốn thực hiện quản lý Nhà nước và xã hội thì ngoài việc thông qua cơ quan Nhà nước, còn phải thông qua Đảng.Thứ tư, thông qua mối liên hệ giữa các cơ quan Nhà Nước và nhân dân được quy định tại điều 8, công dân thực hiện quyền quản lý Nhà nước và xã hội. Thứ năm, thông qua Mặt trận và các tổ chức thành viên của Mặt trận, công dân thực hiện việc quản lý Nhà nước và xã hội. Hiến pháp 2013 bổ sung thêm hình thức dân chủ trực tiếp, bên cạnh việc khẳng định lại nội dung của Điều 2 Hiến pháp 1992. Dân chủ trực tiếp có thể thực hiện thông qua hình thức trưng cầu ý dân, được quy định tại khoản 15, Điều 70. Trưng cầu ý dân còn được quy định trong trường hợp sửa đổi Hiến pháp, được quy định tại khoản 4, Điều 120. Trưng cầu ý dân là hình thức để công dân thực hiện quyền quản lý Nhà nước và xã hội một cách trực tiếp. Hoạt động Quốc hội trong thời gian gần đây đã thể hiện rõ tinh thần dân chủ, công khai, minh bạch. Hoạt động chất vấn của Quốc hội ngày càng đi vào thực chất và trở thành diễn đàn để Nhân dân thông qua các đại biểu do họ bầu ra chất vấn luật pháp, chính sách, cách thức điều hành của Chính phủ nhằm hướng đến các giải pháp có hiệu quả, đáp ứng quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân. Tại các địa phương, cơ sở, quyền được biết, được bàn, được kiểm tra, giám sát của Nhân dân ngày càng được khẳng định trong thực tế, củng cố vị thế chính trị của các tầng lớp nhân dân, thúc đẩy tính minh bạch, trách nhiệm giải trình trong hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương, cơ sở. 2. Quyền bầu cử, ứng cử của công dân Điều 27 quy định về quyền bầu cử và ứng của của công dân. Theo đó, “công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai một tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân”. Quyền bầu cử là quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp, pháp luật quy định nhằm bảo đảm cho mọi công dân có đủ điều kiện thực hiện việc lựa chọn người đại biểu của mình vào cơ quan quyền lực nhà nước. Thông qua bầu cử, nhân dân trực tiếp bỏ phiếu bầu người đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của mình, để thay mặt mình thực hiện quyền lực nhà nước, góp phần thiết lập ra bộ máy nhà nước để tiến hành các hoạt động quản lý xã hội. Quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân là quyền công dân trở thành ứng cử viên khi đáp ứng các yêu cầu pháp luật đã quy định. Quyền ứng cử bao gồm quyền được giới thiệu ứng cử và tự ứng cử. Được giới thiệu ứng cử tức là trên cơ sở cơ cấu, thành phần và số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giới thiệu ứng cử theo phân bổ, cơ quan, tổ chức, đơn vị đó xem xét các tiêu chuẩn của người được ứng cử. Sau khi lấy ý kiến nhận xét của cử tri tại hội nghị cử tri, giới thiệu người của tổ chức mình ứng cử và đưa vào danh sách hiệp thương. Công dân cũng có thể tự ứng cử đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân nếu tự thấy mình có đủ tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật, có điều kiện và nguyện vọng đóng góp trí tuệ cho đất nước. Để tránh tùy tiện trong việc hạn chế quyền bầu cử, ứng cử của công dân, pháp luật quy định những trường hợp không được bầu cử, ghi tên vào danh sách cử tri, đó là: người đang bị tước quyền bầu cử, ứng cử theo bản án đã có hiệu lực; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang bị tạm giam và người mất năng lực hành vi dân sự Quyền bầu cử, ứng cử được thực hiện theo bốn nguyên tắc: phổ thông, bình đẳng, trược tiếp và bỏ phiếu kín. Các nguyên tắc đó thống nhất với nhau, bảo đảm cho cuộc bầu cử khách quan, dân chủ, thể hiện đúng nguyện vọng của cử tri khi lựa chọn. Các nguyên tắc bầu cử còn quy định quyền và trách nhiệm của cử tri trong bầu cử, trách nhiệm của Nhà nước phải bảo đảm những quy định về bầu cử. Để bảo đảm các quyền trên, Quốc hội đã thông qua Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội (1997), được sửa đổi, bổ sung năm 2001, 2010; Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (2003), được sửa đổi, bổ sung năm 2010; Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân (2015). Như vậy, công dân Việt Nam không kể tôn giáo, dân tộc, giới tính khi đáp ứng đủ điều kiện theo luật định thì có quyền bầu cử hoặc ứng cử. Công dân thực hiện quyền bầu cử ứng cử của mình trên tinh thần tự nguyện. Có thể nói đây là quyền chính trị rất quan trọng, là vinh dự, trách nhiệm nghĩa vụ của mỗi công dân. 3.Quyền khiếu nại, tố cáo của công dân Quyền khiếu nại, tố cáo được quy định tại điều 30 Hiến pháp 2013, được cụ thể hóa trong Luật khiếu nại (luật số 02/2011/QH3) và Luật tố cáo (luật số 03/2011/QH3). Theo đó “mọi người có quyền khiếu nại tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Ở đây, chủ thể không chỉ giới hạn trong khái niệm công dân mà mở rộng ra thành mọi người, tức mọi thành viên trong xã hội. Theo đó, công dân, cơ quan, tổ chức khi có căn cứ cho rằng quyền lợi bị xâm hại bởi một quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước thì có quyền khiếu nại. Đồng thời, công dân có quyền tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, của mình và của người khác. Nói một cách khác, cá nhân có quyền tố cáo mọi hành vi vi phạm mà mình biết được, cho dù hành vi vi phạm đó có tác động trực tiếp hoặc không tác động đến người tố cáo. Nếu Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980 không quy định công dân có quyền khiếu nại tố cáo với cơ quan nào của nhà nước thì Hiến pháp 1992 và Hiến pháp 2013 quy định rõ “cơ quan nhà nước có thẩm quyền”. Việc quy định cụ thể như vậy nhằm giảm bớt công việc của cơ quan không có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tố cáo đông thời quy định rõ trách nhiệm của cơ quan giải quyết; khắc phục tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, kéo dài thời gian giải quyết cho người dân. Pháp luật cũng quy định: “Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật”. Pháp luật có quy định rất rõ ràng về mức bồi thường cho người bị hại. Tùy theo mức độ thiệt hại mà cơ quan giải quyết yêu cầu bị cáo bồi thường cho người bị hại theo quy định của pháp luật. Quy định này nhằm đảm bảo lợi ích cho người bị hại đồng thời cũng là một biện pháp răn đe với toàn xã hội, lấy đó làm gương. Khoản 3 điều 30 Hiến pháp 2013 quy định: “nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại tố cáo để vu khống, vu cáo người khác.” Pháp luật cũng định ra chế tài xử pháp luật đối với hành vi trả thù người khiếu nại tố cáo. Nhà nước bảo vệ quyền lợi cho người khiếu nại, tố cáo về mọi mặt không chỉ thể hiện tính nhân bản mà còn thúc đẩy nhân dân thực hiện quyền này để góp phần xây dựng đất nước. Hiện nay khiếu nại, tố cáo có nhiều diễn biến phức tạp. Không chỉ gia tăng về số lượng, mà còn cả về tính chất và sự đa dạng về lĩnh vực khiếu tố, đặc biệt trong lĩnh vực đất đai, hoạt động tư pháp, tham nhũng. Nhằm bảo đảm tốt hơn quyền này, các cơ quan Đảng, Nhà nước từ Trung Ương đến địa phương, cơ sở đã có nhiều nỗ lực trong việc bố trí cán bộ có năng lực, và đổi mới công tác tiếp dân, phối hợp với cơ quan có thẩm quyền, cải tiến phương thức nhận và trả lời đơn thư, v.v. Quyền khiếu nại, tố cáo không chỉ là phương tiện để đảm bảo các quyền tự do cá nhân bị xâm hại, mà còn góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện bộ máy nhà nước, nâng cao chất lượng hoạt động của bộ máy nhà nước, nâng cao hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức, viêc chức nhà nước, của những người có chức vụ. Nhờ đó mà các cơ quan bảo vệ pháp luật tiến hành điều tra những vi phạm pháp luật và xử lí người vi phạm, thết lập trật tự trong quản lí nhà nước, trật tự xã hội. IV. NHỮNG PHƯƠNG HƯỚNG CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA HIẾN PHÁP TRONG VIỆC ĐẢM BẢO QUYỀN CHÍNH TRỊ CỦA CÔNG DÂN 1. Tiếp tục nâng cao nhận thức về quyền chính trị của công dân và mối quan hệ chặt chẽ giữa các quyền chính trị đối với Hiến pháp. 2. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giải thích giáo dục các quy pham Hiến pháp về các quyền chính trị của công dân và bảo đảm của Nhà nước để mọi người nhận thức đúng đắn, đầy đủ, sâu sắc, thống nhất hơn nữa giá trị, vai trò các quy phạm Hiến pháp trong việc đảm bảo các quyền chính trị của công dân. 3. Thực hiện đầy đủ, nghiêm chỉnh và thống nhất các quy phạm Hiến pháp hiện hành về các quyền chính trị của công dân và đảm bảo của nhà nước. 4. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy phạm Hiến pháp về các quyền chính trị của công dân và đảm bảo thục hiện của Nhà nước. 5. Bảo vệ có hiệu quả các quy phạm Hiến pháp hiện hành về các quyền chính trị của công dân và đảm bảo của Nhà nước về tòa án Hiến pháp trong việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật. 6. Hoàn thành nội dung và hình thức các quy phạm Hiến pháp hiện hành về các quyền chính trị của công dân và đảm bảo của Nhà nước. C. KẾT LUẬN Quyền chính trị của nhân dân được Nhà nước rất coi trọng, quy định trong Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật khác. Nhờ các quyền chính trị mà công dân Việt Nam có thể phát huy vai trò làm chủ của mình và đảm bảo các quyền cơ bản khác được thực hiện. Nhà nước có vai trò đảm bảo cho nhân dân hưởng quyền cơ bản về chính trị cũng như các quyền khác. Ngược lại nhân dân cũng cần thực hiện nghĩa vụ của mình với Nhà nước. Đó là tham gia tốt công việc quản lí Nhà nước, đảm bảo pháp luật được thực hiện nghiêm minh vì một Việt Nam dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh. TÀI LIỆU THAM KHẢO PGS.TS Nguyễn Văn Động, Các quyền hiến định về chính trị của công dân Việt Nam. NXB Tư Pháp Đại học luật Hà Nội, Giáo trình Luật hiến pháp Việt Nam, nxb Công An Nhân Dân, 2015 Hiến pháp năm 2013, NXB Lao Động PGS.TS Hoàng Thế Liên. Hiến pháp 2013 những điểm đổi mới mạng tính đột pháp, nxb Tư Pháp PGS.TS Đinh Văn Mậu. Quyền lực nhà nước và quyền công dân, NXB Tư Pháp. https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%ADnh_tr%E1%BB%8B
Luận văn liên quan