Đề tài Phòng chống trục lợi bảo hiểm phi nhân thọ

Thị trường bảo hiểm nói chung và bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam nói riêng được đánh giá là giàu tiềm năng. Hiện nay, với sự có mặt của gần 30 công ty Bảo hiểm phi nhân thọ đã giúp khách hàng có cơ hội tiếp cận các sản phẩm dịch vụ ngày càng tốt hơn. Cùng với những khó khăn, thách thức như lạm phát tăng cao làm gia tăng chi phí bồi thường cho các doanh nghiệp bảo hiểm, cạnh tranh không lành mạnh, gia tăng chi phí khai thác dịch vụ. Thị trường bảo hiểm càng phát triển thì các hình thức trục lợi bảo hiểm cũng ngày càng đa dạng hơn, thủ đoạn trục lợi bảo hiểm cũng tinh vi hơn theo thời gian và số tiền gian lận trục lợi bảo hiểm cũng ngày càng nhiều hơn. Đây là vấn đề đã diễn ra ở Việt Nam từ rất lâu nhưng thời gian gần đây có xu hướng gia tăng nhiều hơn. Trục lợi bảo hiểm xảy ra sẽ khiến các doanh nghiệp bảo hiểm không những phải chịu thiệt hại lớn về tài chính mà còn bị ảnh hưởng nghiêm trọng về uy tín, thương hiệu và hình ảnh. Trước tình đó, các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam đang cố gắng tìm mọi cách phòng chống các hoạt động trục lợi trong lĩnh vực phi nhân thọ, là lĩnh vực mà thời gian gần đây đã gánh chịu nhiều tổn thất và thiếu các biện pháp khắc phục. Nhận thức được tầm quan trọng của đề tài “Phòng chống trục lợi bảo hiểm phi nhân thọ”, nhóm đã cố gắng tìm hiểu, so sánh, đánh giá và nêu lên một số giải pháp mang tính cấp thiết và khả thi đối với các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ cũng như các cơ quan chủ quản. Do còn có sự hạn chế về kiến thức cũng như nguồn tài liệu liên quan, nhóm không tránh khỏi còn nhiều sai sót trong quá trình thực kiện đề tài. Mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy và các bạn để nhóm hòan thiện bài viết hơn

doc19 trang | Chia sẻ: ducpro | Ngày: 18/10/2012 | Lượt xem: 1499 | Lượt tải: 14download
Tóm tắt tài liệu Đề tài Phòng chống trục lợi bảo hiểm phi nhân thọ, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
BẢN ĐÁNH GIÁ HOÀN THÀNH CÔNG VIỆC I. Bản phân công : 1. Soạn đề cương : Ngọc Ánh (nhóm trưởng), Quyền bổ sung. 2. Tìm tài liệu : Cả nhóm 3. Viết bài : Phần I: Ngọc Ánh Phần II: Ngọc Ánh và Thùy Linh Phần III: 1 – 2 : Văn Vương và Thùy Linh 3. Cẩm Quyền và Ngọc Hạnh Phần IV: Cả nhóm 4. Tổng hợp nội dung và chỉnh sửa : Ngọc Ánh và Thùy Linh II. Đánh giá mức độ hoàn thành : - Các thành viên đều tham gia đầy đủ các buổi thảo luận nhóm, đưa ra ý kiến cá nhân. - Hòan thành đúng tiến độ và có tinh thần trách nhiệm cao. - Bài viết có tìm tòi và đầu tư, trên cơ sở trao đổi và bàn bạc giữa các thành viên. III. Kết luận : Các bạn trong nhóm đều làm tốt vai trò của mình đối với phần được phân công và đóng góp cho bài viết chung của nhóm trên tinh thần và trách nhiệm cao. Người lập Nguyễn Thị Ngọc Ánh Danh sách nhóm lớp NH7 – k34: 1. Nguyễn Thị Ngọc Ánh 02 2. Nguyễn Thị Ngọc Hạnh 09 3. Nguyễn Thùy Linh 17 4. Tô Cẩm Quyền 28 5. Lê Văn Vương 44 MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU trang 3 I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ trang 4 1. Định nghĩa trang 4 2. Phân loại các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ trang 4 3. Tính đặc trưng riêng của bảo hiểm phi nhân thọ trang 5 II. TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ VIỆT NAM TỪ NĂM 2008 ĐẾN NAY trang 5 III. TRỤC LỢI BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ trang 7 1. Nhận diện hành vi trục lợi trang 7 2. Trách nhiệm pháp lý đối với hành vi trục lợi trang 11 3. Công tác phòng chống trục lợi tại các DNBH Việt Nam trang 12 4. Giới thiệu biện pháp phòng chống trục lợi đối với BH xe cơ giới…… trang 14 IV. GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT CỦA NHÓM VỀ PHÒNG CHỐNG TRỤC LỢI BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ trang 16 NGUỒN TÀI LIỆU THAM KHẢO trang 19 Tổng số trang nội dung : 15 trang LỜI MỞ ĐẦU Thị trường bảo hiểm nói chung và bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam nói riêng được đánh giá là giàu tiềm năng. Hiện nay, với sự có mặt của gần 30 công ty Bảo hiểm phi nhân thọ đã giúp khách hàng có cơ hội tiếp cận các sản phẩm dịch vụ ngày càng tốt hơn. Cùng với những khó khăn, thách thức như lạm phát tăng cao làm gia tăng chi phí bồi thường cho các doanh nghiệp bảo hiểm, cạnh tranh không lành mạnh, gia tăng chi phí khai thác dịch vụ. Thị trường bảo hiểm càng phát triển thì các hình thức trục lợi bảo hiểm cũng ngày càng đa dạng hơn, thủ đoạn trục lợi bảo hiểm cũng tinh vi hơn theo thời gian và số tiền gian lận trục lợi bảo hiểm cũng ngày càng nhiều hơn. Đây là vấn đề đã diễn ra ở Việt Nam từ rất lâu nhưng thời gian gần đây có xu hướng gia tăng nhiều hơn. Trục lợi bảo hiểm xảy ra sẽ khiến các doanh nghiệp bảo hiểm không những phải chịu thiệt hại lớn về tài chính mà còn bị ảnh hưởng nghiêm trọng về uy tín, thương hiệu và hình ảnh. Trước tình đó, các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam đang cố gắng tìm mọi cách phòng chống các hoạt động trục lợi trong lĩnh vực phi nhân thọ, là lĩnh vực mà thời gian gần đây đã gánh chịu nhiều tổn thất và thiếu các biện pháp khắc phục. Nhận thức được tầm quan trọng của đề tài “Phòng chống trục lợi bảo hiểm phi nhân thọ”, nhóm đã cố gắng tìm hiểu, so sánh, đánh giá và nêu lên một số giải pháp mang tính cấp thiết và khả thi đối với các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ cũng như các cơ quan chủ quản. Do còn có sự hạn chế về kiến thức cũng như nguồn tài liệu liên quan, nhóm không tránh khỏi còn nhiều sai sót trong quá trình thực kiện đề tài. Mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy và các bạn để nhóm hòan thiện bài viết hơn. TP.HCM, ngày 12 tháng 09 năm 2011 I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ 1. ĐỊNH NGHĨA : Theo Luật kinh doanh Bảo hiểm số 24/2000/QH10 : Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Bảo hiểm nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết. Bảo hiểm phi nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự và các nghiệp vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ. 2. PHÂN LOẠI CÁC NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ: a. Theo đối tượng bảo hiểm: Chia thành ba nhóm Bảo hiểm tài sản: Là loại hình bảo hiểm mà đối tượng được bảo hiểm là tài sản (cố định hay lưu động) của người được bảo hiểm. Ví dụ, bảo hiểm cho thiệt hại vật chất xe cơ giới, hàng hoá xuất nhập khẩu, … Bảo hiểm trách nhiệm dân sự: Là loại hình bảo hiểm mà đối tượng được bảo hiểm là trách nhiệm dân sự của người được bảo hiểm đối với người thứ ba theo luật dịnh. Ví dụ, BHTNDS chủ xe cơ giới, chủ lao động, BHTN công cộng…. Bảo hiểm con người phi nhân thọ: Là loại hình bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm là sinh mạng, sức khoẻ, khả năng lao động của con người. Đây là loại hình bảo hiểm chỉ liên quan đến rủi ro như : bệnh tật, tai nạn, mất khả năng lao động và cả tử vong. Ví dụ, bảo hiểm tai nạn 24/24, tai nạn hành khách, bảo hiểm khách du lịch… b. Theo tính chất bắt buộc: Bảo hiểm phi nhân thọ bắt buộc: Là những loại bảo hiểm mà pháp luật có qui định về nghĩa vụ tham gia bảo hiểm của các tổ chức, cá nhân có mối quan hệ nhất định với loại đối tượng bắt buộc phải được bảo hiểm. Bảo hiểm bắt buộc chỉ áp dụng với một số loại bảo hiểm nhằm mục đích bảo vệ lợi ích công cộng và an toàn xã hội. Bảo hiểm phi nhân thọ tự nguyện: Là loại hình bảo hiểm mà người tham gia bảo hiểm có toàn quyền lựa chọn theo nhu cầu và ý muốn của bản thân, hợp đồng bảo hiểm được ký kết trên cơ sở tự nguyện giữa người bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm. 3. TÍNH ĐẶC TRƯNG RIÊNG CỦA BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ: a. Mục đích bảo hiểm : Nhằm đáp ứng các qui định về bảo hiểm bắt buộc của luật pháp, các tập quán, các điều kiện cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động nghề nghiệp, và các thông lệ quốc tế. Đây là mục đích được coi là một đặc trưng rất riêng của nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ. b. Sự chênh lệch về giá trị giữa các dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ : Phương pháp đồng bảo hiểm và nhất là tái bảo hiểm được khai thác tối đa trong bảo hiểm phi nhân thọ. Sự phát triển rất mạnh về qui mô, trình độ công nghệ bảo hiểm của thị trường tái bảo hiểm phi nhân thọ phần nào là một hệ quả tất yếu của sự đa dạng về nhu cầu bảo hiểm trong bảo hiểm phi nhân thọ. c. Mức độ ràng buộc về các cam kết trong hợp đồng bảo hiểm : Bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ theo đuổi đến cùng, ngoại trừ lý do rơi vào các tình huống phải chấm dứt hợp đồng bảo hiểm theo qui định của pháp luật. d. Áp dụng kỹ thuật phân chia: Thời hạn các hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ ngắn và có sự khác nhau rõ rệt giữa các nghiệp vụ bảo hiểm. Thông thường thời hạn bảo hiểm của các hợp đồng bảo hiểm thường nằm gọn trong một năm tài chính hoặc kéo dài qua 2 năm tài chính liên tiếp. Điều đáng lưu ý : trách nhiệm bồi thường (hoặc trả tiền bảo hiểm) của DNBH vẫn có thể phát sinh sau thời điểm kết thúc thời hạn bảo hiểm. Trong khi đó, phí bảo hiểm có thể đã thu một lần toàn bộ khi giao kết hợp đồng bảo hiểm hoặc vài kỳ trong thời hạn bảo hiểm. Vì thế, việc quản lý tài chính thu chi các nghiệp vụ phải áp dụng kỹ thuật phân chia. II. TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ VIỆT NAM TỪ NĂM 2008 ĐẾN NAY: Kể từ ngày 1/1/2008, thực hiện cam kết khi gia nhập WTO trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, trên thị trường không có sự phân biệt giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước. Năm 2008, thị trường bảo hiểm phi nhân thọ có thêm 5 doanh nghiệp mới: CTCP Bảo hiểm hàng không (VNI), CTCP Bảo hiểm Hùng Vương (HVI), CT Bảo hiểm Fubon, CT Bảo hiểm SHB-Vinacomin (SVIC), CT Bảo hiểm Mitsui Sumitomo. Tổng số doanh nghiệp Bảo hiểm phi nhân thọ lên tới 27 công ty. Tình hình cạnh tranh thông qua hình thức giảm phí, hạ mức khấu trừ, mở rộng điều kiện bảo hiểm vẫn không có dấu hiệu giảm bớt, đặc biệt là các nghiệp vụ BH hàng hóa xuất nhập khẩu, cháy xây dựng-lắp đặt, xe cơ giới. Trận mưa lũ lịch sử tại Hà Nội đầu tháng 11 năm 2008 đã làm thiệt hại nặng nề cho ngành bảo hiểm. Số tiền bồi thường cho các tổn thất về tài sản (chủ yếu là ôtô) ước tính lên tới 70-80 tỷ VNĐ. Tính đến cuối năm 2009, thị trường bảo hiểm phi nhân thọ có 28 doanh nghiệp, trong đó 1 công ty được thành lập trong năm là CTCP Bảo hiểm Thái Sơn. Do những khó khăn chung của nền kinh tế năm 2009, tốc độ tăng trưởng của thị trường phi nhân thọ có thấp hơn năm trước nhưng vẫn ở mức tương đối ổn định là 21% so với năm 2008. Tình hình tổn thất trong năm 2009 tiếp tục diễn biến theo chiều hướng xấu hơn, đặc biệt là đối với các nghiệp vụ BH tài sản, kỹ thuật, thân tàu. Bảo hiểm tài sản ghi nhận một năm có tỷ lệ tổn thất xấu nhất trong thời gian gần đây với nhiều vụ cháy lớn như: nhà máy giấy New Toyo, kho Hoa Việt, kho cà phê công ty Thái Hoa Lâm,….Bảo hiểm kỹ thuật cũng xảy ra nhiều vụ tổn thất lớn như: nhà máy lọc dầu Dung Quất, các dự án thủy điện Huội Quảng, cảng Posco Đà Nẵng,.. do tình trạng tích tụ rủi ro sau một thời gian dài phát triển nóng. Đặc biệt năm 2009 cũng là năm mà tình hình thiên tai bão lũ diễn ra hết sức phức tạp, trong đó 2 cơn bão gây thiệt hại nặng nề nhất cho ngành bảo hiểm là bão số 9-Ketsana (cuối tháng 9) và bão số 11-Miranae (cuối tháng 10). Vấn đề thanh toán bằng ngoại tệ gặp khó khăn do chênh lệch giữa tỷ giá công bố của ngân hàng (thường là tỷ giá để tính phí) và tỷ giá mua bán thực tế trên thị trường. Nguồn cung ngoại tệ để thanh toán phí tái bảo hiểm hoặc bồi thường bảo hiểm vẫn rất hạn chế. Năm 2010, một thay đổi đáng ghi nhận trên thị trường là các doanh nghiệp đã bớt chạy theo tăng trưởng doanh thu mà tập trung vào hiệu quả kinh doanh, thận trọng hơn trong nhận bảo hiểm và đánh giá rủi ro. Cơ quan quản lý nhà nước đã tăng cường các hoạt động kiểm tra, giám sát và phát hiện xử lý nhiều trường hợp. Một số doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao như PTI 42%, PVI 23.1%, Bảo Việt 19.2%, Bảo Minh 17.7%. Các nghiệp vụ bảo hiểm vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng tương đối cao là BH tài sản 25%, BH dầu khí 25%. Sự phát triển nhanh chóng về số lượng doanh nghiệp dẫn đến nguồn nhân lực vốn đã thiếu hụt ngày càng trở nên khan hiếm. Chi phí khai thác và bồi thường tăng cao, dẫn đến hiệu quả kinh doanh nghiệp vụ thấp. Về tình hình tổn thất, Bảo hiểm tài sản trong năm 2010 tiếp tục gánh chịu nhiều tổn thất lớn: cháy nhà máy dệt Samil (3,2 triệu USD), cháy công ty điện lực Hải Phòng (16 tỷ VNĐ)…Tổn thất hàng hóa có giảm trong năm, nhưng tổn thất thân tàu vẫn rất xấu: chỉ trong 2 tháng cuối năm đã có 8 vụ tổn thất lớn, trong đó có 4 vụ đặc biệt lớn. Trong năm 2010, những trận mưa lũ lịch sử tại miền Trung trong tháng 10 cũng đã gây thiệt hại hết sức nặng nề, đã xuất hiện những khiếu nại bảo hiểm lớn như thiệt hại tại nhà máy thủy điện Hố Hô (ước 12 tỷ VNĐ), khu nghỉ mát Động Thiên Đường (ước thiệt hại 29 tỷ VNĐ).  III. TRỤC LỢI BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ 1. NHẬN DIỆN HÀNH VI TRỤC LỢI: a. Định nghĩa: Trục lợi bảo hiểm là hành động phạm pháp của bất cứ người nào biết và có ý định trục lợi, nhằm mục đích chiếm đoạt các tài sản khác, hoặc hành động tiếp tay, âm mưu trục lợi, hoặc xúi giục người khác trục lợi, …  Trục lợi bảo hiểm phi nhân thọ là hành vi cố ý gian dối, lừa đảo có thể có chủ ý ngay từ khi tham gia bảo hiểm hoặc phát sinh sau khi đã xảy ra rủi ro nhằm chiếm đoạt một số tiền từ doanh nghiệp bảo hiểm mà đáng lý ra họ không được hưởng. Các hình thức trục lợi bảo hiểm có thể tóm tắt dưới 3 dạng: Trục lợi bồi thường Trục lợi phí bảo hiểm Trục lợi của nhà cung cấp dịch vụ.  Mỗi nghiệp vụ bảo hiểm được triển khai đều có những hành vi trục lợi đối với mỗi nghiệp vụ bảo hiểm đó, trục lợi bảo hiểm đối với mỗi nghiệp vụ khác nhau cũng có nét khác nhau. Tuy nhiên, các hình thức trục lợi bảo hiểm tập trung vào: Hợp lý hóa ngày và hiệu lực bảo hiểm. Thay đổi tình tiết vụ án. Tạo hiện trường giả, thay đổi đối tượng bảo hiểm. Khai tăng số tiền tổn thất. Lập hồ sơ khiếu nại nhiều lần. Cố ý gây tai nạn. Trục lợi thông qua bảo hiểm trùng. Gian lận đối với người thứ ba. Cố ý không cung cấp thông tin, cung cấp thông tin sai sự thật hoặc khai báo không trung thực các thông tin liên quan đến tình trạng sức khỏe của bản thân trong hồ sơ yêu cầu bảo hiểm hoặc hồ sơ yêu cầu trả tiền bảo hiểm. Đối tượng tham gia trục lợi: Người ngoài Công ty: Người được bảo hiểm, người thụ hưởng, nhà cung cấp dịch vụ, các nhà quản lý, bên thứ ba. Bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm, người thụ hưởng và người cung cấp dịch vụ thống nhất tăng mức yêu cầu bồi thường. Bên mua bảo hiểm cấu kết với các đại lý hoặc cán bộ của công ty bảo hiểm cung cấp thông tin sai lệch về người được bảo hiểm, đối tượng được bảo hiểm và các khiếu nại đòi bồi thường.  Nội bộ Công ty (Cán bộ của Công ty bảo hiểm, đại lý bảo hiểm): Nộp hoặc chấp nhận các hợp đồng ảo; Chiếm đoạt phí bảo hiểm (không nộp cho doanh nghiệp); Chấp nhận các điều kiện khiếu nại bồi thường ảo và chiếm đoạt số tiền bồi thường, số tiền bảo hiểm dự kiến trả cho khách hàng; Có những quan hệ bất chính với nhà cung cấp dịch vụ như tư vấn, các mối quan hệ có thể dẫn đến các mâu thuẫn về lợi ích. b. Thực trạng trục lợi bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam: Có thể nói rằng, hiện tượng trục lợi, gian lận bảo hiểm là một vấn đề nhức nhối đối với các doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH). Nhiều DNBH phải bỏ ra khá nhiều tiền khắc phục vấn đề trục lợi bảo hiểm, song số vụ gian lận vẫn tăng theo thời gian và hình thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi. Trục lợi bảo hiểm diễn ra ở hầu hết các nghiệp vụ bảo hiểm và ở bất cứ nước nào đã triển khai bảo hiểm thương mại. Ở Việt Nam cũng như ở các nước khác trên thế giới, trục lợi bảo hiểm diến ra cả trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ. Sau hơn 10 năm chính thức được pháp lí hóa (Luật kinh doanh bảo hiểm chính thức được ban hành), hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh Bên cạnh đó, do sự phát triển của nền kinh tế - xã hội nói chung cũng như của ngành bảo hiểm nói riêng, nhu cầu bảo hiểm ngày càng đa dạng, phong phú. Mặc dù Luật Kinh doanh bảo hiểm và các văn bản hướng dẫn thi hành cũng đã có một số quy định cụ thể, đặc biệt là đối với một số khâu dễ phát sinh trục lợi, đồng thời cũng đã quy định về các chế tài xử lí đối với các hành vi vi phạm theo Nghị định 118/2003/NĐ-CP về quy định xử phạt hành chính đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Song, thời gian qua trên thị trường cũng xuất hiện tình trạng một số đối tượng lợi dụng các khe hở của pháp luật và thực tiễn kinh doanh của các DNBH trong xét nhận, bồi thường bảo hiểm và giải quyết các khiếu nại bảo hiểm nhằm thu lợi bất chính, gây thiệt hại về vật chất, uy tín cho các DNBH, xâm phạm đến quyền và lợi ích chính đáng của người tham gia bảo hiểm, đồng thời ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của thị trường bảo hiểm.            Theo số liệu thống kê sơ bộ của 8 DNBH (6 DNBH PNT – Bảo Việt, PVI, PJICO, ABIC, MIC, PTI và 2 DNBH NT – Prudential, Dai-Ichi) thì mấy năm gần dây số lượng trục lợi diễn ra ngày càng nhiều, quy mô ngày càng tăng, số tiền ngày càng lớn và tình trạng trục lợi diễn ra chủ yếu ở nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới (trong bảo hiểm Phi nhân thọ) và bảo hiểm hỗn hợp, bảo hiểm hỗ trợ viện phí và phẫu thuật (trong bảo hiểm Nhân thọ), cụ thể như bảng sau: Bảng số liệu về tình hình trục lợi bảo hiểm ở VN giai đoạn 2007 -2009: Lĩnh vực  Năm 2007  Năm 2008  Năm 2009    Số vụ phát hiện  Số tiền (Tr.đ)  Số vụ phát hiện  Số tiền (Tr.đ)  Số vụ phát hiện  Số tiền (Tr.đ)   PNT  8.095  75.400  10.688  257.988  8.775  86.792   NT  1.207  24.293  4.114  74.296  5.932  145.935   Tổng  9.302  99.693  14.802  332.284  14.707  232.727                                Theo Bản tin thị trường bảo hiểm toàn cầu c. Nguyên nhân và cơ chế trục lợi bảo hiểm: Do những quy định của pháp luật còn chưa thật sự chặt chẽ, tính răn đe chưa cao và thực hiện phát luật chưa nghiêm, thiếu sự kiểm tra, kiểm soát và xử lý, nên nhiều người tham gia bảo hiểm nảy sinh hành vi gian lận, cố tình khai không đúng sự thật hoặc cố ý làm hư hại tài sản bảo hiểm nhằm thu lợi từ bồi thường bảo hiểm hoặc cố tình thay đổi hiện trường theo hướng có lợi cho mình (thường diễn ra trong bảo hiểm tài sản). Khi xảy ra sự cố về tài sản mà nguyên nhân lại không thuộc điều kiện bảo hiểm, họ thường có khuynh hướng khai sai sự thật về nguyên nhân thực sự để được bồi thường, hoặc cố tình đánh đắm tàu thuyền, làm hư hại những tài sản khác để nhận bồi thường bảo hiểm. Ví dụ cách đây không lâu, một chủ tàu sau khi tự đánh đắm tàu đã báo DNBH ở Hà Nội đến để giám định bồi thường. Tuy nhiên, ngay khi có mặt tại hiện trường, cán bộ của DNBH này đã đặt ra nghi vấn: trong điều kiện thời tiết bình thường, không trọng tải…, vì sao con tàu lại đắm? Sau khi lập biên bản vụ việc, DNBH trên đã nhờ công an điều tra vào cuộc. Trong khi thuyền trưởng khai rằng, vào thời điểm con tàu đắm, vị này vẫn đang điều khiển con tàu, thì cơ quan công an lại chứng minh được anh ta đang ở nơi khác và thực hiện nhiều cú điện thoại. Mọi việc bị lật tẩy, phía khách hàng đã phải thừa nhận việc làm gian dối của mình. Do sự thông đồng giữa những người tham gia bảo hiểm với bên thứ ba có liên quan như: y sỹ, bác sỹ, những người làm chứng trong các vụ tổn thất… khai tăng thậm chí là khai khống giá trị thiệt hại. Đây là tình huống khá phổ biến trong bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm tai nạn, bảo hiểm tử vong phi nhân thọ. Nhờ quan hệ quên biết hoặc thỏa thuận “ăn chia” mà bên thứ ba khi đưa ra kết luận về giá trị thiệt hại hay nguyên nhân tai nạn, cố tình cung cấp thông tin sai sự thật có lợi cho người tham gia bảo hiểm. Ví dụ như bác sỹ khi kết luận về thương tật do tai nạn đã cố tình nâng tỷ lệ thương tật. Hay các cơ sở sữa chữa khi làm báo giá cho xe bị tai nạn đã cố tình khai khống hư hại hoặc khai tăng giá trị thiệt hại nhằm gia tăng số tiền nhận được từ DNBH. Gần đây tình trạng các garage ô tô bắt tay khách hàng nhằm đưa giá sữa chữa lên cao đang làm vấn đề làm đau đầu các DNBH. Do lỗi vô tình hay cố ý của các nhân viên bảo hiểm: họ có thể vô tình ghi sai ngày tham gia bảo hiểm trên giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc do thiếu trách nhiệm nên đã không đánh giá đúng được mức độ trầm trọng của rủi ro. Và nghiêm trọng nhất là tình huống bên mua bảo hiểm cấu kết với các đại lý bảo hiểm, các nhân viên của doanh nghiệp bảo hiểm trục lợi. Khá phổ biến là khách hàng mua bảo hiểm cho tài sản sau khi đã xảy ra tai nạn. Bên đại lý hoặc nhân viên DNBH sẽ giúp khách hàng làm giả những chứng từ cần thiết, hoặc lùi thời điểm mua bảo hiểm về trước thời điểm xảy ra tai nạn để khách hàng nhận được tiền bảo hiểm. Ví dụ Vụ việc xảy ra vào tháng 11/2002, lô hàng của Công ty Sông Tiền bị cháy trên đường vận chuyển từ cảng TP.HCM đến cảng Hamburg (Đức). Vài giờ sau khi xảy ra sự cố, Phan Hồng Thu chỉ đạo Trần Văn Trí (nhân viên công ty Sông Tiền) đi mua bảo hiểm tại Chi nhánh PJICO ở TP.HCM. Nguyễn Thị Bích Hợp là người tiếp nhận hồ sơ của Trí. Ngày 26/11/2002, khi trở về Việt Nam sau chuyến công tác, Phan Hồng Thu ký công văn yêu cầu PJICO trả tiền bảo hiểm cho lô hàng bị tổn thất. Biết ý định trục lợi của Thu, Trần Nghĩa Vinh (Tổng Giám đốc PJICO) và Hồ Mạnh Quân (Phó Tổng Giám đốc) đã thỏa thuận sẽ thanh toán 3,8 tỷ đồng bảo hiểm cho lô hàng với điều kiện sẽ được "lại quả" một nửa số này. Cụ thể, Thu đã "có hành vi đưa hối lộ 1,9 tỷ đồng cho Vinh và Quân là tiền Thu đã chiếm đoạt của PJICO ". Qua đó có thể thấy người đứng đầu công ty sông Tiền đã cố tình tạo chứng từ giả, sau đó đòi bồi thường từ DNBH. Đây là hành vi trái với quy định của pháp luật vì theo điều 23 luật Kinh doanh bảo hiểm thì đây là một hợp đồng vô hiệu. Tuy nhiên, khi phát hiện ra việc này, ông Vinh và ông Quân không những không tố giác mà còn chủ động tiếp tay thậm chí là còn đe dọa để đòi “lại quả”. Dưới sự chỉ đạo của hai ông Vinh, Quân và một số nhân viên khác, hồ sơ giám định thi
Luận văn liên quan