Đề tài Quỹ Đầu Tư

Ngày nay có nhiều người nắm trong tay một lượng lớn tiền nhàn rỗi và muốn sinh lời trên khoản tiền đó - họ chính là các nhà đầu tư tương lai. Và để làm được điều này đòi hỏi các nhà đầu tư phải tiến hành khảo sát thực tiễn, thu thập thông tin, tài liệu để tiến hành phân tích từng thông tin cụ thể, lập và quản lý danh mục đầu tư nhằm hạn chế rủi ro, nâng cao hiệu quả vốn đầu tư. Tuy nhiên không phải nhà đầu tư nào cũng có đầy đủ kiến thức và khả năng để thực hiện điều này. Mâu thuẫn giữa nhu cầu đầu tư với khả năng hạn chế về tri thức, thông tin và công nghệ đã được giải quyết bởi sự xuất hiện các quỹ đầu tư . Các quỹ đầu tư được tổ chức dưới dạng một công ty phát hành cổ phần. Các nhà tư vấn được đào tạo chuyên môn về phân tích, đánh giá và nắm bắt thị trường một cách chuyên nghiệp, các nhà quản lý đầu tư quỹ của công ty là người có nhiều kinh nghiệm và mối quan hệ trong thị trường tài chính luôn giám sát chặt chẽ để đưa ra quyết định danh mục đầu tư nào là tối ưu nhất. Quá trình hội nhập và phát triển ở Việt Nam cần tăng cường sự chủ động về vốn và phát triển lĩnh vực đầu tư tài chính, ngoài những “công ty con” là ngân hàng, công ty tài chính, các tập đoàn kinh tế phi ngân hàng còn có công ty quản lý quỹ đầu tư và hàng loạt các quỹ đầu tư chứng khoán. Quỹ đầu tư là kênh đầu tư vốn quan trọng cho các nhà đầu tư nhỏ trên thị trường chứng khoán, đặc biệt là thị trường chứng khoán mới nổi đang phát triển như Việt Nam. Chính vì vậy, việc thành lập các quỹ đầu tư sẽ trở thành vấn đề tất yếu để thúc đẩy sự hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam. Quỹ đầu tư là loại hình đầu tư hấp dẫn và có tiềm năng, điều này đã được minh chứng trên thế giới, chính vì vậy trong quá trình hội nhập chúng ta cũng cần quan tâm đúng mức đến vấn đềnày.

doc33 trang | Chia sẻ: lvbuiluyen | Ngày: 06/12/2013 | Lượt xem: 2627 | Lượt tải: 12download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Quỹ Đầu Tư, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Luận văn Đề tài: Quỹ Đầu Tư Mục lục LỜI MỞ ĐẦU Ngày nay có nhiều người nắm trong tay một lượng lớn tiền nhàn rỗi và muốn sinh lời trên khoản tiền đó - họ chính là các nhà đầu tư tương lai. Và để làm được điều này đòi hỏi các nhà đầu tư phải tiến hành khảo sát thực tiễn, thu thập thông tin, tài liệu để tiến hành phân tích từng thông tin cụ thể, lập và quản lý danh mục đầu tư… nhằm hạn chế rủi ro, nâng cao hiệu quả vốn đầu tư. Tuy nhiên không phải nhà đầu tư nào cũng có đầy đủ kiến thức và khả năng để thực hiện điều này. Mâu thuẫn giữa nhu cầu đầu tư với khả năng hạn chế về tri thức, thông tin và công nghệ đã được giải quyết bởi sự xuất hiện các quỹ đầu tư . Các quỹ đầu tư được tổ chức dưới dạng một công ty phát hành cổ phần. Các nhà tư vấn được đào tạo chuyên môn về phân tích, đánh giá và nắm bắt thị trường một cách chuyên nghiệp, các nhà quản lý đầu tư quỹ của công ty là người có nhiều kinh nghiệm và mối quan hệ trong thị trường tài chính luôn giám sát chặt chẽ để đưa ra quyết định danh mục đầu tư nào là tối ưu nhất. Quá trình hội nhập và phát triển ở Việt Nam cần tăng cường sự chủ động về vốn và phát triển lĩnh vực đầu tư tài chính, ngoài những “công ty con” là ngân hàng, công ty tài chính, các tập đoàn kinh tế phi ngân hàng còn có công ty quản lý quỹ đầu tư và hàng loạt các quỹ đầu tư chứng khoán. Quỹ đầu tư là kênh đầu tư vốn quan trọng cho các nhà đầu tư nhỏ trên thị trường chứng khoán, đặc biệt là thị trường chứng khoán mới nổi đang phát triển như Việt Nam. Chính vì vậy, việc thành lập các quỹ đầu tư sẽ trở thành vấn đề tất yếu để thúc đẩy sự hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam. Quỹ đầu tư là loại hình đầu tư hấp dẫn và có tiềm năng, điều này đã được minh chứng trên thế giới, chính vì vậy trong quá trình hội nhập chúng ta cũng cần quan tâm đúng mức đến vấn đềnày. Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN I/ Khái quát chung về quỹ đầu tư: 1. Lịch sử quỹ đầu tư trên thế giới: Ý tưởng tập trung các khoản tiền nhỏ thành một nguồn lớn hơn để đầu tư xuất hiện tại châu Âu vào khoảng giữa thế kỷ XIX, khởi thủy ở Hà Lan, đến nửa cuối thế kỷ XIX thì được du nhập sang Anh. Mặc dù có nguồn gốc từ châu Âu, nhưng nơi các quỹ đầu tư phát triển mạnh mẽ nhất là Hoa Kỳ. Năm 1893, các khoản quyên góp và ủng hộ tài chính xây dựng và phát triển Đại học Harvard tại Hoa Kỳ được ghi nhận như sự xuất hiện một quỹ đầu tư. Ngày 21/3/1894, quỹ tương hỗ đầu tiên chính thức được thành lập bởi ba nhà kinh doanh chứng khoán tại Boston (Hoa Kỳ) có tên gọi “Quỹ Tín thác các nhà đầu tư Massachusetts” (Massachusetts Investors Trust-MIT). Có lẽ, chính những người sáng lập cũng không thể dự báo trước tương lai phát triển phổ biến của loại hình đầu tư này. Sau một năm thành lập, Massachusetts Investors Trust với 50.000 USD ban đầu đã sở hữu khối tài sản trị giá 392.000 USD và thu hút gần 200 nhà đầu tư. MIT tập trungcác cổ phiếu lớn, tăng trưởng nhanh và có trả cổ tức. Danh mục đầu tư của Quỹ gồm các loại cổ phiếu của General Electric Co., Standard Oil Of Indiana (ngày nay là một phần của BP PLC) và American Telephone & Telegraph Co. (AT&T Inc.). Không giống nhiều quỹ đầu tư hoạt động trong thời kỳ này, MIT tránh sử dụng các đòn bẩy tài chính để huy động nguồn đầu tư. Khi thị trường chứng khoán Hoa Kỳ chạm đáy vào năm 1932, nhiều quỹ đầu tư đã gục ngã nhưng MIT vẫn trụ vững và tồn tại cho đến hôm nay, với tên gọi được biết đến rộng rãi MFS Investment Management. Khủng hoảng 1929 làm chậm quá trình tăng trưởng các quỹ đầu tư tương hỗ tại Hoa Kỳ. Luật chứng khoán năm 1933 và Luật Giao dịch chứng khoán năm 1934 được ban hành nhằm khôi phục thị trường. Theo hai đạo luật này, các quỹ đầu tư phải đăng ký hoạt động với Ủy ban SEC (Securities & Exchance Comission) và cung cấp bản báo cáo minh bạch tới các nhà đầu tư tiềm năng. Tới năm 1940, SEC tiếp tục ban hành Luật Công ty đầu tư với các chỉ dẫn pháp lý bắt buộc các quỹ đầu tư phải tuân theo, được áp dụng tới tận ngày nay. Niềm tin được phục hồi trên thị trường chứng khoán và các quỹ tương hỗ bắt đầu nở rộ. Tới cuối thập kỷ 60 của thế kỷ trước, Hoa Kỳ có khoảng 270 quỹ với giá trị tài sản nắm giữ ước tính khoảng 48 tỷ đô-la Mỹ. Năm 1976, John C. Bogle mở quỹ đầu tư chỉ số thị trường đầu tiên, có tên First Index Investment Trust. Vào tháng 11 năm 2000, đây là quỹ tương hỗ có giá trị lớn nhất trong lịch sử với 100 tỷ đô-la Mỹ tài sản. Quỹ này ngày nay có tên gọi Vanguard 500 Index. 10 Quỹ tương hỗ tốt nhất năm 2007 theo bình chọn của MorningStar Thứ tự Quỹ Tăng trưởng 1 Direxion Commodity Bull 2X Inv 87, 6% 2 Direxion Latin America Bull 2X Inv 83, 7% 3 CGM Focus 79, 9% 4 AIM China A 74, 9% 5 Nationwide China Opportunities A 74, 0% 6 Matthews China 70, 1% 7 ProFunds Ultra Emerging Markets 70, 1% 8 T. Rowe Price New Asia 66,4% 9 Guinness Atkinson China & Hong Kong 65, 1% 10 Matthews India 64,1% 2. Khái niệm và chức năng của quỹ đầu tư a. Khái niệm Quỹ đầu tư là một định chế tài chính trung gian phi ngân hàng thu hút tiền nhàn rỗi từ các nguồn khác nhau để đầu tư vào các cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ, hay các loại tài sản khác. Mỗi nhà đầu tư tham gia đầu tư vào quỹ sẽ sở hữu một phần trong tổng danh mục đầu tư của quỹ. Việc nắm giữ này được thể hiện thông qua việc sở hữu các chứng chỉ quỹ đầu tư. b. Chức năng Giảm thiểu rủi ro nhờ đa dạng hóa danh mục đầu tư Tiết kiệm chi phí nhưng vẫn đạt các yêu cầu về lợi nhuận Được quản lý chuyên nghiệp Giám sát chặt chẽ bởi các cơ quan thẩm quyền Tính năng động của quỹ đầu tư. 3. Phân loại quỹ đầu tư: a. Căn cứ vào nguồn vốn huy động: + Quỹ đầu tư tập thể (Quỹ công chúng): Là quỹ huy động vốn bằng cách phát hành rộng rãi ra công chúng. Nhà đầu tư có thể là cá nhân hay pháp nhân nhưng đa phần là các nhà đầu tư riêng lẻ. Quỹ công chúng cung cấp cho các nhà đầu tư nhỏ phương tiện đầu tư đảm bảo đa dạng hóa đầu tư, giảm thiểu rủi ro và chi phí đầu tư thấp với hiệu quả cao do tính chuyên nghiệp của đầu tư mang lại. + Quỹ đầu tư cá nhân (Quỹ thành viên) Quỹ này huy động vốn bằng phương thức phát hành riêng lẻ cho một nhóm nhỏ các nhà đầu tư, có thể được lựa chọn trước, là các cá nhân hay các định chế tài chính hoặc các tập đoàn kinh tế lớn, do vậy tính thanh khoản của quỹ này sẽ thấp hơn quỹ công chúng. Các nhà đầu tư vào các quỹ cá nhân thường với lượng vốn lớn, và đổi lại họ có thể tham gia vào trong việc kiểm soát đầu tư của quỹ. b. Căn cứ vào cấu trúc vận động vốn: + Quỹ đóng Đây là hình thức quỹ phát hành chứng chỉ quỹ một lần duy nhất khi tiến hành huy động vốn cho quỹ và quỹ không thực hiện việc mua lại cổ phiếu/chứng chỉ đầu tư khi nhà đầu tư có nhu cầu bán lại. Nhằm tạo tính thanh khoản cho loại quỹ này, sau khi kết thúc việc huy động vốn (hay đóng quỹ), các chứng chỉ quỹ sẽ được niêm yết trên thị trường chứng khoán. Các nhà đầu tư có thể mua hoặc bán để thu hồi vốn cổ phiếu hoặc chứng chỉ đầu tư của mình thông qua thị trường thứ cấp. Tổng vốn huy động của quỹ cố định và không biến đổi trong suốt thời gian quỹ hoạt động. Hình thức quỹ đóng này mới được áp dụng tại Việt Nam, đó là Quỹ đầu tư VF1 do công ty VFM huy động vốn và quản lý. + Quỹ mở Khác với quỹ đóng, tổng vốn của quỹ mở biến động theo từng ngày giao dịch do tính chất đặc thù của nó là nhà đầu tư được quyền bán lại chứng chỉ quỹ đầu tư cho quỹ, và quỹ phải mua lại các chứng chỉ theo giá trị thuần vào thời điểm giao dịch. Đối với hình thức quỹ này, các giao dịch mua bán chứng chỉ quỹ được thực hiện trực tiếp với công ty quản lý quỹ và các chứng chỉ quỹ không được niêm yết trên thị trường chứng khoán. Do việc đòi hỏi tính thanh khoản cao, hình thức quỹ mở này mới chỉ tồn tại ở các nước có nền kinh tế và thị trường chứng khoán phát triển như Châu Âu, Mỹ, Canada… và chưa có mặt tại Việt Nam. c.Căn cứ vào cơ cấu tổ chức và hoạt động của quỹ: + Quỹ đầu tư dạng công ty Trong mô hình này, quỹ đầu tư là một pháp nhân, tức là một công ty được hình thành theo quy định của pháp luật từng nước. Cơ quan điều hành cao nhất của quỹ là hội đồng quản trị do các cổ đông (nhà đầu tư) bầu ra, nhiệm vụ chính là quản lý toàn bộ hoạt động của quỹ,lựa chọn công ty quản lý quỹ, giám sát hoạt động đầu tư của công ty quản lý quỹ và có quyền thay đổi công ty quản lý quỹ. Trong mô hình này, công ty quản lý quỹ hoạt động như một nhà tư vấn đầu tư, chịu trách nhiệm tiến hành phân tích đầu tư, quản lý danh mục đầu tư và thực hiện các công việc quản trị kinh doanh khác. Mô hình này chưa xuất hiện ở Việt Nam bởi theo quy định của UBCKNN, quỹ đầu tư không có tư cách pháp nhân. + Quỹ đầu tư dạng hợp đồng Đây là mô hình quỹ tín thác đầu tư. Khác với mô hình quỹ đầu tư dạng công ty, mô hình này quỹ đầu tư không phải là pháp nhân. Công ty quản lý quỹ đứng ra thành lập quỹ, tiến hành việc huy động vốn, thực hiện việc đầu tư theo những mục tiêu đã đề ra trong điều lệ quỹ. Bên cạnh đó, ngân hàng giám sát có vai trò bảo quản vốn và các tài sản của quỹ, quan hệ giữa công ty quản lý quỹ và ngân hàng giám sát được thể hiện bằng hợp đồng giám sát trong đó quy định quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên trong việc thực hiện và giám sát việc đầu tư để bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư. Nhà đầu tư là những người góp vốn vào quỹ (nhưng không phải là cổ đông như mô hình quỹ đầu tư dạng công ty) và ủy thác việc đầu tư cho công ty quản lý quỹ để bảo đảm khả năng sinh lợi cao nhất từ khoản vốn đóng góp của họ. 4. Mô hình tổ chức: a. Hội đồng quản trị: là cơ quan đại diện cho các chủ sở hữu của quỹ đầu tư do cổ đông bầu ra, là cơ quan duy nhất có quyền quyết định mọi vấn đề của quỹ. Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm triền khai các chính sách đầu tư, chọn công ty quản lý quỹ và giám sát việc tuân thủ các quyết định đề ra. Theo định kỳ, Hội đồng quản trị của quỹ sẽ họp xem xét, kiểm tra giám sát tình hình điều hành của công ty quản lý quỹ để giải quyết những vấn đề nảy sinh. Chỉ có quỹ dạng công ty mới có hội đồng quản trị. b. Ngân hàng giám sát: thực hiện việc bảo quản, lưu ký tài sản của quỹ đầu tư chứng khoán và giám sát công ty quản lý quỹ nhằm bảo vệ lợi ích của người đầu tư. c. Công ty quản lý quỹ: thực hiện việc quản lý quỹ việc đầu tư theo danh mục đầu tư được nêu trong cáo bạch của quỹ. d. Công ty kiểm toán:thực hiện việc kiểm tra, đánh giá khách quan và chính xác tình hình hoạt động của quỹ đầu tư, bảo đảm sự minh bạch. e. Ban đại diện quỹ: là các thành viên đại diện quỹ do đại hội đồng nhà đầu tư bầu ra và hoạt động theo những nguyên tắc được quy định trong điều lệ quỹ. Ban đại diện quỹ thường được thành lập theo mô hình dạng tín thác. Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC QUỸ ĐẦU TƯ TẠI TP HỒ CHÍ MINH I/ Thực trạng quỹ đầu tư từ năm 2000 đến nay ở Việt Nam: 1. Quỹ đầu tư ở Việt Nam: hình thành và nở rộ Quỹ đầu tư và công ty quản lý quỹ là loại hình kinh doanh còn tương đối mới mẻ tại Việt Nam. Hoạt động của quỹ đầu tư và công ty quản lý quỹ có thể được chia thành hai giai đoạn: Sự hình thành và phát triển của quỹ đầu tư giai đoạn trước và sau năm 2000: Toàn bộ các quỹ đầu tư hoạt động tại Việt Nam trong giai đoạn này đều là các quỹ nước ngoài, không có quỹ do Việt Nam thành lập. Đặc điểm chung trong hoạt động của các quỹ đầu tư nước ngoài trong thời gian này là: Hoạt động dưới hình thức văn phòng đại diện tại Việt Nam theo giấy phép hoạt động do Bộ Thương mại cấp, nhằm nghiên cứu thị trường và tìm kiếm đối tác đầu tư. Các quỹ chủ yếu là đầu tư trực tiếp thông qua các Hợp đồng Liên doanh. Về sau, khi Nhà nước có chủ trương cho phép nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của các doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hoá, một số nhà đầu tư đã tham gia mua cổ phần lần đầu của các doanh nghiệp này. Phần lớn các quỹ đầu tư nước ngoài có Văn phòng đại diện tại Việt Nam là các quỹ đóng, được niêm yết tại một trong những thị trường chứng khoán nước ngoài, và có thời gian hoạt động từ 10 đến 30 năm. Hoạt động của các quỹ trong thời gian này không có hiệu quả, bởi lẽ: Thiếu thông tin và tính minh bạch từ các công ty tiếp nhận vốn đầu tư. Cơ cấu nợ trên vốn chủ sở hữu của các công ty trong nước tương đối cao, do vậy độ rủi ro là tương đối lớn. Không đạt được thoả thuận với các cổ đông trong nước, do các cổ đông này còn xa lạ với các tập quán và thông lệ quốc tế khi đầu tư qua quỹ. Các công ty trong nước thiếu vốn, công nghệ, và hoạt động marketing yếu. Thiếu phương tiện để thu hồi vốn; cơ hội kinh doanh ngày càng bị thu hẹp. Thiếu đội ngũ chuyên gia trong nước. Giai đoạn trước năm 2000: Số lượng quỹ đầu tư và công ty quản lý quỹ còn tương đối ít, các hoạt động của chúng chưa được biết nhiều qua các phương tiện thông tin đại chúng, và kết quả hoạt động kinh doanh cũng như tình hình tài chính chưa được thống kê đầy đủ, công bố một cách chính thức xuất phát từ những khó khăn khách quan về môi trường hoạt động kinh doanh và từ nguyên tắc đầu tư của các quỹ trong thời gian này, cho đến nay phần lớn các quỹ đầu tư đã hết thời gian hoạt động hoặc đã tạm ngừng hoạt động. Một số quỹ đầu tư điển hình trong thời điểm này là: Vietnam Fund (VF): phát hành cổ phiếu gọi vốn vào tháng 9/1991, là quỹ dạng đóng, thời gian hoạt động là 10 năm, quy mô quỹ 51 triệu USD, số tiền đã đầu tư 42 triệu USD, đăng ký niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán Ireland. Công ty quản lý quỹ là Vietnam Fund Management Ltd., đã đầu tư vào 11 dự án và thu hồi vốn hai lần. Vietnam Frontier Fund (VFF): phát hành cổ phiếu gọi vốn vào tháng 10/1994, là quỹ dạng đóng, quy mô vốn của quỹ 50 triệu USD, số tiền đã đầu tư 30 triệu USD, thời gian hoạt động 10 năm, niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán Dublin – Ireland. Công ty quản lý quỹ là: Finansa, quỹ đã đầu tư vào 9 dự án, thu hồi vốn 01 lần. Beta Mekong Fund (BMF) và Beta Vietnam Fund (BVF): phát hành cổ phiếu gọi vốn vào tháng 10 và 11 năm 1994, là quỹ dạng đóng, thời gian hoạt động 10 năm, quy mô vốn của quỹ 80 triệu USD, số tiền đưa vào đầu tư là 50 triệu USD, niêm yết tại thị trường chứng khoán Ireland. Công ty quản lý quỹ là: Indochina Asset Management Ltd., Quỹ đã đầu tư vào 17 dự án. Lazard Vietnam Fund (LVF): phát hành cổ phiếu gọi vốn vào tháng 11 năm 1994, số vốn huy động 55 triệu USD, niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Dublin – Ireland. Công ty quản lý quỹ là: Vietnam Vest Ltd. Giai đoạn từ năm 2000 đến nay: Sự ra đời của thị trường giao dịch chứng khoán tập trung đã đánh dấu biến động đáng kể về chất lượng hoạt động của các quỹ đầu tư và công ty quản lý quỹ. Khác với các quỹ đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong những năm 1990, với sự kỳ vọng vào sự ra đời của thị trường chứng khoán ngay sau đó. Song cuối cùng đều không thành công và lần lượt rời khỏi Việt Nam (Vietnam Fund (1991), Beta Vietnam Fund (1994), Vietnam Frontier Fund (1994), Lazard Vietnam Fund (1994), Templeton Vietnam Opportunities Fund (1994)). Các quỹ đầu tư mới, thành lập sau năm 2000 đã tỏ ra thận trọng hơn, có được kinh nghiệm nhiều hơn từ các quỹ đi trước. nếu như các quỹ đầu tư trước năm 2000 thường tìm đến những dự án lớn, doanh nghiệp quy mô với những khoảng đầu tư từ 5 đến 7 triệu Đô-la Mỹ, các quỹ mới hiện nay lập ra mục tiêu rất rõ ràng: Hiệu quả là quyết định không quan trọng quy mô dự án, công ty nhỏ hay lớn. Các quỹ đầu tư nước ngoài điển hình nhất hiện nay gồm: Vietnam Interprise Investment Limited (VEIL): do Dragon Capital quản lý. Quỹ VEIL đã được thành lập tại Việt Nam trước năm 2000, niêm yết trên thị trường chứng khoán Dublin, và có thể được coi là đại diện duy nhất của làn sóng đầu tư gián tiếp lần thứ nhất của các quỹ đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Tiếp đến 2004, Dragon Capital đã cho ra đời Vietnam Growth Fund với số vốn 90 triệu USD. Dragon Capital còn quản lý quỹ đầu tư Vietnam Dragon Fund, với số vốn lên đến 35 triệu USD. Công ty quản lý quỹ Mekong Capital thành lập Mekong Enterprise Fund: đầu tư khoảng 18,5 triệu USD vào các doanh nghiệp cổ phần của Việt Nam ( như công ty nhựa Tân Đại Hưng, công ty trang trí thiết kế nội thất AA, công ty cổ phần tin học Lạc Việt quản lý quỹ Lạc Việt…) Công ty Vina Capital thành lập Vietnam Opportunity Fund (VOF): ngày 11/11/2003, VOF là quỹ đầu tư dạng đóng niêm yết tại thị trường chứng khoán London, với bốn cổ đông chính là Millenium Partners (New York), Deustche Bank Securities, SunWah Group (Hồng Kông) và Pacific Alliance Group. Năm 2004, VOF đã công bố khoảng đầu tư đầu tiên vào công ty kem Kinh Đô. Tháng 3/2006, Vina capital chính thức khai trương quỹ đầu tư bất động sản Vinaland Fund với số tiền mà các nhà đầu tư nước ngoài rót vào quỹ đã lên đến 65 triệu USD vượt mức dự kiến 15 triệu USD. Vina Capital không giấu tham vọng tập trung đầu tư vào cơ sở hạ tầng của Việt Nam. Quỹ đầu tư chứng khoán Phan-xi-păng: do Jadine Matheson Vietnam quản lý, với mức vốn tối thiểu là 07 triệu USD, tối đa là 25 triệu USD. Đây là quỹ đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Công ty quản lý quỹ Vietfund (VFN): Năm 2004, Dragon capital đã liên doanh với Ngân hàng cổ phần thương mại Sài gòn Thương Tín (Sacombank) để thành lập nên quỹ này. Là quỹ đầu tư dạng đóng đầu tiên Việt Nam với quy mô vốn là 300 tỷ đồng. Tháng 11 năm 2004, VF1 đã được phép niêm yết chứng chỉ quỹ tại Trung tâm giao dịch chứng khoán TP. HCM. Quỹ đầu tư Finansa: với số vốn đầu tư 18 triệu USD với những cổ đông chính như Propaco (Pháp) và DIG (Đức), hình thành 8/2005, đã đầu tư thành công vào một số doanh nghiệp vừa và nhỏ. So với các quỹ đầu tư trước thời điểm năm 2000, hoạt động của các quỹ đầu tư nước ngoài trong giai đoạn sau năm 2000 có một đặc điểm khác biệt rất dễ nhận thấy đó là quy mô vốn đầu tư so với quy mô vài chục triệu USD của các quỹ đầu tư trước năm 2000.Các quỹ đầu tư mới thành lập ngoại trừ VEIL, đều có quy mô vốn khoảng từ 10 – 20 triệu USD.Việc huy động thêm vốn đầu tư được tiến hành theo từng giai đoạn. Hoạt đông của các quỹ đầu tư nước ngoài hiện nay trên thị trường chứng khoản Việt Nam có thể được coi là yếu tố quan trọng, đóng vai trò là chất xúc tác cho sự phát triển của thị trường. Việc phục hồi hoạt động giao dịch trên thị trường vào khoảng cuối năm 2003, cho thấy có sự đóng góp rất lớn của các quỹ đầu tư nước ngoài. Sự trỗi dậy và phát triển các quỹ đầu tư nước ngoài đã tạo chất xúc tác khởi động sự phát triển các quỹ đầu tư trong nước. b) Quỹ đầu tư nước ngoài tại Việt Nam: -Công ty quản lý quỹ Quỹ Dragon Capital: công ty quản lý quỹ có thâm niên đầu tư ở Việt Nam, xuất hiện ở Việt Nam từ năm 1995. Công ty hiện đang quản lý 3 quỹ: Vietnam Enterprise Invesment Limited (VEIL), Vietnam Growth Fund (VGF), Vietnam Dragon Fund (VDF). -VEIL: thành lập từ năm 1996 với số vốn 16 triệu USD, quỹ đầu tư vào các lĩnh vực tài chính ngân hàng, bất động sản, cơ sở hạ tầng…, cổ phiếu được niêm yết trên thị trường chứng khoán Dublin, được giao dịch trên thị trường OTC của Luân Đôn, Newyork. -VGF: được thành lập năm 2005 với số vốn huy động lên đến 75 triệu USD, được niêm yết trên thị trường chứng khoán Dublin. -VDF: Dragon Capital cùng với Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín thành lập quỹ đầu tư đầu tiên của Việt Nam, số vốn lên đến trên 100 triệu USD -Công ty quản lý quỹ Mekong Capital: Mekong Capital là công ty quản lý đầu tư tập trung vào Private Equity tại Việt Nam các quỹ do Mekong capital quản lý: Mekong Enterprise Fund, Ltd: là quỹ Private Equity với vốn cam kết là 18,5 triệu đô-la Mỹ, tập trung đầu tư vốn cổ phần vào các công ty tăng trưởng thuộc thế hệ đầu tiên các công ty tư nhân tại Việt Nam. Quỹ đã đầu tư vào 10 công ty trong giai đoạn từ 2003-2005. Mekong Enterprise Fund II, Lt: là quỹ Private Equity với vốn cam kết là 50 triệu đô-la Mỹ, tập trung đầu tư vốn cổ phần vào các công ty tăng trưởng thuộc thế hệ mới các công ty tư nhân tại Việt Nam. Các công ty này thường có mức tăng trưởng nhanh hơn so với các công ty thuộc thế hệ trước. Vietnam Azalea Fund Limited: là quỹ 100 triệu đô-la Mỹ tập trung thực hiện các khoản đầu tư thiểu số vào các phân khúc trước niêm yết và đã niêm yết của thị trường đầu tư private equity. Quỹ nhắm đến các công ty sẽ dẫn đầu Việt Nam trong tương lai, bao gồm các công ty tư nhân và công ty nhà nước cổ phần hóa. -Công ty quản lý quỹ Quỹ Indochina Capital: chủ yếu đầu tư vào bất động sản, c
Luận văn liên quan