Đề tài Tăng cường huy động vốn tại chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn công thương Huế

Theo đề án cơ cấu lại toàn diện hệ thống NHTM đã được Chính phủ phê duyệt vào tháng 10/2001, các NHTM CP sẽ tập trung vào tăng cường năng lực tài chính và quản lý. Ngành ngân hàng cũng đã xây dựng kế hoạch và lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số 663/2003/QĐ-NHNN ngày 26/06/2003. Quá trình này đòi hỏi các ngân hàng Việt Nam nói chung và hệ thống NHTM CP nói riêng phải có tiềm lực mạnh, khả năng huy động vốn dồi dào. Ngân hàng TMCP Sài Gòn công thương được thành lập ngày 16 tháng 10 năm 1987. Đến nay qua hơn 20 năm hoạt động, NHTM CP SGCT đã liên tục kinh doanh có hiệu quả, được ngân hàng Nhà nước đánh giá là một trong những NHTM CP hàng đầu của Việt Nam. Sức cạnh tranh gay gắt của hệ thống ngân hàng đòi hỏi NHTM CP SGCT phải đáp ứng nhu cầu cho vay trên cơ sở cân đối nguồn vốn huy động ngày càng mở rộng, vì vậy, không thể đáp ứng “cầu” tín dụng khi “cung” bị giới hạn từ nguồn vốn huy động. Ngày nay, một ngân hàng biết đến với tốc độ tăng trưởng và sự bền vững trong hoạt động của mình. Nếu một NHTM có nguồn vốn huy động ổn định, công tác sử dụng vốn hợp lý dẫn đến sức tăng trưởng “ấn tượng” sẽ tạo ra bước đột phá cho riêng mình. Đây là yếu tố tạo cho khách hàng sự tin cậy vững vàng vào ngân hàng. Do vậy, những giải pháp tăng cường huy động vốn của ngân hàng luôn mang tính thiết thực và cần đổi mới cho phù hợp với sự biến động hàng giờ của các thành phần trong nền kinh tế. Đề tài “Tăng cường huy động vốn tại chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn công thương Huế” cũng được lựa chọn trên cơ sở thực tiễn trên.

docx53 trang | Chia sẻ: tranhieu.10 | Ngày: 24/07/2018 | Lượt xem: 1617 | Lượt tải: 21download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Tăng cường huy động vốn tại chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn công thương Huế, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Theo đề án cơ cấu lại toàn diện hệ thống NHTM đã được Chính phủ phê duyệt vào tháng 10/2001, các NHTM CP sẽ tập trung vào tăng cường năng lực tài chính và quản lý. Ngành ngân hàng cũng đã xây dựng kế hoạch và lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số 663/2003/QĐ-NHNN ngày 26/06/2003. Quá trình này đòi hỏi các ngân hàng Việt Nam nói chung và hệ thống NHTM CP nói riêng phải có tiềm lực mạnh, khả năng huy động vốn dồi dào. Ngân hàng TMCP Sài Gòn công thương được thành lập ngày 16 tháng 10 năm 1987. Đến nay qua hơn 20 năm hoạt động, NHTM CP SGCT đã liên tục kinh doanh có hiệu quả, được ngân hàng Nhà nước đánh giá là một trong những NHTM CP hàng đầu của Việt Nam. Sức cạnh tranh gay gắt của hệ thống ngân hàng đòi hỏi NHTM CP SGCT phải đáp ứng nhu cầu cho vay trên cơ sở cân đối nguồn vốn huy động ngày càng mở rộng, vì vậy, không thể đáp ứng “cầu” tín dụng khi “cung” bị giới hạn từ nguồn vốn huy động. Ngày nay, một ngân hàng biết đến với tốc độ tăng trưởng và sự bền vững trong hoạt động của mình. Nếu một NHTM có nguồn vốn huy động ổn định, công tác sử dụng vốn hợp lý dẫn đến sức tăng trưởng “ấn tượng” sẽ tạo ra bước đột phá cho riêng mình. Đây là yếu tố tạo cho khách hàng sự tin cậy vững vàng vào ngân hàng. Do vậy, những giải pháp tăng cường huy động vốn của ngân hàng luôn mang tính thiết thực và cần đổi mới cho phù hợp với sự biến động hàng giờ của các thành phần trong nền kinh tế. Đề tài “Tăng cường huy động vốn tại chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn công thương Huế” cũng được lựa chọn trên cơ sở thực tiễn trên. 2. Mục đích nghiên cứu Luận giải cơ sở về huy động vốn của ngân hàng thương mại Phân tích thực tiễn huy động vốn của chi nhánh NHTM CP Sài Gòn Công Thương Thừa Thiên Huế Đề xuất một số biện pháp nhằm tăng cường huy động vốn của chi nhánh NHTM CP Sài Gòn Công Thương Huế 3. Đối tượng nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về hoạt động huy động vốn của ngân hàng và thực tiễn công tác huy động vốn tại chi nhánh NHTM CP Sài Gòn Công Thương Huế. 4. Phạm vi nghiên cứu Đề tài tập trung vào nghiên cứu, phân tích các nội dung liên quan trực tiếp đến hoạt động huy động vốn của chi nhánh NHTM CP Sài Gòn Công Thương Huế trong thời gian từ năm 2006 đến năm 2008. 5. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Là phương pháp tìm hiểu những vấn đề có liên quan đến đề tài nghiên cứu của bản thân thông qua các tài liệu như sách, báo, tạp chí, truyền hình, internet Phương pháp phỏng vấn trực tiếp: Là phương pháp thu thập thông tin bằng văn bản hay bằng lời nói qua việc phỏng vấn những người hiểu biết về ngân hàng nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng. Phương pháp quan sát: Là phương pháp được sử dụng để đánh giá thực trạng hay hoạt động huy động vốn của ngân hàng. Phương pháp so sánh: Là phương pháp dựa vào những số liệu có sẵn để tiến hành so sánh, đối chiếu (về tương đối và tuyệt đối). Phương pháp phân tích: Là phương pháp dựa trên những số liệu sẵn có để tiến hành so sánh, đối chiếu, đánh giá các sự kiện. Từ đó tìm ra cách lý giải, xác định được tính hợp lý của các thông tin về các hoạt động của ngân hàng. Phương pháp tổng hợp: Là phương pháp tổng hợp lại những thông tin đã thu thập được sao cho phù hợp với đề tài nghiên cứu. 6. Kết cấu chuyên đề Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, chuyên đề gồm 3 chương: Chương 1: Hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng huy động vốn tại chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Công Thương Huế Chương 3: Giải pháp tăng cường huy động vốn tại chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Công Thương Huế Chương 1 NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1. Ngân hàng thương mại 1.1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại Pháp lệnh ngân hàng ngày 23/05/1990 của Hội đồng nhà nước xác định: “Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạy động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”. Ngân hàng thương mại được chia làm hai loại: - Ngân hàng thương mại Nhà nước: Là Ngân hàng thương mại được thành lập bằng 100% vốn ngân sách nhà nước. Hiện nay tại Việt Nam có 5 ngân hàng thương mại quốc doanh bao gồm: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam Ngân hàng Công thương Việt Nam Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam Ngân hàng ngoại thương Việt Nam Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long - Ngân hàng thương mại cổ phần: Là ngân hàng thương mại thành lập dưới hình thức công ty cổ phần. Trong đó cá nhân hay pháp nhân chỉ được sở hữu một số cổ phần nhất định theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Một số Ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam là: Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Công Thương (Saigonbank) Ngân hàng Đông Á (EAB) Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) 1.1.2. Một số nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại 1.1.2.1. Huy động vốn Các ngân hàng nhận tiền gửi của tổ chức kinh tế, dân cư, các thành phần khác dưới nhiều hình thức như tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác. Hoạt động huy động vốn của mỗi ngân hàng nhằm mục đích cho vay và kinh doanh. Hoạt động này huy động những khoản vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, thúc đẩy lưu thông tiền tệ. Bản thân nó phản ánh ưu điểm của tài chính trực tiếp là có thể trực tiếp thoả thuận nhưng có nhược điểm là khó phù hợp về quy mô vốn từ đó dẫn đến lãng phí về mặt thời gian và chi phí giao dịch. 1.1.2.2. Cho vay, đầu tư Cho vay thể hiện chức năng trung gian tài chính của NHTM. Đây là hoạt động sơ khai của các ngân hàng: đi vay để cho vay. NHTM sẽ nhận những nguồn vốn dư thừa trong nền kinh tế và tiến hành các hoạt động cho vay đến những thành phần đang thiếu vốn. Có 3 chủ thể tham gia vào hoạt động tín dụng ngân hàng đó là người gửi tiền, người vay tiền và ngân hàng. Người gửi tiền sẽ nhận được khoản lãi nhất định, người vay tiền sẽ có vốn bổ sung cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và ngân hàng là trung gian của cung và cầu vốn gặp nhau. Ngân hàng sẽ nhận được khoản chênh lệch giữa lãi suất cho vay thu được và lãi suất gửi tiền phải trả. Nền kinh tế phát triển đã hình thành nhiều loại hình tín dụng ngân hàng, trong đó phổ biến là cho vay thương mại và cho vay tiêu dùng. Với chức năng trung gian tín dụng, NHTM đã làm phong phú thêm hệ thống kênh dẫn vốn, điều chuyển vốn, tạo lưu thông hàng hoá trong nền kinh tế. Các ngân hàng hiện đại ngày càng trở nên năng động hơn thông qua việc đầu tư vào các dự án. Đây là các khoản tín dụng trung và dài hạn đem lại lợi nhuận cao cho ngân hàng, có thể được chia sẻ rủi ro bởi các nhà đồng tài trợ. Ngoài ra, khi phát sinh những khoản tiền tạm thời nhàn rỗi, ngân hàng có thể gửi vào các tổ chức tín dụng khác hay đầu tư chứng khoán chính phủ nhằm tăng lợi nhuận. 1.1.2.3. Một số dịch vụ khác Kinh doanh, mua bán ngoại tệ: đây là một trong những hoạt động đầu tiên của NHTM: mua hoặc bán đồng tiền nào đó theo yêu cầu của khách hàng (giao dịch ngoai tệ giao ngay – Spot). Ngày nay, hoạt động mua bán ngoại tệ còn được thực hiện thông qua các giao dịch như giao dịch kỳ hạn (forward), giao dịch hoán đổi (swap), giao dịch quyền chọn (options). Bảo lãnh: là sự cam kết của ngân hàng (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) trong trường hợp khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho TCTD số tiền đã được trả thay. Một số hình thức bảo lãnh hiện nay đang được tiến hành: bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, đồng bảo lãnh Mở tài khoản giao dịch, làm trung gian thanh toán: Các ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền cho các doanh nghiệp và cá nhân. Ngân hàng còn tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán sinh lời vào tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán. Ngoài ra, các tiện ích của thanh toán không dùng tiền mặt góp phần rút ngắn thời gian kinh doanh và nâng cao thu nhập cho khách hàng, thông qua các hình thức như: séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, L/C, thẻ ATM Môi giới và đầu tư chứng khoán: ngân hàng sẽ cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các hàng hoá khác trên thị trường chứng khoán. Theo xu hướng hiện nay, các ngân hàng thường tổ chức ra công ty chứng khoán hoặc công ty môi giới chứng khoán để cung cấp dịch vụ môi giới. Những hoạt động này ngày càng phát triển, giúp khách hàng thoả mãn mọi nhu cầu đầu tu chứng khoán. Cho thuê tài sản trung và dài hạn (leasing): hoạt động này được xếp vào hình thức tín dụng trung và dài hạn. Ngân hàng sẽ cho khách hàng kinh doanh quyền lựa chọn mua các thiết bị cần thiết thông qua hợp đồng thuê mua với điều kiện khách hàng phải trã từ trên 70% giá trị tài sản thuê. Dịch vụ uỷ thác và tư vấn, bảo quản tài sản: lưu giữ tài sản, giấy tờ có giá của khách hàng trong két. Ngân hàng thường giữ hộ những tài sản này theo nguyên tắc an toàn, bí mật, thuận tiện. Trên cơ sở những kinh nghiệm về quản lý tài chính, ngân hàng sẵn sàng đứng ra bảo quản tài sản và quản lý hoạt động tài chính khi được sự uỷ thác của cá nhân hoặc doanh nghiệp. Theo đó, ngân hàng sẽ được hưởng khoản thu nhập tuỳ thuộc quy mô tài sản hoặc vốn của khách hàng. Các ngân hàng hoạt động đa năng hiện nay còn là nơi tư vấn cho các tổ chức, các cá nhân có nhu cầu quản lý tài chính, thành lập, mua bán, sáp nhập doanh nghiệp. Cung cấp dịch vụ bảo hiểm: hoạt động này làm giảm một phần tổn thất khi có rủi ro với khách hàng. Các ngân hàng thường bảo hiểm cho khách hàng thông qua các thoả thuận đại lý kinh doanh bảo hiểm độc quyền. Khoản hoa hồng đại lý bảo hiểm cũng được tính vào thu nhập của ngân hàng. Tóm lại, danh mục các dịch vụ do ngân hàng tạo ra sự thuận lợi rất lớn cho khách hàng. Đây cũng chính là những yếu tố làm nên sự cạnh tranh gay gắt trong hệ thống ngân hàng hiện đại. 1.1.3. Vai trò của ngân hàng thương mại Với xuất phát điểm thấp, trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn đặc biệt là nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh là rất lớn. Các chủ thể tham gia vào nền kinh tế đòi hỏi sự cung ứng vốn từ quy mô nhỏ đến lớn, từ ngắn hạn đến dài hạn. Hiện nay, vốn của nền kinh tế được đáp ứng từ 3 nguồn cơ bản sau: Một là, vốn huy động trực tiếp thông qua thị trường chứng khoán Hai là, vốn huy động thông qua trung gian tài chính như ngân hàng, tổ chức tín dụng, bảo hiểm Ba là, vốn cấp từ ngân sách Nhà nước Trong các nguồn hình thành này có thể thấy vốn huy động từ các trung gian tài chính vẫn là công cụ huy động chủ yếu trong điều kiện Việt Nam hiện nay bởi thị trường chứng khoán đang còn trong giai đoạn phát triển sơ khai, vốn ngân sách được ưu tiên đầu tư vào các công trình, dự án trọng điểm, mang tính xã hội cao. 1.1.3.1. Ngân hàng thương mại là trung gian cung ứng vốn cho nền kinh tế Phát huy vai trò cầu nối của mình, NHTM đứng ra huy động các nguồn vốn tiềm ẩn trong nền kinh tế và luân chuyển đến nơi đang cần vốn, giúp quá trình tái sản xuất được đảm bảo diễn ra liên tục, nhịp nhàng, tạo đà cho phát triển kinh tế. Thông qua quá trình này, ngân hàng trở thành nơi tích tụ tập trung vốn, gắn kết quá trình tiết kiệm và đầu tư vốn trong xã hội. 1.1.3.2. Ngân hàng thương mại góp phần nâng cao hiệu quả quản lý doanh nghiệp trong nền kinh tế Một doanh nghiệp bất kỳ khi tham gia vào quan hệ tín dụng với ngân hàng phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định: tiền vay được sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả, chu kỳ sản xuất kinh doanh phải đảm bảo theo đúng tiến độ và hoàn trả cả gốc và lãi đúng hạn, việc đảm bảo tiền vay phải được thực hiện theo đúng quy định của NHNN mà vẫn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Hoạt động thẩm định tiến đến đầu tư dự án của ngân hàng chỉ trên cơ sở doanh ngiệp tìm kiếm được phương án sản xuất tối ưu, bố trí sản xuất hợp lý, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Với vai trò là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường, ngân hàng không chỉ cung ứng lượng vốn thiếu cho các thành phần kinh tế mà còn giúp nhà nước quản lý doanh nghiệp có hiệu quả hơn, di đúng quỹ đạo được định hướng trong cơ chế thị trường. 1.1.3.3. Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính giúp Nhà nước thực thi chính sách tiền tệ Cơ chế hoạt động kinh doanh của ngân hàng là cơ sở để Nhà nước thực thi các chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ. Thông qua hoạt động tín dụng, thanh toán vốn ngân hàng có thể làm thay đổi khối lượng tiền trong lưu thông, tập hợp và phân chia vốn của thị trường một cách hợp lý và có hiệu quả hơn. Đồng thời, Nhà nước cũng có thể nắm bắt các tín hiệu phản hồi của thị trường thông qua ngân hàng từ đó công tác hoạch định chính sách sẽ bám sát thực tế và đem lại các quyết định đúng đắn hơn. 1.1.3.4. Ngân hàng thương mại là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế Ngày nay, một ngân hàng hoạt động đa năng với các nghiệp vụ thanh toán quốc tế, nghiệp vụ hối đoái, bảo lãnh, tài trợ xuất nhập khẩu giúp các doanh nghiệp tham gia vào hội nhập kinh tế quốc tế, tạo điều kiện giao lưu hàng hoá giữa các quốc gia, thúc đẩy thương mại nội địa, tiến tới hoà nhập với nền kinh tế trong khu vực và trên toàn cầu, đưa nền tài chính quốc gia vận động hoà nhịp với nền tài chính quốc tế. 1.2. Nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng thương mại 1.2.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò vốn huy động của ngân hàng thương mại 1.2.1.1. Khái niệm vốn huy động Vốn huy động là giá trị tiền tệ mà các NHTM huy động được trên thị trường thông qua nghiệp vụ tiền gửi, tiền vay và một số nguồn khác. 1.2.1.2. Đặc điểm của vốn huy động Vốn huy động của ngành ngân hàng chiếm tỷ lệ 2/3 tổng nguồn vốn. Đây là nguồn vốn chủ yếu để ngân hàng tiến hành các hoạt động đầu tư và kinh doanh. Vốn huy động nằm trong nguồn vốn nợ của ngân hàng nên có đặc điểm là nguồn vốn đi vay, ngân hàng chỉ có quyến sử dụng, không có quyền sở hữu. Vốn huy động là đối tượng tính dự trữ bắt buộc cao và nộp phí bảo hiểm tiền gửi theo quy định của NHNN. Vốn huy động là nguồn mất chi phi vốn, quyết định tính cạnh tranh của ngân hàng. Hiện nay, vốn huy động có xu hướng gia tăng tính nhạy cảm với lãi suất thị trường đồng nghĩa với việc tăng khả năng ngân hàng phải đối mặt với rủi ro lãi suất. 1.2.1.3. Vai trò của vốn huy động với hoạt động ngân hàng thương mại Vốn huy động hay còn gọi là vốn nợ là nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng. Chất lượng và số lượng của nó ảnh hưởng đến chất lượng và số lượng các khoản cho vay và đầu tư. Mục tiêu của quản lý vốn nợ nhằm vào mục tiêu quản lý chung của ngân hàng là an toàn và sinh lời. Thứ nhất, vốn huy động là phương tiện giúp NHTM tổ chức mọi hoạt động kinh doanh của mình. Hay nói cách khác, vốn huy động được coi là đầu vào sống còn của ngân hàng: đây là nguồn vốn tài chính cơ bản dùng để tài trợ cho các khoản vay, đầu tư tạo lợi nhuận để đảm bảo cho sự phát triển vững mạnh của ngân hàng. Mục tiêu của việc quản lý các khoản nợ là ngân hàng phải cố gắng tìm ra những nguồn tiền có chi phí thấp và phù hợp về kỳ hạn cũng như quy mô. Một cơ cấu vốn phù hợp giúp ngân hàng chủ động trong kế hoạch kinh doanh, đa dạng hoá sản phẩm, phân tán được rủi ro khi sử dụng vốn hiệu quả. Thứ hai, vốn quyết định quy mô tín dụng, khả năng sinh lời cũng như các hoạt động khác của ngân hàng. Đây được xem như là một tất yếu bởi đầu vào quyết định đầu ra, một ngân hàng có lượng vốn với quy mô lớn, sẵn sàng đối phó với những biến động trên thị trường tài chính tiền tệ, tạo lòng tin cho khách hàng, mang lại lợi nhuận lớn cho ngân hàng đó. Thứ ba, vốn huy động quyết định năng lực thanh toán, khả năng chống đỡ rủi ro thanh khoản, đảm bảo uy tín của NHTM trên thị trường. Vốn huy động đảm bảo tính thanh khoản cao, tăng sức cạnh tranh cho ngân hàng. Với xu hướng kinh doanh đa năng, các ngân hàng ngày càng tham gia vào các lĩnh vực khác nhau như: đầu tư chứng khoán, liên doanh góp vốn, đồng tài trợ các dự án giúp ngân hàng phân tán rủi ro trên cơ sở một nguồn vốn huy động dồi dào, thường xuyên, liên tục. Thứ tư, vốn huy động quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Năng lực cạnh tranh của một ngân hàng được quyết định bởi quy mô vốn, quy mô tín dụng. Theo quy luật kinh tế thị trường, những tổ chức hoạt động không hiệu quả, quy mô nhỏ bé tất yếu sẽ bị giải thể hoặc sát nhập, không có chỗ đứng trên thị trường. Vì vậy, vốn huy động là một yếu tố giúp cỗ máy lưu thông tiền tệ là ngân hàng vận hành trôi chảy, tạo lợi nhuận, mở rộng quy mô, tăng sức cạnh tranh của ngân hàng với các thành phần kinh tế khác. 1.2.2. Phân loại vốn huy động của ngân hàng thương mại 1.2.2.1. Căn cứ theo hình thức huy động Một trong những mục tiêu của chiến lược về vốn kinh doanh của các ngân hàng là đa dạng hóa loại hình vốn huy động. Nền kinh tế thị trường đã thúc đẩy các thành phần kinh tế tham gia vào sản xuất, kinh doanh, mang lại khoản thặng dư vốn cho các thành viên này. Vì vậy, ngân hàng là trung gian đứng lên tập trung các nguồn vốn đó. Huy động vốn từ các khoản tiền gửi Đây là một nghiệp vụ truyền thống của bất cứ NHTM nào. Tiền gửi là khoản tiền chủ yếu trong tổng nguồn vốn của ngân hàng. Ngân hàng là người giữ hộ và thanh toán tiền khi khách hàng cần rút ra. Trong khoảng thời gian nắm giữ, ngân hàng phải chi trả cho khách hàng một khoản lãi nhất định tuỳ thuộc vào thời hạn gửi tiền. Chính vì tầm quan trọng của nó mà bất cứ ngân hàng nào cũng luôn thay đổi các chính sách huy động tiền gửi linh hoạt và hấp dẫn nhằm thu hút nguồn tiền gửi nhiều nhất. Đặc điểm chung của các nguồn này là ngân hàng phải trả bất cứ lúc nào. Vì vậy, nó luôn phải đối mặt với rủi ro thanh khoản lớn. Các nguồn này là đối tượng phải mua bảo hiểm tiền gửi, là đối tượng để tính dự trữ bát buộc. Các hình thức của tiền gửi bao gồm: Tiền gửi thanh toán: Là khoản tiền gửi mà người gửi tiền vào NHTM với mục đích thanh toán. Chủ tài khoản có quyền phát hành séc hoặc chứng từ khác để chi trả cho bên thứ ba hoặc rút tiền ra bất cứ lúc nào để đáp ứng nhu cầu sử dụng, ngân hàng phải có trách nhiệm thoả mãn nhu cầu đó của khách hàng. Tiền gửi tiết kiệm: là loại tiền gửi của các tầng lớp dân cư trong xã hội với mục đích tích luỹ và hưởng lãi. Loại hình này được chia thành: Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: loại hình tiền gửi này đáp ứng nhu cầu rút ra bất cứ lúc nào của khách hàng, đây cũng là đối tượng tính bảo hiểm tiền gửi. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: là loại tiền gửi tuỳ thuộc vào kỳ hạn gửi mà khách hàng được hưởng một khoản lãi nhất định. Nguồn vốn huy động này chi phí cao hơn so với các nguồn vốn không kỳ hạn nhưng tính thanh khoản kém hơn giúp ngân hàng có thể sử dụng chúng vào hoạt động kinh doanh của mình theo một nguyên tắc: kỳ hạn càng lớn thì chi phí càng đắt. Ngoài ra, còn có một số hình thức tiết kiệm khác, về cơ bản là tiết kiệm có kỳ hạn nhưng cách thức gửi và rút tiền được thay đổi phù hợp với xu hướng chi tiêu của khách hàng. Huy động vốn thông qua phát hành giấy tờ có giá (GTCG) Quyết định 1287/2002/QĐ-NHNN của thống đốc NHNN ban hành trong đó nêu rõ: “Giấy tờ có giá là chứng nhận của tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn trong đó xác định nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các khoản cam kết giữa người bán và người mua” Giấy tờ có giá được phân thành: GTCG ngắn hạn: là GTCG có thời hạn dưới 12 tháng, gồm: kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu và các GTCG khác. GTCG dài hạn: là GTCG có thời hạn trên hoặc bằng 12 tháng, bao gồm: trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi (CDs), các GTCG dài hạn khác. GTCG ghi danh: là GTCG phát hành theo hình thức chứng chỉ hoặc ghi sổ có tên người sở hữu. TCTD phát hành GTCG ghi danh phải mở sổ đăng ký quyền sở hữu và tiến hành đăng ký lại khi khách hàng có yêu cầu chuyển nhượng quyền sở hữu. GTCG vô danh: là GTCG theo hình thức chứng chỉ không ghi tên người sở hữu. GTC
Luận văn liên quan