Đề tài Thực tập tại công ty cổ phần Pin Hà Nội

Đất nước ta đang bước vào một giai đoạn mới, giai đoạn mở cửa, hội nhập với một nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế rất sôi động. Đòi hỏi những nhà quản lý phải không ngừng nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp.Một trong những vấn đề đặt ra cho những nhà quản lý là làm sao cho doanh nghiệp, tổ chức của mình không những tồn tại, đứng vững trong môi trường cạnh tranh gay gắt, nhất là khi chúng ta vừa trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO, mà còn phải phân tích, nghiên cứu để doanh nghiệp, tổ chức của mình ngày càng phát triển hơn nữa về việc mở rộng quy mô sản xuất, về việc chiếm lĩnh thị phần trong môi trường cạnh tranh khốc liệt này. Vì vậy, các chính sách kinh tế thay đổi theo hướng tạo điều kiện cho các chủ thể kinh tế phát triển. Chính sách cổ phần hóa doanh nghiệp của nhà nước nhằm tạo điều kiện trong việc tăng vốn, nâng cao hiệu quả, khả năng hoạt động của doanh nghiệp. Trong xu thế chung của đất nước, công ty cổ phần Pin Hà Nội cũng đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ, góp phần vào sự phát triển chung của đất nước. Sản phẩm của nhà máy không ngừng nâng cao về chất lượng và đa dạng hóa về chủng loại, xứng đáng là người đi tiên phong trong lĩnh vực về năng lượng hóa chất. Nhận thấy tầm quan trọng của ngành công nghiệp năng lượng hóa chất nói chung và ngành công sản xuất pin nói riêng nên em đã tham gia thực tập tại công ty cổ phần Pin Hà Nội để có thể hiểu rõ hơn về ngành này.

doc30 trang | Chia sẻ: lvbuiluyen | Ngày: 03/01/2013 | Lượt xem: 1966 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Thực tập tại công ty cổ phần Pin Hà Nội, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI MỞ ĐẦU Đất nước ta đang bước vào một giai đoạn mới, giai đoạn mở cửa, hội nhập với một nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế rất sôi động. Đòi hỏi những nhà quản lý phải không ngừng nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp.Một trong những vấn đề đặt ra cho những nhà quản lý là làm sao cho doanh nghiệp, tổ chức của mình không những tồn tại, đứng vững trong môi trường cạnh tranh gay gắt, nhất là khi chúng ta vừa trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO, mà còn phải phân tích, nghiên cứu để doanh nghiệp, tổ chức của mình ngày càng phát triển hơn nữa về việc mở rộng quy mô sản xuất, về việc chiếm lĩnh thị phần trong môi trường cạnh tranh khốc liệt này. Vì vậy, các chính sách kinh tế thay đổi theo hướng tạo điều kiện cho các chủ thể kinh tế phát triển. Chính sách cổ phần hóa doanh nghiệp của nhà nước nhằm tạo điều kiện trong việc tăng vốn, nâng cao hiệu quả, khả năng hoạt động của doanh nghiệp. Trong xu thế chung của đất nước, công ty cổ phần Pin Hà Nội cũng đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ, góp phần vào sự phát triển chung của đất nước. Sản phẩm của nhà máy không ngừng nâng cao về chất lượng và đa dạng hóa về chủng loại, xứng đáng là người đi tiên phong trong lĩnh vực về năng lượng hóa chất. Nhận thấy tầm quan trọng của ngành công nghiệp năng lượng hóa chất nói chung và ngành công sản xuất pin nói riêng nên em đã tham gia thực tập tại công ty cổ phần Pin Hà Nội để có thể hiểu rõ hơn về ngành này. Để hoàn thành bài báo cáo tổng hợp này em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo - PGS.TS Bùi Huy Thảo cùng với sự giúp đỡ quý báu của quý công ty. Do hạn chế về thời gian và năng lực nên không tránh khỏi thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô giáo và bạn đọc. NỘI DUNG I _ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP : Công ty cổ phần Pin Hà Nội được thành lập được hơn 40 năm, trải qua rất nhiều khó khăn, thử thách để có thể đứng vững và ngày càng phát triển như ngày nay. Hiện nay nhà máy là một trong hai nhà sản xuất pin hàng đầu ở Việt Nam, chiếm 42 % thị phần pin thông dụng của cả nước. Nhà máy Pin Văn Điển ( sau là công ty Pin Hà Nội và hiện là Công ty cổ phần Pin Hà Nội ) được xây dựng từ năm 1958 đến tháng 1/1960 trên diện tích 3 hecta tại Thị trấn Văn Điển – Huyện Thanh Trì – Hà Nội. Toàn bộ máy móc thiết bị ban đầu do Trung Quốc giúp đỡ. Thiết kế ban đầu có công suất là 5 triệu chiếc pin /ca/năm, với 200 lao động. Sản phẩm là các loại pin thuộc thế hệ MnO2/NH4Cl/Zn, môi trường điện ly là công nghệ chưng hồ - đây là loại công nghệ cổ điển, lạc hậu. Từ 1/1/1960 Nhà máy chính thức đi vào hoạt động sản xuất theo kế hoạch toàn bộ đầu vào, đầu ra đều do Nhà nước cấp và tiêu thụ. Nhà máy là thành viên thuộc tổng công ty hóa chất Việt Nam. Khi mới thành lập, nhà máy là nhà sản xuất duy nhất ở miền Bắc cung cấp pin cho quân đội và các mục đích khác của nền kinh tế quốc dân. Với chủng loại pin R20S, R40, pin vuông 4,5V và các loại pin tổ hợp phục vụ quốc phòng. Những năm đầu sản xuất, nhà máy có tốc độ tăng trưởng rất cao, vào khoảng 50 % /năm. Đến năm 1965, nhà máy đạt sản lượng 25 triệu chiếc/năm . Sau đó nhà máy cùng với cả nước bước vào cuộc chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mỹ. Trải qua thời kỳ đặc biệt khó khăn, từ năm 1965 đến năm 1973 nhà máy đã phải sơ tán hai lần, ba lần bị địch bắn phá ác liệt, cơ sở vật chất kỹ thuật của nhà máy bị hủy diệt, tàn phá nặng nề. Tuy nhiên với tinh thần quyết tâm và sự nỗ lực của toàn thể nhà máy nên chỉ sau một thời gian ngắn nhà máy đã nhanh chóng được phục hồi và đi vào ổn định. Sản lượng những năm sau chiến tranh đạt 35 triệu chiếc pin /năm. Giai đoạn sau đó, nhà máy đã rơi vào khủng hoảng, bế tắc do nguồn vật tư ngày càng khó khăn, viện trợ cạn kiệt. Cuối những năm 1980 sản lượng chỉ bằng 2/3 so với trước chiến tranh. Đời sống của gần 1000 cán bộ, nhân viên nhà máy bị đe dọa. Năm 1983 Tổng cục hóa chất Việt Nam sát nhập nhà máy pin Xuân Hòa với nhà máy pin Văn Điển. Trong giai đoạn khó khăn như vậy, sự đổi mới trong đường lối, chính sách của Đảng như một luồng sinh khí thổi bùng lên tiềm năng của doanh nghiệp, tạo nên động lực mới giúp doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, chủ động trong sản xuất kinh doanh, từng bước đi lên, khẳng định vị trí của doanh nghiệp trong nền kinh tế. Tháng 7 – 1996 Nhà máy pin Văn Điển đổi tên thành Công ty pin Hà Nội. Từ những năm 1990 đến năm 2000, Công ty Pin Hà Nội đã bắt đầu quá trình đầu tư đổi mới. Đầu tiên là dây chuyền sản xuất pin R20S với công nghệ hồ điện, những năm sau đó là dây chuyền pin tiểu R6P với công nghệ giấy tẩm hồ, dây chuyền R20P vỏ sắt tây. Ngoài các dây chuyền công nghệ đồng bộ, Công ty còn đầu tư các thiết bị quan trọng khác nhằm tăng năng lực sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động và môi trường sản xuất. Đó là thiết bị trộn bột cực dương điều khiển bằng chương trình kỹ thuật số, máy dập ống kẽm với công suất 85 cái/phút. Từ năm 2000 đến năm 2003, Công ty Pin Hà Nội đã đầu tư đổi mới chiều sâu theo hướng công nghệ tẩm hồ hóa cho toàn bộ các sản phẩm chủ yếu như Pin R 20C, Pin R6P và Pin R14C. Công nghệ này thân thiện với môi trường, nâng cao được chất lượng sản phẩm và năng suất lao động. Đây cũng là nguyên nhân chính làm cho sản phẩm pin của Công ty chiếm lĩnh được thị trường nội địa và đang từng bước thâm nhập thị trường khu vực và quốc tế. Nếu như vào đầu thập kỷ 90 công ty chỉ có một công nghệ duy nhất sản xuất pin là công nghệ pin hồ điện thì đến nay công ty còn có các công nghệ khác như : Công nghệ sản xuất pin bằng giấy tẩm hồ Công nghệ sản xuất pin kiềm ( đây là công nghệ hiện đại ) Công nghệ sản xuất giấy tẩm hồ Công nghệ sản xuất pin gói giấy không cuốn chỉ cực dương Nhờ những cải tiến trong sản xuất như vậy mà trong giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2000 sản lượng sản xuất tăng hơn 3 lần, trong khi đó số lượng lao động đã giảm đi một nửa. Mặt bằng nhà xưởng được xây dựng lại và nâng cấp, cơ sở vật chất kỹ thuật ngày càng hoàn thiện hơn. Đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ công nhân viên không ngừng được nâng cao. Từ năm 1993 đến nay sản phẩm pin R20, R6P liên tục được huy chương vàng của hội chợ triển lãm quốc tế hàng công nghiệp Việt Nam. Trong những năm 1999, 2000, 2001 sản phẩm của công ty luôn đứng trong top 100 hàng Việt Nam chất lượng cao. Có thể nói rằng sản phẩm pin “con thỏ” không hề thua kém pin ngoại cùng loại đang lưu thông trên thị trường Việt Nam hiện nay. Tháng 5/2001, Công ty được nhận danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”. Năm 2002, Công ty được cấp chứng chỉ quản lý chất lượng đạt tiêu chuẩn quốc tế ISO 2001 – 2000. Hiện nay, công ty đang làm thủ tục để được cấp chứng chỉ quản lý chất lượng đạt tiêu chuẩn quốc tế ISO 2001 – 2002 lần thứ hai. Từ 1/1/2004 công ty pin Hà Nội chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần pin Hà Nội theo quyết định số 207/2003/QĐ-BCN ngày 03/12/2003 của bộ trưởng bộ Công nghiệp. Tên gọi : Công ty cổ phần Pin Hà Nội Tên tiếng Anh : Ha Noi Batteries Joint Stock company Tên viết tắt : HABACO Địa điểm : Đường quốc lộ 70, thị trấn Văn Điển, Thanh Trì, Hà Nội Điện thoại : 04.8615365, 04.8615364 II_ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN PIN HÀ NỘI Công ty cổ phần pin Hà Nội trực thuộc Tổng công ty Hóa chất Việt Nam – Bộ Công nghiệp, có hình thức sở hữu là công ty cổ phần. Trong giai đoạn đầu khi mới cổ phần hóa, Nhà nước chiếm 51% cổ phần của công ty. Đến cuối năm 2005, Nhà nước chỉ còn chiếm 30% cổ phần. Hiện nay cơ cấu tổ chức của công ty Cổ phần pin Hà Nội được thể hiện bằng sơ đồ sau : 1g 1. Đại hội đồng cổ đông : Đại hội đồng cổ đông là cơ quan quyết định cao nhất của công ty, gồm có : Đại hội đồng cổ đông thành lập Đại hội đồng cổ đông thường niên Đại hội đồng cổ đông bất thường Đại hội đồng cổ đông có quyền quyết định phương hướng phát triển, nhiệm vụ và kế hoạch kinh doanh hàng năm. Quyết định mua bán số TSCĐ có bằng hoặc lớn hơn 50% vốn điều lệ. Đại hội đồng cổ đông có trách nhiệm thảo luận và thông qua báo cáo quyết toán tài chính hàng năm, phương án phân phối và sử dụng lợi nhuận…Bầu và bãi miễn thành viên hội đồng quản trị và các thành viên ban kiểm soát… 2. Hội đồng quản trị : Đứng đầu hội đồng quản trị là chủ tịch hội đồng quản trị, dưới chủ tịch hội đồng quản trị là các ủy viên. Về quyền hạn, hội đồng quản trị nhân danh chủ tịch quyết định các vấn đề liên quan đến sự tồn tại và phát triển của công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đại biểu cổ đông. Quyết định chiến lược phát triển, kế hoạch kinh doanh của công ty. Quyết định phương án đầu tư, các giải pháp phát triển thị trường, công nghệ có giá trị từ 1tỷ đồng trở lên đến dưới 50% vốn điều lệ. Quyết định giá chào bán cổ phiếu, trái phiếu, quyết định huy động vốn. Quyết định quy mô sản xuất, cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ công ty,quyết định việc thành lập hay giải thể công ty con, chi nhánh, xí nghiệp… Các quyền hạn khác được quy định chi tiết trong luật doanh nghiệp và điều lệ của công ty. Về trách nhiệm, hội đồng cổ đông chịu trách nhiệm trước đại hội đồng cổ đông về những vi phạm điều lệ công ty, sai phạm trong quản trị gây thiệt hại cho công ty. 3. Ban kiểm soát : Ban kiểm soát có quyền kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp trong quản lý điều hành hoạt động kinh doanh, trong ghi chép sổ sách kế toán, báo cáo tài chính . Thẩm tra báo cáo tài chính hàng năm của công ty, kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý, điều hành hoạt động của công ty khi xét thấy cần thiết hoặc theo quy định của đại hội đồng cổ đông. 4. Ban điều hành : 4.1. Giám đốc Giám đốc điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày của công ty theo nghị quyết của hội đồng quản trị, điều lệ của công ty và luật doanh nghiệp. Xây dựng, trình hội đồng quản trị phê duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty, tổ chức thực hiện các quyết định của hội động quản trị. Điều hành, lãnh đạo hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty có hiệu quả, góp phần giữ vững vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, thực hiện đúng đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các quy định của Thành ủy, Ủy ban nhân dân Thành phố. Kiến nghị phương án bố trí cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ công ty. Đảm bảo an ninh đoàn kết nội bộ, công nhân viên trong công ty. Có quyền tuyển dụng, thuê và bố trí sử dụng lao động theo định biên đã được hội đồng quản trị duyệt. Khen thưởng, kỷ luật hoặc sa thải đối với người lao động theo quy chế nhân sự do hội đồng quản trị ban hành và phù hợp với pháp luật về lao động. Quyết định lương và phụ cấp (nếu có) đối với người lao động, cán bộ quản lý thuộc thẩm quyền bổ nhiệm của Hội đồng quản trị. Có quyền từ chối thực hiện quyết định của chủ tịch hội đồng quản trị nếu thấy trái pháp luật, trái điều lệ hoặc trái nghị quyết của đại hội đồng , đồng thời phải thông báo ngay cho ban kiểm soát. Được quyết định các biện pháp vượt thẩm quyền của mình trong trương hợp khẩn cấp như thiên tai, địch họa, hỏa hoạn, những sự cố nằm ngoài khả năng kiểm soát và chịu trách nhiệm về các quyết định này đồng thời báo cáo ngay cho chủ tịch hội đồng quản trị. Định kỳ 03 tháng một lần Giám đốc báo cáo mọi hoạt động của công ty với hội đồng quản trị bằng văn bản hoặc dựa vào quyết toán đã được kiểm tra gửi hội đồng quản trị, phân tích rõ và đề xuất các vấn đề cần phải giải quyết để hội đồng quản trị xem xét, quyết định. Chịu trách nhiệm trước hội đồng quản trị về vìệc thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao. 4.2. Phó giám đốc Phó giám đốc do hội đồng quản trị bổ nhiệm ,miễn nhiệm theo đề nghị của giám đốc công ty Phó giám đốc làm việc theo sự phân công nhiệm vụ hoặc ủy quyền của Giám đốc công ty. 4.3. Kế toán trưởng : Kế toán trưởng công ty là người giúp việc Giám đốc về các hoạt động liên quan đến tài chính, tiền tệ và thuế của công ty. Kế toán trưởng chịu trách nhiệm cá nhân trước Giám đốc công ty, Hội đồng quản trị và Pháp luật về kết quả công việc trong thẩm quyền của mình. Kế toán trưởng phải có trình độ chuyên môn phù hợp, nắm vững nghiệp vụ kế toán, không bị xử lý vi phạm kỷ luật về tài chính trước đó. Kế toán trưởng do Giám đốc công ty bổ nhiệm. Kế toán trưởng có thể bị miễn nhiệm hoặc thay đổi theo quyết định của Hội đồng quản trị trên cơ sở đề nghị của Giám đốc công ty phù hợp với quy định của pháp luật. Kế toán trưởng phải thực hiện đúng luật thống kê, luật kế toán và nghiệp vụ kế toán của công ty quy định. 5. Phòng tổ chức, hành chính và phục vụ : 5.1. Nhiệm vụ về tổ chức : Tham mưu cho lãnh đạo về bộ máy quản lý của công ty, gồm hệ thống phòng ban, phân xưởng và các đầu mối khác. Tham mưu cho lãnh đạo về quy hoạch cán bộ. Phòng tổ chức, hành chính và phục vụ thực hiện công tác tuyển dụng lao động trực tiếp sản xuất và lao động gián tiếp mới trên cơ sở tiêu chuẩn của công ty đã đề ra. Quản lý nhân sự và hồ sơ cán bộ công nhân viên; tổng hợp, phân loại, đánh giá chất lượng lao động. Thực hiện giải quyết chính sách chế độ bảo hiểm xã hội Thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản lý và kiến thức chuyên môn nghề nghiệp cho công nhân viên chức theo nhu cầu phát triển của công ty cũng như chế độ nhà nước quy định. Tổ chức công tác nâng cấp, nâng bậc lương cho cán bộ công nhân viên toàn công ty. Thường trực hội đồng kỷ luật của công ty, kiểm tra các tổ chức cá nhân về việc chấp hành kỷ luật lao động, thỏa ước lao động tập thể và các quy định của Giám đốc về bảo vệ, bảo mật, phòng cháy nổ, an toàn cơ quan xí nghiệp. Tham gia các hội nghị do giám đốc chủ trì giải quyết các vấn đề liên quan đến chế độ, chính sách, quyền lợi, nghĩa vụ của người lao động; liên quan đến khen thưởng và kỷ luật. Quản lý hồ sơ xây dựng cơ bản. Thực hiện công tác xây dựng cơ bản. 5.2. Nhiệm vụ hành chính : Quản lý đồ dùng văn phòng, hành chính của toàn công ty. Quản lý con dấu, thiết bị văn phòng và công văn. Mua và phân phối tài liệu bên ngoài, văn phòng phẩm, báo chí và chi phí tài chính. Đánh máy, photo tài liệu cho lãnh đạo công ty. Phục vụ lãnh đạo và các hội nghị. Vệ sinh công cộng. Quản lý, chăm sóc và bảo vệ môi trường công ty. 5.3. Nhiệm vụ phục vụ : Bảo vệ : Bảo vệ tài sản cho công ty, kiểm tra theo dõi hàng hóa, người lao động ra vào công ty, đón và hướng dẫn khách, trông xe cho cán bộ công nhân viên và khách, xây dựng và thực hiện phương án phòng chống cháy nổ trong công ty, đồng thời thực hiện công tác quân sự theo luật và pháp lệnh. Y tế : Quản lý hồ sơ sức khỏe, chăm sóc sức khỏe cho cán bộ công nhân viên trong công ty, thực hiện bảo hiểm y tế và các chính sách khác do pháp luật quy định có liên quan đến người lao động, kiểm tra vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm và vệ sinh phòng dịch, thực hiện báo cáo và chỉ đạo của ngành. Nhà ăn tập thể : Đảm bảo dinh dưỡng và an toàn thực phẩm cho bữa ăn. 6. Phòng kế hoạch – vật tư : 6.1. Bộ phận kế hoạch : 6.1.1. Công tác kế hoạch – thống kê : Trên cơ sở định hướng phát triển của công ty và căn cứ vào các thông tin thu thập từ thị trường, từ khách hàng và từ năng lực sản xuất, xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm của công ty theo đúng quy trình lập kế hoạch sản xuấtQT.751.1. Sau khi kế hoạch được trình duyệt, triển khai kế hoạch đến các đơn vị trong công ty dưới dạng quyết định giao kế hoạch năm cho các đơn vị. Trên cơ sở dự báo tiêu thụ của thị trường, căn cứ kế hoạch năm, lập kế hoạch sản xuất tháng cho phân xưởng. Kiểm tra, đôn đốc, giám sát việc triển khai thực hiện kế hoạch sản xuất cũng như các kế hoạch khác đối với phân xưởng sản xuất và phòng ban liên quan. Cập nhật đối chiếu với thực tế, lập báo cáo thống kê định kỳ theo biểu mẫu đúng thời gian quy định của cơ quan nhà nước, áp dụng kỹ thuật thống kê để phân tích tình hình thực hiện kế hoạch, giúp cho việc đo lường, theo dõi sản phẩm, phân tích, đánh giá tình hình sản xuất được chính xác. Tổng hợp kết quả sản xuất hàng ngày theo tác nghiệp sản xuất để báo cáo lãnh đạo công ty, kể cả các sự cố, tồn tại, vướng mắc đã được khắc phục hay chưa được khắc phục. Phối hợp với các phòng, các phân xưởng kiểm kê sản phẩm tồn kho, bán thành phẩm, phụ kiện, vật tư tại kho cũng như tại các phân xưởng sản xuất…Tổng hợp số liệu báo cáo lãnh đạo theo chu kỳ báo cáo. Tham mưu cho lãnh đạo các phương án tối ưu về tổ chức sản xuất, các biện pháp sử dụng hiệu quả nguồn lực. 6.1.2. Công tác tiền lương : Xây dựng định mức lao động, đơn giá tiền lương của công ty, quyết toán quỹ lương của công ty. Xây dựng định mức lao động, đơn giá tiền lương cho sản xuất và cơ chế thanh toán tiền lương cho quản lý và các đơn vị phục vụ. Chỉ đạo và kiểm tra công tác tổ chức lao động ở các phân xưởng, phòng ban. Tổng hợp, phân tích sử dụng lao động toàn công ty theo tháng, quý, năm. Điều phối lực lượng lao động trực tiếp, phục vụ sản xuất trong công ty đảm bảo hợp lý để phát huy hết khả năng lao động. 6.1.3. Chính sách chế độ : Cụ thể hóa, ban hành các quy định chính, sách chế độ mới để áp dụng thực hiện. Thực hiện các chính sách chế độ cho người lao động, đảm bảo về công tác bảo hiểm lao động. 6.1.4. Quyết toán chi phí sản xuất : Xây dựng định mức tiêu hao vật tư, nguyên nhiên vật liệu cho mỗi loại sản phẩm của công ty. Xây dựng định mức tiêu hao vật tư, nguyên nhiên vật liệu cho các loại sản phẩm. Thường xuyên theo dõi, xử lý, điều chỉnh kịp thời những diễn biến về chi phí sản xuất cũng như khi có thay đổi công nghệ sản xuất hoặc đầu tư mới. 6.2. Bộ phận vật tư : Mua vật tư : Xác định nhu cầu vật tư cho sản xuất và lập kế hoạch mua vật tư. Tổ chức thực hiện thu thập thông tin về các nhà cung ứng vật tư. Đánh giá, phân tích và tham mưu cho giám đốc để lựa chọn và phê duyệt nhà cung ứng. Hoàn thiện hồ sơ cung ứng, lập các đơn hàng, soạn thảo các hợp đồng mua bán vật tư trình giám đốc ký và tổ chức thực hiện các hợp đồng đã ký. Chịu trách nhiệm trước giám đốc về việc mua và giá mua các vật tư không có hợp đồng. Bán nguyên vật liệu, thiết bị, máy móc…theo quyết định của công ty. Quản lý vật tư : Tổ chức tiếp nhận và bảo quản đủ số lượng, đúng về chủng loại về số lượng, kịp thời cho sản xuất, sắp xếp, bảo quản vật tư khoa học theo đúng quy trình bảo quản sản phẩm, đặc biệt chú ý đến trang thiết bị phòng cháy chữa cháy, phòng ngừa các nguy cơ cháy nổ và thiên tai, thực hiện hạch toán vật tư và báo cáo tình hình xuất – nhập – tồn theo quy định của công ty. Xây dựng và tổ chức thực hiện các văn bản pháp quy về công tác quản lý vật tư. 7. Phòng KTCN – MT – KCS : 7.1. Bộ phận kỹ thuật công nghệ : Xây dựng quy trình công nghệ bao gồm thiết kế sản phẩm, các bán thành phẩm, tiêu chuẩn vật tư, nguyên liệu, các bước công nghệ, các bước thực hiện công nghệ để chế tạo sản phẩm và các phụ kiện, các quy định về bảo quản và an toàn hóa chất. Xây dựng cách hướng dẫn, kiểm tra vật tư, nguyên liệu đầu vào. Tổ chức các cuộc nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm, thiết kế và cải tiến nhãn mác, cải tiến bao bì. Kiểm tra chất lượng sản phẩm theo các chế độ kiểm tra đã quy định, đồng thời xây dựng các tiêu chuẩn về chất lượng, về nguyên vật liệu đầu vào và sản phẩm đầu ra. Thực hiện công tác kiểm tra kỹ thuật để phát hiện những sai sót và yếu kém trong quá trình sản xuất, từ đó phân tích để tìm ra nguyên nhân, đề xuất những biện pháp khắc phục và tổ chức công tác phòng ngừa. Áp dụng phương pháp kiểm tra phù hợp theo QT.743.1 như : Kiểm tra trong sản xuất, thống kê và xử lý số liệu kiểm tra. 7.2. Bộ phận môi trường : Có chức năng : Lập kế hoạch, đề xuất các biện pháp bảo vệ môi trường, bảo đảm môi trường vệ sinh công nghiệp, thực hiện nghiêm chỉnh luật môi trường… 7.3. Bộ phận KCS : Đại diện lãnh đạo về chât lượng chịu trách nhiệm trước giám đốc công ty về mọi hoạt động của hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001 – 2000 tại công ty. Đồng thời chịu trách nhiệm về việc lập các kế hoạch và kiểm soát việc thực hiện các kế hoạch về chất lượng. Quản lý m
Luận văn liên quan