Đề tài Thực tiễn áp dụng luật cạnh tranh

Cạnh tranh vốn là một hiện tượng “ xưa như trái đất” trong lịch sử cuộc sống xã hội loài người. Hoạt động cạnh tranh diễn ra khi nhiều người cố gắng đạt được cùng một mục đích. Cạnh tranh xuất hiện trong rất nhiều lĩnh vực của cuộc sống. Cạnh tranh được xem là yếu tố động lực, đảm bảo cho sự vận hành và phát triển của nền kinh tế thị trường. Sự ra đời của Luật Cạnh tranh năm 2005 và một số luật như: Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư đã góp phần tạo lập một môi trường pháp lý lành mạnh và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp . Tuy nhiên theo nhiều kết quả khảo sát, đánh giá thì Luật cạnh tranh chưa thực sự được áp dụng phổ biến trong các doanh nghiệp. Một bộ phận lớn các doanh nghiệp không am hiểu về Luật cạnh tranh, chính vì thế dẫn tới những việc cạnh tranh không lành mạnh gây hậu quả nghiêm trọng . Một khi bản thân mỗi doanh nghiệp lắm rõ được Luật cạnh tranh thì sẽ hạn chế đáng kể những vụ việc cạnh tranh không lành mạnh. Mặt khác doanh nghiệp có thể đưa ra những chiến lược phù hợp, mà vẫn mang tính cạnh tranh cao, góp phần phát triển nền kinh tế thị trường. Với đề tài : “ Thực tiễn áp dụng luật cạnh tranh” em hi vọng có thể chỉ rõ thực tiễn áp dụng luật cạnh tranh trong các doanh nghiệp ở Việt Nam. Góp phần đưa Luật cạnh tranh vào áp dụng phổ biến và phát huy tính tích cực của nó, tạo môi trường pháp lý lành mạnh và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp.

docx28 trang | Chia sẻ: lvbuiluyen | Ngày: 21/11/2013 | Lượt xem: 303 | Lượt tải: 1download
Tóm tắt tài liệu Đề tài Thực tiễn áp dụng luật cạnh tranh, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH TIỂU LUẬN MÔN : QUẢN TRỊ KINH DOANH ĐỀ TÀI : THỰC TIỄN ÁP DỤNG LUẬT CẠNH TRANH GVHD - TIẾN SĨ KHOA HỌC : THẦY ĐẶNG CÔNG TRÁNG SINH VIÊN THỰC HIỆN: MSSV: TP, HỒ CHÍ MINH Tháng 09/ 2012 LỜI CẢM ƠN ! Sau một thời gian tìm hiểu và thu thập tài liệu trong thư viện trường Đại học Công Nghiệp TP Hồ Chí Minh, thông qua các phương tiện thông tin, sự giúp đỡ của Tiến sĩ Khoa học thầy Đặng Công Tráng - giảng viên bộ môn Luật Kinh Doanh, em đã hoàn thành xong đề tài tiểu luận : “ Thực tiễn áp dụng luật cạnh tranh ở Việt Nam ” . Bài tiểu luận thực sự là dấu ấn quan trọng đối với em trong quá trình học tập . Em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới: Thầy Đặng Công Tráng – giảng viên hướng dẫn, thầy đã tận tình chỉ bảo cho chúng em trong suốt quá trình học môn học này cũng như luôn sẵn lòng giải đáp các thắc mắc, hướng dẫn cách thực hiện và chỉ ra những sai sót trong bài tiểu luận của chúng em. Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo môi trường thuận lợi giúp em học tập và nghiên cứu làm tiểu luận. Mặc dù, em đã rất cố gắng nhưng chắc chắn không thể tránh khỏi những sai sót, mong thầy bỏ qua và chúng em hy vọng sẽ nhận được nhiều ý kiến đóng góp của thầy để chúng em rút kinh nghiệm giúp cho những bài tiểu luận lần sau đạt kết quả tốt hơn. Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn ! NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT Chương I: Tổng quan về luật cạnh tranh Khái quát chung về luật cạnh tranh Một số nội dung cơ bản của luật cạnh tranh Vai trò của Luật cạnh Tranh Chương II: Thực tiễn áp dụng luật cạnh tranh trong các doanh nghiệp ở Việt Nam Sơ bộ về việc áp dụng luật cạnh tranh tại Việt Nam Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh Nguyên nhân của việc cạnh tranh không lành mạnh Giải pháp đưa Luật cạnh tranh vào cuộc sống, phát huy tác dụng tích cực cuả nó. Phần: Kết luận – Kiến nghị LỜI MỞ ĐẦU Cạnh tranh vốn là một hiện tượng “ xưa như trái đất” trong lịch sử cuộc sống xã hội loài người. Hoạt động cạnh tranh diễn ra khi nhiều người cố gắng đạt được cùng một mục đích. Cạnh tranh xuất hiện trong rất nhiều lĩnh vực của cuộc sống. Cạnh tranh được xem là yếu tố động lực, đảm bảo cho sự vận hành và phát triển của nền kinh tế thị trường. Sự ra đời của Luật Cạnh tranh năm 2005 và một số luật như: Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư đã góp phần tạo lập một môi trường pháp lý lành mạnh và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp . Tuy nhiên theo nhiều kết quả khảo sát, đánh giá thì Luật cạnh tranh chưa thực sự được áp dụng phổ biến trong các doanh nghiệp. Một bộ phận lớn các doanh nghiệp không am hiểu về Luật cạnh tranh, chính vì thế dẫn tới những việc cạnh tranh không lành mạnh gây hậu quả nghiêm trọng . Một khi bản thân mỗi doanh nghiệp lắm rõ được Luật cạnh tranh thì sẽ hạn chế đáng kể những vụ việc cạnh tranh không lành mạnh. Mặt khác doanh nghiệp có thể đưa ra những chiến lược phù hợp, mà vẫn mang tính cạnh tranh cao, góp phần phát triển nền kinh tế thị trường. Với đề tài : “ Thực tiễn áp dụng luật cạnh tranh” em hi vọng có thể chỉ rõ thực tiễn áp dụng luật cạnh tranh trong các doanh nghiệp ở Việt Nam. Góp phần đưa Luật cạnh tranh vào áp dụng phổ biến và phát huy tính tích cực của nó, tạo môi trường pháp lý lành mạnh và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp. CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ LUẬT CẠNH TRANH Khái quát chung về luật cạnh tranh a/ Khái niệm luật cạnh tranh Luật cạnh tranh là một đạo luật được ban hành nhằm quy định các hành vi cạnh tranh và các hành vi khác liên quan của thương nhân. b/ Lịch sử ra đời của luật cạnh tranh Việt Nam Năng lực cạnh tranh là sức mạnh của doanh nghiệp được thể hiện trên thương trường. Sự tồn tại và sức sống của một doanh nghiệp thể hiện trước hết ở năng lực cạnh tranh. Từng bước vươn lên giành thế chủ động trong quá trình hội nhập, nâng cao năng lực cạnh tranh chính là tiêu chí phấn đấu của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay. Cạnh tranh được thừa nhận là yếu tố đảm bảo duy trì tính năng động và hiệu quả của nền kinh tế. Trong bối cảnh hiện tại của nền kinh tế Việt Nam, cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng đóng vai trò trụ cột, đảm bảo sự vận hành hiệu quả của cơ chế thị trường. Trong nỗ lực tạo lập môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế, ngày 03/12/2004, Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 6 đã thông qua Luật Cạnh tranh số 27/2004/QH11 và Luật này đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2005. Với 6 chương, 123 Điều. Một số nội dung cơ bản của luật cạnh tranh a/ Phạm vi điều chỉnh của luật cạnh tranh. (Điều 1) Luật Cạnh tranh chia các hành vi chịu sự điều chỉnh thành hai nhóm hành vi là hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Đối với nhóm hạn chế cạnh tranh, Luật điều chỉnh 3 dạng hành vi gồm thoả thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung kinh tế. Đối với nhóm cạnh tranh không lành mạnh, Luật điều chỉnh 10 hành vi, gồm chỉ dẫn gây nhầm lẫn, xâm phạm bí mật kinh doanh, ép buộc trong kinh doanh, gièm pha doanh nghiệp khác…và các hành vi khác theo tiêu chí xác định tại khoản 4 Điều 3 của Luật do Chính phủ quy định. b/ Về đối tượng áp dụng của Luật cạnh tranh( điều 2) Luật cạnh tranh áp dụng đối với 2 nhóm đối tượng, gồm tổ chức, cá nhân kinh doanh (doanh nghiệp), kể cả doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích; doanh nghiệp hoạt động trong các ngành, lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước; và doanh nghiệp nước ngoài hoạt động ở Việt Nam và hiệp hội ngành nghề hoạt động ở Việt Nam. Ngoài ra, tại Điều 6, Luật Cạnh tranh cũng quy định các hành vi bị cấm đối với cơ quan quản lý nhà nước. c/ Hành vi hạn chế cạnh tranh Thoả thuận hạn chế cạnh tranh Thoả thuận hạn chế cạnh tranh là thoả thuận giữa các doanh nghiệp, doanh nghiệp với hiệp hội ngành nghề, các hiệp hội ngành nghề, trong hiệp hội ngành nghề, bằng lời nói, văn bản và các hình thức khác, có khả năng làm giảm, ngăn cản, kìm hãm, sai lệch cạnh tranh trên thị trường. Các thoả thuận hạn chế cạnh tranh bao gồm(Điều 8): + Thỏa thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp; + Thoả thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ; + Thoả thuận hạn chế, kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua bán hàng hoá dịch vụ; + Thoả thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư; + Thoả thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng; + Thoả thuận ngăn cản, kìm hãm doanh nghiệp khác tham gia thị trường; + Thoả thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên thoả thuận; + Thông đồng để một hoặc các bên thoả thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ; Các thoả thuận bị cấm tuyệt đối: (Điều 9) + Thông đồng trong đấu thầu; + Thoả thuận ngăn cản doanh nghiệp khác tham gia vào thị trườn;g + Thoả thuận loại khỏi thị trường các doanh nghiệp không nằm trong thoả thuận. Các thoả thuận bị cấm có điều kiện: + Cấm khi tổng thị phần của các doanh nghiệp tham gia thoả thuận >=30% thị phần trên thị trường liên quan (các thoả thuận còn lại). Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường Doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh: (Điều 11) Doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh nếu có thị phần >= 30% trên thị trường có liên quan hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể. Nhóm doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu cùng hành động nhằm gây hạn chế cạnh tranh và thuộc một trong các trường hợp sau: + Hai doanh nghiệp có tổng thị phần từ 50% trở lên trên thị trường liên quan; + Ba doanh nghiệp có tổng thị phần từ 65% trở lên trên thị trường liên quan; + Bốn doanh nghiệp có tổng thị phần từ 75% trở lên trên thị trường có liên quan. Các hành vi bị coi là lạm dụng vị trí thống lĩnh bị cấm (Điều 13) + Bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh; + áp đặt giá mua, bán hàng hoá, dịch vụ bất hợp lý; ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng; + Hạn chế sản xuất, phân phối, giới hạn thị trường, cản trở sự phát triển kỹ thuật làm thiệt hại cho khách hàng; + Áp dụng điều kiện thương mại khác nhau cho những doanh nghiệp khác nhau với những giao dịch như nhau; + áp đặt điều kiện ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ; + Ngăn cản việc tham gia thị trường của đối thủ cạnh tranh. Lạm dụng vị trí độc quyền Doanh nghiệp được coi là có vị trí độc quyền nếu không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hoá, dịch vụ mà doanh nghiệp độc quyền kinh doanh trên thị trường liên quan. Các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền bị cấm: + Các hành vi quy định tại Điều 13 nói trên; + áp đặt các điều kiện bất lợi cho khách hàng; + Lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc huỷ bỏ hợp đồng giao kết mà không có lý do thoả đáng. d/ Trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh - Khiếu nại vụ việc cạnh tranh (Điều 58): Tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại đến cơ quan quản lý cạnh tranh nếu cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm do hành vi vi phạm quy định của Luật cạnh tranh. Bên khiếu nại phải chịu trách nhiệm về tính trung thực của các chứng cứ đã cung cấp cho cơ quan quản lý cạnh tranh. - Thụ lý hồ sơ khiếu nại (Điều 59): Cơ quan quản lý cạnh tranh có trách nhiệm thụ lý hồ sơ khiếu nại. Cơ quan quản lý cạnh tranh có trách nhiệm thông báo cho bên khiếu nại về việc thụ lý hồ sơ trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ. - Điều tra vụ việc cạnh tranh (Mục 4) + Điều tra sơ bộ: Việc điều tra sơ bộ được tiến hành theo quyết định của Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh khi hồ sơ vụ việc khiếu nại được cơ quan quản lý cạnh tranh thụ lý và phát hiện có dấu hiệu vi phạm luật này. Thời hạn điều tra sơ bộ là 30 ngày, kể từ ngày có quyết định điều tra sơ bộ. Kết thúc điều tra sơ bộ, Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh phải ra quyết định đình chỉ điều tra hoặc điều tra chính thức. + Điều tra chính thức: Đối với vụ việc thoả thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền hoặc tập trung kinh tế, nội dung điều tra bao gồm: xác minh thị trường liên quan, xác minh thị phần trên thị trường liên quan đến bên bị điều tra, thu thập và phân tích chứng cứ về hành vi vi phạm. Thời hạn điều tra là 180 ngày, trong trường hợp cần thiết Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh có thể gia hạn nhưng không quá 2 lần, mỗi lần không quá 60 ngày. Đối với các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh, điều tra viên phải xác định căn cứ cho rằng bên bị điều tra đã hoặc đang thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Thời hạn điều tra đối với các vụ việc này là 90 ngày, kể từ ngày có quyết định. Trong trường hợp cần thiết Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh có thể gia hạn nhưng không quá 60 ngày. - Sau khi kết thúc điều tra, Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh chuyển báo cáo điều tra cùng hồ sơ liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh đến Hội đồng cạnh tranh. Nếu có dấu hiệu tội phạm thì chuyển có quan có thẩm quyền để khởi tố vụ án hình sự. - Thành lập Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh: Sau khi nhận được báo cáo điều tra và hồ sơ vụ việc cạnh tranh, Chủ tịch Hội đồng cạnh tranh quyết định thành lập Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh. Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhanạ được hồ sơ phải ra một trong các quyết định: mở phiên điều trần, trả hồ sơ để điều tra bổ sung, đình chỉ giải quyết vụ việc cạnh tranh. - Phiên điều trần được thực hiện đối với các vụ việc cạnh tranh thuộc thẩm quyền giải quyết của Hội đồng cạnh tranh. Phiên điều trần được tổ chức công khai. Trường hợp nội dung điều trần có liên quan đến bí mật quốc gia, bí mật kinh doanh thì phiên điều trần được tổ chức kín. Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh tiến hành thảo luận, bỏ phiếu kín và quyết định theo đa số, sau khi nghe những người tham gia phiên điều trần trình bày ý kiến và tranh luận. e/ Xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh - Các hình thức xử phạt: Mỗi hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh thì cá nhân, tổ chức vi phạm chỉ phải chịu một trong các hình thức xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền. Ngoài ra, tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm, tổ chức, cá nhân vi phạm còn có thể bị áp dụng một hoặc các hình tíưc phạt bổ sung và áp dụng các biện pháp khác để khắc phục hậu quả. - Thẩm quyền xử phạt, xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh: Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, Hội đồng cạnh tranh, cơ quan quản lý cạnh tranh có thẩm quyền xử phạt, xử lý vi phạm theo quy định tại Điều 119. Các cơ quan khác có thẩm quyền xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định về cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. - Thi hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh (Điều 121) + Nếu bên phải thi hành không tự nguyện thi hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh thì bên được thi hành có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền tổ chức thực hiện quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh thuộc phạm vi, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đó. + Trường hợp quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành thì bên được thi hành có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có trụ sở, nơi cư trú hoặc nơi có tài sản của bên phải thi hành tổ chức thực hiện quyết định xử lý vụ việc Vai trò của Luật cạnh Tranh Luật Cạnh tranh được ban hành nhằm: - Kiểm soát các hành vi gây hạn chế cạnh tranh hoặc các hành vi có thể dẫn đến việc gây hạn chế cạnh tranh, đặc biệt khi mở cửa thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế - Bảo vệ quyền kinh doanh chính đáng của các doanh nghiệp, chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh - Tạo lập và duy trì một môi trường kinh doanh bình đẳng Với 6 chương, 123 điều khoản, Luật cạnh tranh là một trong những văn bản luật đồ sộ và có tầm quan trọng đặc biệt trong việc định hướng cho nền kinh tế thị trường đang hình thành và ngày càng phức tạp ở nước ta. Luật cạnh tranh đi vào cuộc sống chắc chắn sẽ góp phần làm cho thị trường ngày càng lành mạnh hơn; những hành vi độc quyền trong kinh doanh gây hậu quả nghiêm trọng cho Nhà nước, cộng đồng và người tiêu dùng sẽ bị hạn chế. Cho đến nay, có thể nói hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về cạnh tranh đã tương đối hoàn thiện, là cơ sở để giúp các doanh nghiệp định hình chiến lược kinh doanh phù hợp với các quy định của pháp luật. CHƯƠNG II THỰC TIỄN ÁP DỤNG LUẬT CẠNH TRANH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM Sơ bộ về việc áp dụng luật cạnh tranh tại Việt Nam Thực tế cho thấy mặc dù Luật Cạnh tranh có hiệu lực đã được hơn 6 năm với những điều luật chặt chẽ và quy định xử phạt được đánh giá là khá "mạnh", song sau hơn 06 năm thực hiện, luật vẫn chưa thực sự có ảnh hưởng lớn với doanh nghiệp, thậm chí nhiều quy định vẫn còn “nằm trên giấy”. Theo đánh giá của các chuyên gia pháp luật thì Luật Cạnh tranh của Việt Nam đã tiếp cận rất gần với pháp luật quốc tế, đủ cơ sở để tạo lập và duy trì môi trường kinh doanh bình đẳng, kiểm soát độc quyền, bảo vệ người tiêu dùng cũng như hội nhập quốc tế. Mặc dù việc thực thi Luật Cạnh tranh sẽ có những tác động trực tiếp đến doanh nghiệp và giúp họ loại bỏ nhiều khó khăn trong quá trình kinh doanh song các doanh nghiệp Việt Nam lại tỏ ra rất thờ ơ với điều này. Thậm chí nhiều doanh nghiệp khi được hỏi còn không biết đến sự tồn tại của Luật Cạnh tranh cũng như cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm thi hành luật này. Theo quy định của Luật Cạnh tranh thì các hình thức xử lý vi phạm Luật Cạnh tranh của chúng ta khá nặng. Mức phạt tiền tối đa lên tới 10% doanh thu của doanh nghiệp vi phạm, ngoài ra còn có hình phạt bổ sung như thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, tước quyền sử dụng giấy phép, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm. Ngoài ra, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh: xâm phạm bí mật kinh doanh, gièm pha doanh nghiệp khác, lạm dụng vị thế độc quyền... sẽ bị ngăn chặn và xử lý nghiêm nhờ Luật. Song dường như các doanh nghiệp vẫn chưa đánh giá đúng mức tầm quan trọng của luật này khiến Luật Cạnh tranh chưa được ứng dụng vào thực tế một cách đúng mức. Trên thực tế nhiều hành vi cạnh tranh không lành mạnh lại không được xử lý dứt điểm. Do đó, một vấn đề mà doanh nghiệp quan tâm là việc thực thi Luật Cạnh tranh có minh bạch, ổn định và không phân biệt đối xử? Đây là cũng là nền tảng cho một nền kinh tế thị trường ổn định vững mạnh. Với 6 chương, 123 điều, Luật Cạnh tranh là một trong những văn bản luật đồ sộ và có tầm quan trọng đặc biệt trong việc định hướng cho nền kinh tế thị trường đang hình thành và ngày càng phát triển ở Việt Nam. Tuy nhiên, số liệu mà bà Đinh Thị Mỹ Loan, Phó chủ tịch Hiệp hội Bán lẻ Việt Nam đưa ra thông qua một cuộc điều tra ở 2.500 doanh nghiệp mới đây cho thấy, có tới gần 2.000 doanh nghiệp trả lời không biết gì về Luật Cạnh tranh, không nhận thức được hành vi hạn chế cạnh tranh trong kinh doanh. Thực tế trong thời gian qua đã xảy ra rất nhiều vụ việc doanh nghiệp vi phạm Luật Cạnh tranh, điển hình như: Vụ Hiệp hội Thép ra nghị quyết ấn định giá bán, vụ Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam thống nhất nâng mức phí bảo hiểm cho tất cả các đối tượng khách hàng, vụ doanh nghiệp cấu kết nâng giá thị trường thuốc tân dược, sữa… nhưng Luật Cạnh tranh mới được áp dụng để xử lý hơn 20 vụ việc về hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hành vi hạn chế cạnh tranh của doanh nghiệp. Trong số đó, chỉ có một vụ việc về hành vi hạn chế cạnh tranh bị xử lý. Ví dụ : Đó là vụ Công ty Cổ phần Xăng dầu hàng không (Vinapco,) lợi dụng vị trí là doanh nghiệp độc quyền bán nhiên liệu máy bay trên thị trường nên đã đơn phương chấm dứt bán hàng cho Công ty Cổ phần PACIFIC AIRKINES (PA) khiến công ty này phải hủy tất cả các chuyến bay trong ngày 1/4/2008. Tuy mức xử phạt khá nhẹ, phạt 0,05% doanh thu của công ty này trong năm 2007 (Luật Cạnh tranh cho phép mức xử phạt tối đa đối với các hành vi vi phạm Luật Cạnh tranh lên tới 10% doanh thu của doanh nghiệp trước năm thực hiện hành vi vi phạm) nhưng cũng đã có những tác động nhất định đến môi trường cạnh tranh tại Việt Nam, tác động đến ý thức tôn trọng pháp luật của doanh nghiệp. Qua vụ việc này, các doanh nghiệp Nhà nước có vị thế độc quyền thấy rằng: Không thể cho phép mình tạo ra một “kiểu” kinh doanh riêng, đứng trên pháp luật. Ông Lê Danh Vĩnh - Thứ trưởng Bộ Công Thương cho rằng: Luật Cạnh tranh chưa thực sự đi vào cuộc sống bởi sự hiểu biết về Luật Cạnh tranh của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, còn nhiều hạn chế do họ thiếu chuyên gia có kiến thức về luật. Hơn nữa, vì chưa nhận thức đúng, nên doanh nghiệp “ngại va chạm”, “ngại can dự vào các vấn đề liên quan đến pháp lý”, dẫn đến việc sử dụng không hiệu quả công cụ Luật Cạnh tranh để bảo vệ quyền lợi của mình. Ông Trần Hữu Huỳnh - Trưởng ban Pháp chế VCCI cho rằng, nhiều khi doanh nghiệp này biết doanh nghiệp khác vi phạm Luật Cạnh tranh, ảnh hưởng đến lợi ích của mình, nhưng đành nhắm mắt cho qua mà không dám khởi kiện. Bởi nếu khởi kiện, họ phải tự thu thập tài liệu, chứng minh các vấn đề liên quan... để chứng minh có các hành vi cạnh tranh không lành mạnh hoặc hạn chế cạnh tranh. Đây là những yêu cầu có thể nói là vượt quá khả năng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Vì để thu thập được các thông tin này từ các cơ quan chức năng là không dễ. Ngoài ra, phí khởi kiện đối với các hoạt động cạnh tranh không lành mạnh là 10 triệu đồng và với các hành vi hạn chế cạnh tranh là 100 triệu đồng - cũng là một vấn đề với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Một điều quan trọng nữa, là doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng không có được niềm tin vào thắng lợi của mình. Điều này là hoàn toàn dễ hiểu khi tính độc lập của các cơ quan như Cục Quản lý Cạnh tranh, Hội đồng Cạnh tranh vẫn chưa rõ ràng, ngay cả tên tuổi của những thành viên trong Hội đồng Cạnh tranh cũng chưa được doanh nghiệp