Đề tài Thực tiễn áp dụng pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay

Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là một chế định quan trọng trong pháp luật HN & GĐ không chỉ trong pháp luật quốc gia mà còn trong pháp luật quốc tế. Pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được cả cộng đồng quốc tế đặc biệt quan tâm vì đó là sự bảo vệ pháp lý rất cần thiết đối với những lợi ích tốt nhất cho trẻ em, những đối tượng không chỉ non nớt về mặt thể chất và trí tuệ mà còn có những hoàn cảnh éo le, mất mát lớn về tình cảm, không được hưởng mái ấm gia đình trên quê hương của mình. Đối với Việt Nam, một đất nước phải gánh chịu hậu quả nặng nề của các cuộc chiến tranh thì việc bảo vệ các quyền cơ bản của trẻ em, trong đó có quyền được làm con nuôi, được chăm sóc nuôi dưỡng đối với những đứa trẻ bất hạnh, là điều luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm và bảo đảm thực hiện. Hiện nay do nhu cầu hội nhập, với chính sách khuyến khích, mở rộng quan hệ đối ngoại với các nước trên thế giới, việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam ngày càng gia tăng, song hiện tượng nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài có những diễn biến đa dạng và phức tạp. Ngoài bản chất và mục đích cao đẹp của việc nuôi con nuôi là nhằm xây dựng mối quan hệ gia đình, thiết lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi với đứa trẻ được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho đứa trẻ có cuộc sống tốt hơn, cũng còn xuất hiện những việc làm phi đạo đức, lợi dụng danh nghĩa cho trẻ em làm con nuôi đÓ thu gom, môi giới, dẫn dắt mua bán trẻ em, nhằm mục đích kiếm lời. Những hiện tượng đó cần khắc phục, pháp luật cần có sự điều chỉnh sát thực, hiệu quả. Pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài còn thiếu những quy đinh để điều chỉnh các quan hệ nuôi con nuôi đầy phức tạp, nhiều biến động và bộc lộ những điểm chưa phù hợp với pháp luật quốc tế. Quy phạm điều chỉnh nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được quy định trong nhiều văn bản nên thiếu đồng bộ và thống nhất, hiệu lực pháp lý không cao, khó áp dụng và tiếp cận trong thực tế. Đòi hỏi của cuộc sống hiện nay là phải có sự sửa đổi, bổ sung để hoàn chỉnh pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu của thực tiễn khách quan. Từ những lý do khách quan về lý luận và thực tiễn trên, em đã suy nghĩ và lựa chọn đề tài “Thực tiễn áp dụng pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay ” làm luận văn tốt nghiệp Đại học.

doc58 trang | Chia sẻ: ngtr9097 | Lượt xem: 2413 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Thực tiễn áp dụng pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài. Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là một chế định quan trọng trong pháp luật HN & GĐ không chỉ trong pháp luật quốc gia mà còn trong pháp luật quốc tế. Pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được cả cộng đồng quốc tế đặc biệt quan tâm vì đó là sự bảo vệ pháp lý rất cần thiết đối với những lợi ích tốt nhất cho trẻ em, những đối tượng không chỉ non nớt về mặt thể chất và trí tuệ mà còn có những hoàn cảnh éo le, mất mát lớn về tình cảm, không được hưởng mái ấm gia đình trên quê hương của mình. Đối với Việt Nam, một đất nước phải gánh chịu hậu quả nặng nề của các cuộc chiến tranh thì việc bảo vệ các quyền cơ bản của trẻ em, trong đó có quyền được làm con nuôi, được chăm sóc nuôi dưỡng đối với những đứa trẻ bất hạnh, là điều luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm và bảo đảm thực hiện. Hiện nay do nhu cầu hội nhập, với chính sách khuyến khích, mở rộng quan hệ đối ngoại với các nước trên thế giới, việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam ngày càng gia tăng, song hiện tượng nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài có những diễn biến đa dạng và phức tạp. Ngoài bản chất và mục đích cao đẹp của việc nuôi con nuôi là nhằm xây dựng mối quan hệ gia đình, thiết lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi với đứa trẻ được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho đứa trẻ có cuộc sống tốt hơn, cũng còn xuất hiện những việc làm phi đạo đức, lợi dụng danh nghĩa cho trẻ em làm con nuôi đÓ thu gom, môi giới, dẫn dắt mua bán trẻ em, nhằm mục đích kiếm lời. Những hiện tượng đó cần khắc phục, pháp luật cần có sự điều chỉnh sát thực, hiệu quả. Pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài còn thiếu những quy đinh để điều chỉnh các quan hệ nuôi con nuôi đầy phức tạp, nhiều biến động và bộc lộ những điểm chưa phù hợp với pháp luật quốc tế. Quy phạm điều chỉnh nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được quy định trong nhiều văn bản nên thiếu đồng bộ và thống nhất, hiệu lực pháp lý không cao, khó áp dụng và tiếp cận trong thực tế. Đòi hỏi của cuộc sống hiện nay là phải có sự sửa đổi, bổ sung để hoàn chỉnh pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu của thực tiễn khách quan. Từ những lý do khách quan về lý luận và thực tiễn trên, em đã suy nghĩ và lựa chọn đề tài “Thực tiễn áp dụng pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay ” làm luận văn tốt nghiệp Đại học. 2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài. + Mục đích nghiên cứu: - Nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. - Làm sáng tỏ thực trạng áp dụng pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay, từ đó đưa ra những kiến nghị góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tó nước ngoài, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn khách quan và nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật hiện hành. + Luận văn giải quyết những nhiệm vụ sau : - Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, tìm hiểu các quy định của pháp luật trong nước và pháp luật quốc tế liên quan đến điều chỉnh việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. - Nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay, làm rõ những mặt thuận lợi và những khó khăn, vướng mắc, tồn tại. - Tìm hiểu những nét đặc thù, thủ tục và vấn đề áp dụng pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài diễn ra ở khu vực biên giới. - Trên cơ sở đó làm rõ sự cần thiết phải sửa đổi bổ sung hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi cho phù hợp với thực tiễn khách quan và tương đồng với pháp luật quốc tế. 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài. + Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực tiễn áp dụng và thực hiện pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay, trên c¬ së nghiªn cøu quy định của pháp luật trong nước và pháp luật quốc tế có liên quan đến lĩnh vực này. + Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật trong việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam trong thêi gian qua (2000-6/2008), bao gồm việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam (cả việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài diễn ra ở khu vực biên giới), và việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được thực hiện tại Việt Nam. Luận văn có sự so sánh đối chiếu với pháp luật nước ngoài (cụ thể là một số nước có liên quan trong việc cho nhận con nuôi). 4. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu. + Cơ sở phương pháp luận để nghiên cứu đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng và tư tưởng Hồ Chí Minh . + Phương pháp nghiên cứu gồm: - Phương pháp lịch sử: Sử dụng để làm rõ sự hình thành và phát triển của pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trong từng thời kỳ lÞch sử. - Phương pháp so sánh, đối chiếu: Thông qua việc so sánh, đối chiếu với pháp luật các nước, đưa ra nh÷ng nhận xét về sự phù hợp và chưa phù hợp của pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế, làm cơ sở cho các kiến nghị về việc hoàn thiện pháp luật trước yêu cầu của thực tiễn khách quan. - Phương pháp phân tích, tổng hợp: Sử dụng để phân tích những tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Qua đó rút ra những khó khăn, tồn tại của hệ thống pháp luật hiện nay về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. 5. Kết cấu cơ bản của luận văn. Luận văn được trình bày theo bố cục gồm ba chương ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo như sau : Chương 1 : Một số vấn đề lý luận chung về pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Chương 2 : Tình hình áp dụng pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay. Chương 3 : Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam hiện nay. CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 1.1 Khái niệm nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Theo quan điểm chung, nuôi con nuôi được hiểu là việc trẻ em đi làm con nuôi ở một gia đình khác trong cùng một nước hay ở nước ngoài, nhằm mục đích xác lập mối quan hệ cha mẹ với con giữa người nuôi và con nuôi với mục đích đảm bảo cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, phù hợp với đạo đức xã hội. Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là một trong các quan hệ Hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Theo quy định tại điểm c khoản 14 Điều 8 luật HN & GĐ năm 2000, thì nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài có thể hiểu là: - Việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; - Việc nuôi con nuôi giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam; - Việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài ở nước ngoài; - Việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài. Như vậy, nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là việc nuôi con nuôi có ít nhất một bên chủ thể là người nước ngoài hoặc việc nuôi con nuôi được xác lập ở nước ngoài và theo pháp luật nước ngoài. Ngoài ra theo khoản 3 Điều 79 Nghị định 68/2002/NĐ-CP và Điều 1 Thông tư 07/2002/TT-BTP cũng được coi là việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài trong trường hợp trẻ em là người không quốc tịch thường trú tại Việt Nam. Khái niệm này đã nêu lên việc xác lập quan hệ giữa cha mẹ và con bằng con đường nuôi dưỡng để phân biệt với việc hình thành quan hệ giữa cha mẹ và con trên cơ sở huyết thống. Nếu như quan hệ giữa cha mẹ đẻ và con đẻ là quan hệ gia đình “huyết thống” được hình thành do việc sinh đẻ, thì quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi là quan hệ “nhân tạo” được xác lập về mặt pháp lý. Một quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài chỉ được xác lập khi có sự tham gia cùng một lúc của hai chủ thể, có khả năng và điều kiện thực hiện các quyền chủ thể tương ứng, đó là “chủ thể nhận nuôi con nuôi” (cha mẹ nuôi) và “chủ thể được nhận làm con nuôi” (con nuôi). 1.2 Ý nghĩa của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Gi¶i ph¸p nu«i con nu«i n­íc ngoµi lµ gi¶i ph¸p cuèi cïng vµ gi¶i ph¸p nµy cã lîi lµ ®em l¹i mét gia ®×nh æn ®Þnh cho trÎ em trong tr­êng hîp kh«ng thÓ t×m ®­îc gia ®×nh thÝch hîp cho trÎ em ngay t¹i n­íc m×nh. ViÖc trÎ em ViÖt Nam lµm con nu«i ng­êi n­íc ngoµi gi¶m g¸nh nÆng cho c¸c c¬ së nu«i d­ìng trÎ em mµ vÉn ®¶m b¶o ®­îc lîi Ých tèt nhÊt cho trÎ; mÆt kh¸c ®iÒu ®ã phï hîp víi chÝnh s¸ch më réng quan hÖ ®èi ngo¹i cña n­íc ta, ®¸p øng nhu cÇu héi nhËp vµ giao l­u quèc tÕ. V× vËy, viÖc nu«i con nu«i cã yÕu tè n­íc ngoµi còng thÓ hiÖn môc ®Ých nh©n ®¹o cao ®Ñp, ®¸p øng nhu cÇu t×nh c¶m cña con ng­êi, dï kh¸c nhau vÒ ng«n ng÷, phong tôc tËp qu¸n… §èi víi b¶n th©n ®øa trÎ, viÖc ®­îc nhËn lµm con nu«i cã ý nghÜa s©u s¾c lµm thay ®æi c¬ b¶n sè phËn cña ®øa trÎ. §øa trÎ ®­îc lµm con nu«i sÏ ®­îc sèng trong m«i tr­êng gia ®×nh thuËn lîi ®Ó ph¸t triÓn hµi hoµ vÒ thÓ chÊt, nh©n c¸ch vµ tinh thÇn víi sù “yªu th­¬ng, th«ng c¶m” trong mét gia ®×nh theo ®óng nghÜa cña nã. §ång thêi viÖc nu«i con nu«i t¹o ®iÒu kiÖn cho trÎ ®­îc nhËn nu«i cã ®iÒu kiÖn sèng tèt h¬n, ®Æc biÖt ®èi víi ®øa trÎ bÞ tµn tËt, khuyÕt tËt, cã bÖnh hiÓm nghÌo cã ®iÒu kiÖn ch÷a trÞ phôc håi chøc n¨ng tèt h¬n. §èi víi ng­êi nhËn nu«i, viÖc nhËn trÎ em ViÖt Nam lµm con nu«i ®em l¹i cho ng­êi nhËn nu«i mét ®øa con phï hîp víi ý chÝ, nguyÖn väng cña m×nh, vµ t¨ng c­êng ®­îc mèi quan hÖ g¾n bã gi÷a hä víi ViÖt Nam. §ã lµ nh÷ng nguyÖn väng chÝnh ®¸ng ®èi víi nh÷ng cÆp vî chång v« sinh, víi nh÷ng ng­êi giµu lßng nh©n ¸i… Nh­ vËy, nu«i con nu«i cã yÕu tè n­íc ngoµi lµ ph­¬ng thøc thùc hiÖn quyÒn lµm cha mÑ, lµm con c¸i mét c¸ch hîp ph¸p, qua ®ã kÕt hîp hµi hoµ lîi Ých cña c¸c bªn: Ng­êi nhËn nu«i vµ ng­êi ®­îc nhËn nu«i. 1.3 Pháp luật điều chỉnh việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. 1.3.1 Một số đặc trưng cơ bản của pháp luật điều chỉnh việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Trong mỗi giai đoạn lịch sử, việc nuôi con nuôi có những đặc điểm riêng, phản ánh các điều kiện về kinh tế xã hội, lịch sử của thời kỳ đó. Pháp luật điều chỉnh nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài có những đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất, về đối tượng điều chỉnh. Đối tượng điều chỉnh của pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài phức tạp bởi yếu tố nước ngoài: Yếu tố nước ngoài khác nhau tùy thuộc vào từng trường hợp khác nhau, có thể là chủ thể, pháp luật áp dụng, sự kiện pháp lý… Việc xác định đúng yếu tố nước ngoài rất quan trọng, nhằm xác định thẩm quyền giải quyết viÖc nu«i con nu«i, gi¶i quyÕt c¸c tranh chấp phát sinh, xác định pháp luật cần áp dụng, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của các bên. Thứ hai, Về phương pháp điều chỉnh, cũng như các quan hệ khác, quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài cũng có hai phương pháp điều chỉnh đó là phương pháp xung đột và phương pháp thực chất. Phương pháp xung đột (hay còn gọi là phương pháp điều chỉnh gián tiếp) là phương pháp sử dụng quy pham xung đột, không trực tiếp quy định quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài này sẽ được điều chỉnh như thế nào, mà chỉ ấn định việc lựa chọn quy định pháp luật nước nào cần được áp dụng để điều chỉnh quan hệ cụ thể đó. Quy phạm xung đột được ghi nhận cả trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia, ví dụ Điều 30 Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Balan quy định “Việc nhËn nuôi con nuôi phải tuân theo pháp luật của nước mà người nhận nuôi là công dân”. Phương pháp thực chất (hay còn gọi là phương pháp điều chỉnh trực tiếp) là phương pháp sử dụng quy phạm thực chất, quy định trực tiếp quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Quy phạm thực chÊt cũng được quy định cả trong pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế. Thứ ba, pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài luôn gắn chặt với chính sách đối ngoại. Vì việc nuôi con nuôi mở rộng không gian lãnh thổ liên quan đến yếu tố chủ quyền quốc gia cũng như mối quan hệ về mặt tình cảm giữa người với người; việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài còn ảnh hưởng rất lớn đến chính sách đối ngoại của mỗi quốc gia, là quan hệ về mặt tình cảm song lại có ¶nh h­ëng s©u s¾c đến chính trị. Thứ tư, pháp luật điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đề cao vấn đề nhân quyền, bảo vệ quyền con người trước hết là bảo vệ quyền lợi của trẻ em. Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để bảo vệ lợi ích của trẻ, quán triệt tư tưởng nh©n lo¹i phải dành cho trẻ em cái tốt nhất mà mình có. Điều 21 Công ước về quyền trẻ em quy định: “Các quốc gia thành viên công nhận hoặc cho phép chế độ nhận làm con nuôi phải đảm bảo rằng những lợi ích tốt nhất của đứa trẻ phải là quan tâm cao nhất…”. Phù hợp với tinh thần của Công ước, Luật HN & GĐ Việt Nam khẳng định, mục đích của việc nuôi con nuôi nhằm x©y dùng tình cảm giữa người nuôi và con nuôi trong viÖc x¸c lËp quan hệ cha mẹ và con cái, “đảm bảo cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội” (Điều 67). Tuy Việt Nam chưa tham gia Công ước Lahaye 1993, nhưng các quy định trong c¸c v¨n b¶n ph¸p luËt ®iÒu chØnh viÖc nu«i con nu«i cã yÕu tè n­íc ngoµi ®· tiÕp cËn, cè g¾ng thÓ hiÖn tinh thÇn vµ phï hîp víi yªu cÇu cña C«ng ­íc Lahaye. Những quy định đều hướng tới bảo vệ tốt nhất lợi ích của trẻ em. Thứ năm, pháp luật điều chỉnh nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài ®iÒu chØnh quan hệ cha mẹ - con không dựa trên cơ sở huyết thống víi mục đích hình thành một gia đình mới giống như gia đình sinh thành của trẻ. Đây là quan hệ mang tính đặc thù vì có sự khác biệt về ngôn ngữ, phong tục tập quán…Yêu cầu đặt ra là sự điều chỉnh của pháp luật phải rõ ràng, chặt chẽ, cụ thể; cần có cơ chế phối hợp và bảo vệ giữa các nước có liên quan bằng Hiệp định song phương, đa phương. Mục đích cốt yếu là bảo đảm lợi ích của các bên, đặc biệt là cña trẻ em. 1.3.2 Hệ thống pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam điều chỉnh việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. * Những văn bản pháp luật quốc tế liên quan đến điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài . Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, vấn đề nuôi con nuôi giữa công dân các nước ngày càng phát triển đòi hỏi sự quan tâm của chính phủ các nước. Pháp luật các quốc gia cũng như pháp luật quốc tế đều thống nhất công nhận rằng “ trẻ em, do còn non nớt về thể chất và trí tuệ, cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời” [6]. Do sự khác biệt về hoàn cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế - xã hội, quy định riêng biệt của pháp luật từng nước nên xung đột pháp luật trong quá trình giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là điều không thể tránh khỏi. Để khắc phục điều đó trong quá trình hợp tác và phát triển, đã có khá nhiều Điều ước quốc tế đa phương và song phương nhằm điều chỉnh kịp thời các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế. Những văn bản pháp luật quốc tế về nuôi con nuôi bao gồm : Tuyên bố của Liên hiệp quốc về các nguyên tắc xã hội và pháp lý liên quan đến việc bảo vệ và phúc lợi trẻ em, đặc biệt là thu xếp nuôi con nuôi ở trong và ngoài nước (thông qua ngày 3.12.1986); Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em (thông qua ngày 20.11.1989, có hiệu lực ngày 2.9.1990); Công ước LaHay số 33 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực con nuôi nước ngoài (thông qua ngày 29.5.1993, có hiệu lực ngày 1.5.1995). Tuyên bố của liên hợp quốc về các nguyên tắc xã hội và pháp lý liên quan đến việc bảo vệ và phúc lợi trẻ em, đặc biệt là việc thu xếp nuôi con nuôi ở trong và ngoài nước. Tuyên bố này đã nêu rõ : Mục đích hàng đầu của việc nuôi con nuôi là đem lại cho những trẻ em không thể được cha mẹ đẻ chăm sóc được một gia đình bền lâu (Điều 13). Tuyên bố này cũng khẳng định việc cho trẻ em làm con nuôi nước ngoài chỉ là biện pháp thay thế để đảm bảo cho các em có một mái ấm gia đình khi không thể thu xếp cho các em được nhận nuôi trong gia đình hay được chăm sóc phù hợp tại quốc gia gốc của các em (Điều 17). Công ước quốc tế về quyền trẻ em : Đây là văn bản quốc tế đầu tiên quy định một cách toàn diện nhất về quyền của trẻ em. Công ước đã quy định các nguyên tắc cơ bản mà các quốc gia thành viên phải thực hiện nhằm đảm bảo các quyền cơ bản của trẻ em. Vấn đề nuôi con nuôi quốc tế được đề cập đến tại Điều 20 và Điều 21 của Công ước. Đây là những cơ sở pháp lý cho việc nuôi con nuôi quốc tế và là cơ sở để xây dựng các văn bản pháp luật về nuôi con nuôi quốc tế, cũng như điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi ở các quốc gia thành viên. Công ước LaHay số 33 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực con nuôi nứơc ngoài. Đây là Công ước liên quan trực tiếp nhất đến vấn đề nuôi con nuôi. Công ước đã quy định những nguyên tắc chung, phạm vi của công ước; những yêu cầu đối với việc nuôi con nuôi nước ngoài, thủ tục cho – nhận con nuôi nước ngoài; vấn đề công nhận và hậu quả của việc nuôi con nuôi; quy định của các cơ quan trung ương có thẩm quyền và các tổ chức được uỷ quyền; trách nhiệm của quốc gia thành viên…Công ước Lahay là Điều ước quốc tế đa phương về nuôi con nuôi quốc tế. Việc tham gia Công ước này tạo điều kiện thuận lợi cho các quốc gia trong việc bảo vệ trẻ em và hợp tác giải quyết các vấn đề phát sinh trong lĩnh vực con nuôi quốc tế. Bên cạnh đó, hiện tượng xung đột pháp luật trong quá trình giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là điều không tránh khỏi. Để giải quyết những xung đột pháp luật đó, để điều chỉnh tốt quan hệ nuôi con nuôi giữa nước ta với các nước, Việt Nam đã ký kết một số Hiệp định song phương về nuôi con nuôi với một số nước. Ngoài ra, quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài còn được điều chỉnh qua các Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý, Hiệp định lãnh sự giữa nước ta với các nước. Hiệp định TTTP&PL liên quan đến vấn đề nuôi con nuôi : Hiệp định tương trợ tư pháp là hình thức pháp lý ngày càng có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Các Hiệp định này đều quy định việc xác định thẩm quyền giải quyết nuôi con nuôi; quy định nguyên tắc áp dụng pháp luật để điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi giữa công dân của các nước ký kết là nguyên tắc luật quốc tịch của người nhận nuôi, ngoài ra một số Hiệp định điều chỉnh quan hệ nuôi con nuôi theo nguyên tắc Luật quốc tịch của con nuôi. Hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi phát huy hiệu quả cao nhất trong lĩnh vực nuôi con nuôi. Hiện nay có 16 HĐHTNCN đã được ký kết, nội dung cơ bản của các Hiệp định này là : - Đảm bảo nguyên tắc bảo vệ trẻ em; - Quy định về thủ tục giải quyết việc cho nhận con nuôi giữa các nước; - Quy định nguyên tắc áp dụng pháp luật và thẩm quyền quyết định việc cho nhận con nuôi; - Hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi; - Nghĩa vụ hợp tác: Các nước ký kết cam kết thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ trẻ em, trao đổi thông tin và phối hợp thực hiện hợp định. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nuôi con nuôi nước ngoài ở Việt Nam những năm qua đã mang lại hiệu quả cao. Việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được đặt dưới sự giám sát chặt chẽ của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và đảm bảo tuân thủ pháp luật của cả hai nước: nước gốc và nước nhận. Điều đó đã góp phần đảm bảo tính nhân đạo, lành mạnh của việc cho nhận con nuôi, khắc phục hiện tượng lợi dụng việc nuôi con nuôi vào những mục đích trục lợi. * Hệ thống pháp luật Việt Nam điều chỉnh việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Sự hình thành và phát triển của quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài gắn liền với điều kiện hoàn cảnh lịch sử, kinh tế – xã hội từng thời kỳ. Từ khi Nhà nước phong kiến Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời pháp luật về nuôi con nuôi về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài có thể xem xét qua các giai đoạn sau: - Giai đoạn từ 1945 – 1959. Pháp luật trong nước về quan hệ HN & G§ có yếu tố nước ngoài trong đó có quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài còn hết sức đơn giản, chưa tập hợp thành hệ thống, chưa điều chỉnh đầy đủ các quan hệ đó. Quan hÖ nu«i con nu«i cã yÕu tè n­íc ngoµi ch­a ®­îc ®iÒu chØnh riªng biÖt. - Giai