Đề tài Thực trạng giao đất, giao rừng trong lâm nghiệp

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của loài người, là điều kiện cần để sinh tồn, để sản xuất, nó không thế thiếu được. Nó là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho cuộc sống và trở thành một tài nguyên quý giá của mỗi quốc gia. Là nguồn lực để phát triển đất nước, là một loại tư liệu sản xuất đặc biệt của ngành nông nghiệp, lâm nghiệp để đáp ứng điều kiện cơ bản tối thiểu của đời sống xã hội loài người đảm bảo cho quá trình sản xuất, xã hội tồn tại và phát triển. Ngoài ra nó còn là giá đỡ của thực vật, nơi sinh tồn của động vật, vi sinh vật. Luật đất đai sửa đổi năm 1993 được Quốc hội thông qua ngày 14/7/1993 có hiệu lực ngày 15/10/1995 đã thừa nhận 5 quyền cơ bản của người sử dụng đất, quan hệ sản xuất nông lâm nghiệp được xác lập trên cơ sỏ giao đất cho các hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài đã trở thành động lực thúc đẩy quá trình nông, lâm nghiệp phát triển. Hiệu quả sử dụng đất được nâng cao so với giai đoạn trước. Rừng là thảm thực vật của những cây thân gỗ trên bề mặt trái đất, giữ vai trò to lớn đối với con người như: cung cấp nguồn gỗ củi, điều hoà khí hậu, tạo ra oxy, điều hoà nước, nơi cư trú của động vật và lưu trữ các nguồn gen quí hiếm. Ngoài ra, rừng còn là nơi du lịch, nghỉ ngơi, cung cấp dược liệu cho con người. Cùng với sự tiến bộ và phát triển của xã hội vai trò của rừng cũng ngày càng được nâng cao đòi hỏi phải được quản lý sử dụng một cách bền vững. Nhận thức được sự quan trọng của rừng, kể từ năm 1994, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản luật hướng dẫn thực hiện chính sách giao đất giao rừng và quyền hưởng lợi của người nhận đất nhận rừng. Gần đây Quốc hội nước ta đã đưa ra luật đất đai số 13/2003/QHH. Luật này quy định về quyền hạn và trách nhiệm của Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quan lý về đất đai, chế độ quản lý và sử dụng đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Luật bảo vệ và phát triển rừng số 29/2004/QH11 và các văn bản có liên quan đến giao đất giao rừng và hướng dụng rừng như Nghị định 135/2005/NĐ-CP về giao khoán đất, Quyết định 186/2006/QĐ-TTg về quy chế quản lý rừng, Quyết định 40/2005/QĐ-BNN về quy chế khai thác gỗ và lâm sản. Những chính sách này đã từng bước đáp ứng được nhu cầu về quản lý đất đai, đồng thời đã coi trọng , nâng cao trách nhiệm, nghĩa vụ của người sử dụng đất, gắn người lao động với đất đai khi họ thực sự là chủ của từng thửa đất, từ đó việc sử dụng đất có hiệu quả, năng suất cây trồng tăng lên, việc khai thác tài nguyên rừng và đất rừng đã có sự quản lý chặt chẽ, đất đai đã được khai thác một các có hiệu quả, triệt để, tương ứng với tiềm năng.

docx15 trang | Chia sẻ: tienduy345 | Ngày: 14/04/2016 | Lượt xem: 2189 | Lượt tải: 18download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Thực trạng giao đất, giao rừng trong lâm nghiệp, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ĐẶT VẤN ĐỀ Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của loài người, là điều kiện cần để sinh tồn, để sản xuất, nó không thế thiếu được. Nó là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho cuộc sống và trở thành một tài nguyên quý giá của mỗi quốc gia. Là nguồn lực để phát triển đất nước, là một loại tư liệu sản xuất đặc biệt của ngành nông nghiệp, lâm nghiệp để đáp ứng điều kiện cơ bản tối thiểu của đời sống xã hội loài người đảm bảo cho quá trình sản xuất, xã hội tồn tại và phát triển. Ngoài ra nó còn là giá đỡ của thực vật, nơi sinh tồn của động vật, vi sinh vật. Luật đất đai sửa đổi năm 1993 được Quốc hội thông qua ngày 14/7/1993 có hiệu lực ngày 15/10/1995 đã thừa nhận 5 quyền cơ bản của người sử dụng đất, quan hệ sản xuất nông lâm nghiệp được xác lập trên cơ sỏ giao đất cho các hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài đã trở thành động lực thúc đẩy quá trình nông, lâm nghiệp phát triển. Hiệu quả sử dụng đất được nâng cao so với giai đoạn trước. Rừng là thảm thực vật của những cây thân gỗ trên bề mặt trái đất, giữ vai  trò to lớn đối với con người như: cung cấp nguồn gỗ củi, điều hoà khí hậu,  tạo ra oxy, điều hoà nước, nơi cư trú của động vật và lưu trữ các nguồn gen  quí hiếm. Ngoài ra, rừng còn là nơi du lịch, nghỉ ngơi, cung cấp dược liệu  cho con người. Cùng với sự tiến bộ và phát triển của xã hội vai trò của rừng  cũng ngày càng được nâng cao đòi hỏi phải được quản lý sử dụng một cách  bền vững.  Nhận thức được sự quan trọng của rừng, kể từ năm 1994, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản luật hướng dẫn thực hiện chính sách giao đất giao rừng  và quyền hưởng lợi của người nhận đất nhận rừng. Gần đây Quốc hội nước ta đã đưa ra luật đất đai số 13/2003/QHH. Luật này quy định về quyền hạn và trách nhiệm của Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quan lý về đất đai, chế độ quản lý và sử dụng đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Luật bảo vệ và phát triển rừng số 29/2004/QH11 và các văn bản có liên quan đến giao đất giao rừng và hướng dụng rừng như Nghị định 135/2005/NĐ-CP về giao khoán đất, Quyết định 186/2006/QĐ-TTg về quy chế quản lý rừng, Quyết định 40/2005/QĐ-BNN về quy chế khai thác gỗ và lâm sản. Những chính sách này đã từng bước đáp ứng được nhu cầu về quản lý đất đai, đồng thời đã coi trọng , nâng cao trách nhiệm, nghĩa vụ của người sử dụng đất, gắn người lao động với đất đai khi họ thực sự là chủ của từng thửa đất, từ đó việc sử dụng đất có hiệu quả, năng suất cây trồng tăng lên, việc khai thác tài nguyên rừng và đất rừng đã có sự quản lý chặt chẽ, đất đai đã được khai thác một các có hiệu quả, triệt để, tương ứng với tiềm năng. Thực tiễn những năm qua cho thấy, chính sách giao đất giao rừng đã thực sự đi vào cuộc sống, đáp ứng được nguyên vọng của người dân, tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện cuộc sống, nhiều hộ nông dân có thu nhập khá từ các hoạt động sản xuất kinh doanh trên đất được giao. Giao đất khoán rừng và thực hiện cơ chế hưởng lợi là những vấn đề quan trọng đang được xã hội quan tâm. Đây là những vấn đề vừa mang ý nghĩa kinh tế, ý nghiã xã hội và  có tính lâu dài. Việc thực hiện chính sách giao đất giao rừng và quyền hưởng  lợi đã có những tác động lớn trực tiếp đến đời sống của người dân, chủ yếu  là người dân vùng trung du, miền núi. Bên cạnh những thành công, việc thực  hiện chính sách giao đất giao rừng và quyền hưởng lợi còn nhiều vấn đề cần  nghiên cứu điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn. Mặc dù đã có nhiều chủ  trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhiều nghiên cứu xung quanh  vấn đề này nhưng trên thực tế còn nhiều câu hỏi được đặt ra cần được giải  quyết. do vậy tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng giao đất, giao rừng trong lâm nghiệp”. PHẦN I. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1.Tình hình nghiên cứu ngoài nước. Nghiên cứu về chính sách giao đất giao rừng, đối tượng hưởng lợi và các  chính sách liên quan trong quản lý và sử dụng tài nguyên rừng trên thế giới  được đặc biệt quan tâm, nhất là đối với các nước đang phát triển. Đối với vấn đề quyền sở hữu đất đai, do đặc điểm lịch sử và bản chất của  giai cấp thống trị nên ở hầu hết các nước trên thế giới quyền sở hữu về rừng  và đất rừng phần lớn thuộc quyền sở hữu tư nhân. Ở Phần Lan hiện nay có 2/3 tổng diện tích rừng thuộc quyền sở hữu tư nhân. Cả nước có trên 430 nghìn chủ rừng và trung bình mỗi chủ rừng có khoảng 33 ha. Sở hữu cá nhân về rừng ở Phần Lan mang tính truyền thống và liên quan chặt chẽ đến sản xuất nông nghiệp. Ở Nepal, Chính phủ cho phép chuyển giao một số diện tích đáng kể các khu rừng cộng đồng ở vùng trung du cho các cộng đồng dân cư địa phương,  thông qua sử dụng các tổ chức chính quyền ở cấp cơ sở để quản lý rừng.  Chính phủ yêu cầu các tổ chức đó phải thành lập một ủy ban về rừng và cam  kết quản lý những vùng rừng ở địa phương theo kế hoạch đã thỏa thuận. Tuy  nhiên sau một thời gian người ta nhận ra các tổ chức đó không phù hợp với  việc quản lý và bảo vệ rừng do các khu rừng nằm phân tán, không theo đơn  vị hành chính và người dân có các nhu cầu, sở thích khác nhau. Tiếp theo,  Nhà nước đã phân biệt quyền sở hữu và quyền sử dụng rừng. quyền sở hữu  rừng chia làm hai loại là sở hữu cá nhân và sở hữu nhà nước. Trong sở hữu  nhà nước chia rừng thành các quyền sử dụng khác nhau như: rừng cộng  đồng theo các nhóm sử dụng, rừng tín ngưỡng, rừng phòng hộ, rừng Nhà  nước. Nhà nước công nhận quyền pháp nhân và quyền sử dụng cho các  nhóm sử dụng rừng. Trong vòng 14 năm, Nhà nước giao khoảng 9000 ha rừng quốc gia cho các cộng đồng. Từ năm 1993, chính sách lâm nghiệp mới  nhấn mạnh đến các nhóm sử dụng rừng, cho phép gia tăng quyền hạn và hỗ  trợ các nhóm sử dụng rừng, thay đổi chức năng của các phòng lâm nghiệp  huyện từ chức năng cảnh sát và chỉ đạo sang chức năng hỗ trợ và thúc đẩy  cho các cộng đồng, từ đó rừng được quản lý và bảo vệ có hiệu quả hơn. Ở Philippines áp dụng chương trình lâm nghiệp xã hội tổng hợp theo đó Chính  phủ giao quyền quản lý đất lâm nghiệp cho cá nhân, các hội quần chúng và  cộng đồng địa phương trong 25 năm và gia hạn thêm 25 năm nữa, thiết lập  rừng cộng đồng và giao cho nhóm quản lý. Người được giao đất phải có kế  hoạch trồng rừng, nếu được giao dưới 300 ha thì năm đầu tiên phải trồng  40% diện tích, 5 năm sau phải trồng được 70% diện tích và 7 năm phải hoàn  thành trồng rừng trên diện tích được giao. Những kinh nghiệm ở một số nước khác như: Nam Triều Tiên, Thái Lan đều có một xu hướng chung là cho phép một nhóm người ở các địa phương có nhiều rừng quyền sử dụng các lợi ích từ rừng và quy định rõ trách nhiệm của họ tương xứng với lợi ích được hưởng. thông thường các nước đều chú ý tăng cường quyển sử dụng gỗ, củi, thức ăn gia súc cần thiết để người dân tự cung, tự cấp cho nhu cầu hàng ngày của họ, tạo điều kiện cho họ có thêm  thu nhập từ rừngvà điều kiện thuê nhân công địa phương đảm bảo quyền sử  dụng đất canh tác, tăng cường sự hỗ trợ của chính phủ. Trong thế kỷ 20, nhất là những thập kỷ cuối của thế kỷ này, việc quản lý  rừng và xây dựng chiến lược phát triển lâm nghiệp trên thế giới đã có nhiều  chuyển biến. có thể tóm tắt những xu hướng chủ yếu trong quản lý rừng  trong thời gian gần đây như sau: - Chuyển mục tiêu quản lý từ sử dụng rừng sản xuất gỗ chủ yếu sang thực  hiện mục tiêu sử dụng rừng kết hợp cả ba lợi ích: kinh tế, sinh thái và xã hội.  nhiều nước đã tuyên bố thực hiện, hoặc đã áp dụng nhiều biện pháp quản lý  rừng theo hướng tăng cường bảo vệ rừng như: đình chỉ khai thác gỗ tự  nhiên, nâng cao diện tích rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, các khu bảo tồn  thiên nhiên, phát triển du lịch sinh thái, chú trọng nhiều hơn đến mục tiêu  phát huy tác dụng sinh thái của rừng. - Phân cấp quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp (phi tập trung hóa), xu hướng là chuyển giao dần trách nhiệm và quyền lực về quản lý rừng từ  các cấp trung ương xuống các cấp địa phương và cơ sở. - Xúc tiến giao đất giao rừng cho nhân dân và cộng đồng, giảm bớt can thiệp của nhà nước, thực hiện tư nhân hóa đất đai và các cơ sở kinh doanh lâm  nghiệp, tạo điều kiện cho việc quản lý rừng năng động hơn, đem lại nhiều lợi  nhuận hơn. - Thu hút sự tham gia của các nhóm dân cư được hưởng lợi trong quá trình xây dựng kế hoạch quản lý rừng, khuynh hướng chung là khi xây dựng kế  hoạch quản lý rừng, chủ rừng rất quan tâm thu hút sự tham gia của các bên  có liên quan đến quyền lợi từ rừng. - Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương vào công tác quản lý rừng, xu hướng là phát triển các hình thức tổ chức để thu hút cộng đồng địa  phương vào quản lý rừng như: liên kết quản lý rừng, phát triển các chương  trình lâm nghiệp cộng đồng, các công trình bảo tồn thiên nhiên theo làng Về vấn đề hưởng lợi trong quản lý sử dụng rừng, phân tích của Hobley  (1996) cho thấy các hệ thống Taungya được áp dụng tại Myanmar từ năm  1850 đã cho phép những người dân du canh được chiếm một diện tích rừng  khoảng 3 - 4 ha với điều kiện họ phải trồng và chăm sóc cây con khi chăm  sóc cây nông nghiệp. Do vậy, cơ quan lâm nghiệp địa phương có thể kiểm  soát những người du canh thông qua hoạt động canh tác của họ cùng với  việc tái sinh rừng với các loài cây có giá trị. Tại Ấn Độ, liên kết quản lý rừng đã đem lại những lợi ích nhất định cho cả hai bên: Chính phủ ( cơ quan lâm nghiệp) và cộng đồng địa phương. Chính  sách lâm nghiệp quốc gia 1988 khẳng định sự tham gia của người dân vào sự  phát triển và bảo vệ rừng và khẳng định một trong những điểm thiết yếu của  quản lý rừng chính là các cộng đồng tại rừng phải được khuyến khích để tự  nhận biết vai trò của bản thân họ trong phát triển và bảo vệ rừng mà họ được  hưởng lợi từ đó. Một số quy định cụ thể về cơ chế hưởng lợi được thể hiện như sau: - Quyền sử dụng đất rừng và các lợi ích khác chỉ dành cho những người hưởng lợi thuộc tổ chức thiết chế làng xã tái tạo và bảo vệ rừng. Những tổ chức này có thể là những tổ chức chính quyền cấp cơ sở hay hợp tác xã hay  hội đồng lâm nghiệp làng. Những nhóm hưởng lợi có thể được hưởng những  sản phẩm như: cỏ, cành, ngọn, và các vật phẩm khác. Nếu họ bảo vệ rừng  thành công, họ coa thể được hưởng một phần từ thu nhập do bán gỗ đã thành  thục. - Cùng với cây làm củi, thức ăn gia súc và gỗ, cộng đồng địa phương cũng được phép trồng các cây ăn quả sao cho phù hợp với quy hoạch trồng rừng  chung và cả cây bụi, cây họ đậu và cỏ để nhằm đáp ứng nhu cầu tại chỗ, bảo  vệ đất và nguồn nước, làm giàu rừng. ngay cả cây dược liệu cũng có thể  trồng theo yêu cầu. - Cây gỗ chỉ được khai thác cho đến khi cây đã trưởng thành. Các cơ quan lâm nghiệp cũng không được chặt cây trên đất lâm nghiệp đang do cộng  đồng bảo vệ trừ trường hợp theo kế hoạch. 1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước. Chủ trương giao đất, giao rừng của Đảng đã hình thành từ rất sớm. Ngay từ năm 1983, Ban Bí thư (Khoá V) đã có Chỉ thị 29-CT/TW ngày 12/11/1983 về việc đẩy mạnh giao đất, giao rừng. Chỉ thị nhấn mạnh, “làm cho mỗi khu đất, mỗi cánh rừng, mỗi quả đồi đều có người làm chủ” Trong quá trình triển khai chính sách giao đất, giao rừng theo Nghị định 02/ CP ngày 15/04/1994 (nay là nghị định 163/ CP ra ngày 16/11/1999), Nghị  định 01/ CP của chính phủ ngày 04/01/1995, Nhà nước đã ban hành một số  chính sách có liên quan đến hưởng lợi của cá hộ gia đình, cá nhân nhận  rừng, đất lâm nghiệp. Trong hàng loạt các văn bản chính sách trên có quyết  định 178/2001 QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ ra ngày 12/11/2001 và  thông tư liên tịch số 80/2003/TTLT – BTC/BNN&PTNT ngày 03/09/2003  về việc hướng dẫn thực hiện Quyết định 178, đã được thông qua và triển  khai rộng rãi. Trong thời gian qua đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu, tổng kết  về chính sách giao đất, giao rừng; nghiên cứu đánh giá về cơ chế hưởng lợi  từ đất lâm nghiệp như: - Hội thảo quốc gia về chủ rừng và lợi ích của chủ rừng trong kinh doang  rừng trồng do BNN&PTNT, tổ chức Nông nghiệp và Lương thực của Liên  hợp quốc (FAO), cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) tổ chức vào  tháng 7 năm 1998. Cuộc hội thảo chỉ quan tâm đến rừng trồng sản xuất còn  rừng tự nhiên, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng không được đề cập đến. Nội  dung của cuộc hội thảo đề cập đến những vấn đề sản xuất kinh doanh của các chủ rừng kinh doanh rừng trồng sản xuất, lợi ích của các chủ rừng kinh  doanh rừng trồng sản xuất, các giải pháp thúc đẩy việc sản xuất kinh doanh  rừng sản xuất. - Từ năm 1998, Chương trình phát triển nông thôn miền núi Việt Nam –  Thụy Điển đã triển khai thử nghiệm một số mô hình quản lý bảo vệ rừng  cộng đồng ở tỉnh Yên Bái và Hà Giang. Khi việc thử nghiệm kết thúc người  ta đã tiến hành đánh giá mô hình quản lý rừng cộng đồng dựa trên 5 tiêu chí  sau: + Trạng thái rừng cho các cộng đồng. + Sự tác động của nhà nước. + Sự tham gia của cộng đồng người dân vào quản lý và bảo vệ rừng. + Quyền sử dụng đất của người dân. + Những lợi ích của cộng đồng được hưởng. Việc đánh giá trên làm cơ sở cho việc đề suất các giải pháp phát triển mô  hình quản lý bảo vệ rừng cộng đồng. Nhình chung chương trình thử nghiệm  chỉ gói gọn trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng cộng đồng còn các hình thức  quản lý bảo vệ rừng khác không được đề cập đến ở đây. - Năm 2005, tiến sỹ Nguyễn Nghĩa Biên và các cộng sự thuộc Trường đại  học Lâm Nghiệp đã tiến hành đề tài nghiên cứu: “ Đánh giá tình hình thực  hiện Quyết định 178/2001/QĐ-TTg vầ đề xuất sửa đổi, bổ sung chính sách  hưởng lợi đối với cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng được giao, được thuê  và nhận khoán rừng, đất lâm nghiệp”. Đề tài đã đánh giá tình hình thực hiện  chính sách hưởng lợi theo quyết định 178/2001/QĐ-TTg và đề xuất sửa đổi,  bổ sung góp phần hoàn thiện cơ chế hưởng lợi đối với các hộ gia đình, cá  nhân và cộng đồng được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm  nghiệp. PHẦN II, THỰC TRẠNG GIAO ĐẤT GIAO RỪNG TRONG LÂM NGHIỆP 2.1 Kết quả giao đất giao rừng trong Lâm nghiệp những năm qua. Kết quả theo dõi diễn biến tài nguyên rừng được ban hành tại Quyết định số 2089/QĐ-BNN-TCLN ngày 30/8/2012 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2011, tính đến 31/12/2011 như sau: Tổng diện tích đất lâm nghiệp toàn quốc là: 16.240.000 ha. Trong đó: Diện tích đất có rừng: 13.515.064 ha (bao gồm cả rừng trồng tuổi 1).Diện tích đất chưa có rừng: 2.724.936 ha. Diện tích rừng và đất lâm nghiệp nằm trên địa bàn 6.093 xã (trong đó: 238 xã có diện tích 10.000 ha trở lên; 1.048 xã có từ 3.000 đến 10.000 ha; 1.528 xã có 1.000 đến 3.000ha; 1.044 xã có 500 đến 1.000 ha và 2.235 xã dưới 500 ha). Độ che phủ rừng năm 2011 đạt 39,7%. Trong 5 năm (2006 - 2011) diện tích rừng cả nước tăng 0,78 triệu ha, độ che phủ tăng 2,5% (trung bình tăng 0.5 %/ năm). Tổng diện tích rừng đã giao: 11,4 triệu ha, chiếm 84,4% diện tích rừng toàn quốc (13,5 triệu ha) và chiếm 70,3 % so với tổng diện tích đất quy hoạch cho lâm nghiệp(16,24 triệu ha). Tổng diện tích rừng chưa giao hiện đang do UBND xã quản lý là 2,1 triệu ha, chiếm 15,6 % ( Diện tích rừng do UBND xã quản lý từ 2,8 triệu ha năm 2005 xuống còn 2,1 triệu ha năm 2011). Đặc biệt một số địa phương có tình hình giao đất giao rừng rất đáng khả quan như: Điện Biên đã rà soát lại 100% diện tích đất đã giao trước đó, đồng thời rà soát xác định diện tích, ranh giới, trữ lượng rừng để làm cơ sở thực hiện việc xây dựng, thẩm định, phê duyệt phương án giao đất, giao rừng cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng thôn bản. Theo kết quả rà soát, toàn tỉnh có tổng diện tích đất lâm nghiệp 266.043,51ha. Trong đó, diện tích đã có quyết định giao đất 87.624,64ha; diện tích đã được rà soát nhưng chưa có quyết định giao đất 178.418,87ha. Yên Bái đề án Giao rừng, cho thuê rừng trên địa bàn toàn tỉnh giai đoạn 2012 - 2015 hiện nay là 85.375 ha/181.604,3 ha kế hoạch tại 132 xã, phường trên địa bàn 9 huyện, thị, thành phố. Xác định được quỹ đất có khả năng giao cho hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư là 37.461,0 ha. Xác định được quỹ đất có khả năng giao cho các tổ chức và doanh nghiệp thuê là 44.185,9 ha. Kiểm tra, rà soát diện tích rừng phòng hộ chuyển sang sản xuất trên địa bàn 50 xã, thuộc 5 huyện là: Văn Chấn, Văn Yên, Trấn Yên, Yên Bình và Lục Yên. Hà Tĩnh trong công tác giao đất, giao rừng, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp, đến nay toàn tỉnh có 143 xã đã và đang thực hiện đo đạc bản đồ địa chính, đánh giá đặc điểm khu rừng với diện tích 46.176ha/18.877 hộ, cộng đồng, đạt 85 % so với phương án. Sở TN & MT đã phê duyệt 28 xã thuộc 5 huyện, thị xã, với diện tích 10.801ha của 5.196 hộ, cộng đồng; thẩm định hồ sơ cho 4.801 hộ, cộng đồng, với diện tích 9.589ha; đã cấp GCNQSDĐ cho 2.841 hộ, cộng đồng, với diện tích 5.946 ha, đạt 55% diện tích phê duyệt bản đồ và 10,8% diện tích phương án. Toàn tỉnh đã thu hồi 21.300,94 ha của 9 chủ rừng bàn giao về địa phương quản lý. Tuyên Quang Tính đến nay, có 98 xã thuộc 7 huyện, thành phố đã hoàn thành việc xây dựng phương án giao rừng, với tổng số 18.611 ha; trong đó có 97 xã đã thông qua Hội đồng nhân dân xã (riêng xã Yên Lâm chưa thông qua); 79 xã đang tiến hành thẩm định và 6 xã đã được phê duyệt phương án giao đất gắn với giao rừng. Theo Sở Nông nghiệp và PTNT, đến ngày 9-8-2015, toàn tỉnh trồng mới 10.524,1 ha rừng, bằng 68% kế hoạch. Trong đó có 9.947,2 ha rừng tập trung và 576,9 ha trồng cây phân tán (quy ra diện tích). Thực hiện kế hoạch trồng rừng, hiện thành phố Tuyên Quang đã hoàn thành 105,8% kế hoạch; Sơn Dương thực hiện được 67,7% kế hoạch; Yên Sơn đạt 91%; Hàm Yên đạt 69,3%; Chiêm Hóa đạt 60,7%; Lâm Bình 46,7% và Nà Hang đạt 65%. diện tích trồng rừng tăng lên 4.143 ha. Tuy nhiên, so với chỉ tiêu kế hoạch trồng rừng trên địa bàn còn chậm, nhất là diện tích đất lâm nghiệp bị lấn chiếm, sử dụng sai mục đích, ở một số cơ sở chưa giải quyết triệt để Trên địa bàn huyện Đắk Nông hiện nay, việc giao đất cho cộng đồng quản lý được thực hiện tập trung ở các xã như Đắk Som, Đắk P’lao, Quảng Sơn, Đắk Ha Trong đó, mô hình quản lý rừng cộng đồng do khu bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng đã tiến hành giao khoán bảo vệ cho 167 hộ của 3 xã là Đắk Som (Đắk Glong), Phi Liêng, Đạ K’Nàng, huyện Đam Rông (Lâm Đồng) và tại 17 tiểu khu, với tổng diện tích hơn 7.961 ha. Nếu như năm 2007, tổng diện tích rừng trên địa bàn là 103.275 ha, diện tích rừng tự nhiên 98.448 ha, diện tích rừng trồng là 4.879 ha, độ che phủ là 71,28% thì đến năm 2013, diện tích có rừng đã giảm xuống còn 85.000 ha, trong đó, diện tích rừng tự nhiên gần 78.000 ha, diện tích rừng trồng 6.800 ha, độ che phủ xuống mức 58,6%. Theo UBND tỉnh Đắk Nông, tính đến thời điểm hiện nay trên địa bàn tỉnh đã có 48 tổ chức, đơn vị được tỉnh giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp thực hiện 49 dự án đầu tư sản xuất nông-lâm nghiệp, trong đó có 48 dự án của 47 đơn vị thuê đất, một dự án của một đơn vị được giao đất với tổng diện tích đất lâm nghiệp đã giao và cho thuê là hơn 51 nghìn ha, bao gồm cho thuê đất 40.740 ha và giao rừng 9.417,24 ha. Ngoài ra, các đơn vị, doanh nghiệp trong tỉnh còn thực hiện 21 hợp đồng liên doanh, liên kết với diện tích hơn 6.000 ha; đồng thời tổ chức ký kết 339 hợp đồng giao khoán quản lý, bảo vệ rừng theo Nghị định 135/2005/NĐ-CP cho 367 hộ dân với tổng diện tích giao khoán là hơn 4.000 ha 2.2 Những hiệu quả và thuận lợi của chính sách giao đất giao rừng trong Lâm nghiệp. Trước khi giao đất cho các hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài, phần lớn đất đai cảu các hộ gia đình sử dụng nằm trong sử quản lý của các HTX. Từ đó đất đai quản lý không chặt chẽ, khai thác và sử dụng còn bừa bãi, manh mún, không có quy hoạch và kế hoạch cụ thể, đất chưa thực sự trở thành một tư liệu, nguồn nhân lực quan trọng trong sản xuất nông lâm nghiệp. Bên cạnh đó phải nói đến sự hạn chế về trình độ khoa học kỹ thuật, vốn đầu tư, ý thức, thái độ của con người trong việc khai thác sử dụng đất. Cùng với nó là sự tác động của chính sách đất đai giai đoạn này chưa thực sự làm thay đổi được tư tưởng và thái độ của người sử dụng đất để họ thực sự an tâm đầu tư sản xuất, khai thác mở rộng tiềm năng đất đ
Luận văn liên quan