Đề tài Thực trạng lao động và việc làm ở thành phố Đà Nẵng

An toàn lao động trong doanh nghiệp: Vẫn chưa an toàn07:35, 16/3/2010 (GMT+7) Người lao động làm việc trong điều kiện thiếu trang thiết bị bảo hộ lao động, chưa ý thức được về an toàn lao động (ATLĐ) và chủ quan, vì vậy đã gây ra những vụ tai nạn lao động (TNLĐ) thương tâm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và có cả những trường hợp bị thiệt mạng. lao động ngoài trời phải bảo đảm các điều kiện an toàn bảo hộ lao động. TNLĐ chưa giảm Theo số liệu do ngành Y tế cung cấp, trong năm 2009, toàn thành phố có 122 người bị TNLĐ, 10 người tử vong, 109 người bị chấn thương, 5 người suy giảm khả năng lao động. Nguyên nhân chủ yếu là do người sử dụng lao động chưa tổ chức tốt các điều kiện về ATLĐ tại nơi làm việc, chưa huấn luyện về ATLĐ cho người lao động. Mặt khác, do người lao động xem nhẹ, chủ quan, không chấp hành các nội quy, quy trình về ATVSLĐ, không sử dụng các phương tiện bảo vệ cá nhân. Lúc 6 giờ 30 ngày 3-7-2009, tại mỏ khai thác đá của một doanh nghiệp tư nhân ở xã Hòa Nhơn, huyện Hòa Vang, một tảng đá to từ trên núi lăn xuống khi có 4 công nhân đang khoan đá, nhồi thuốc mìn, khiến hai anh em ông B.C. (39 tuổi), B.T. (49 tuổi) cùng trú tại địa phương này chết tại chỗ. Ông Nguyễn Phước (50 tuổi) - trú quận Cẩm Lệ, chết khi đang được cấp cứu.

doc31 trang | Chia sẻ: ngtr9097 | Ngày: 01/06/2013 | Lượt xem: 2995 | Lượt tải: 11download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Thực trạng lao động và việc làm ở thành phố Đà Nẵng, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
An toàn lao động trong doanh nghiệp: Vẫn chưa an toàn07:35, 16/3/2010 (GMT+7) Người lao động làm việc trong điều kiện thiếu trang thiết bị bảo hộ lao động, chưa ý thức được về an toàn lao động (ATLĐ) và chủ quan, vì vậy đã gây ra những vụ tai nạn lao động (TNLĐ) thương tâm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và có cả những trường hợp bị thiệt mạng. lao động ngoài trời phải bảo đảm các điều kiện an toàn bảo hộ lao động.  TNLĐ chưa giảm Theo số liệu do ngành Y tế cung cấp, trong năm 2009, toàn thành phố có 122 người bị TNLĐ, 10 người tử vong, 109 người bị chấn thương, 5 người suy giảm khả năng lao động. Nguyên nhân chủ yếu là do người sử dụng lao động chưa tổ chức tốt các điều kiện về ATLĐ tại nơi làm việc, chưa huấn luyện về ATLĐ cho người lao động... Mặt khác, do người lao động xem nhẹ, chủ quan, không chấp hành các nội quy, quy trình về ATVSLĐ, không sử dụng các phương tiện bảo vệ cá nhân. Lúc 6 giờ 30 ngày 3-7-2009, tại mỏ khai thác đá của một doanh nghiệp tư nhân ở xã Hòa Nhơn, huyện Hòa Vang, một tảng đá to từ trên núi lăn xuống khi có 4 công nhân đang khoan đá, nhồi thuốc mìn, khiến hai anh em ông B.C. (39 tuổi), B.T. (49 tuổi) cùng trú tại địa phương này chết tại chỗ. Ông Nguyễn Phước (50 tuổi) - trú quận Cẩm Lệ, chết khi đang được cấp cứu. Sau đó, tại xã Hòa Sơn, huyện Hòa Vang đã xảy ra vụ tai nạn khác, làm một người chết, một người bị thương. Vụ việc xảy ra khi các công nhân đang thi công lắp đặt trụ điện thoại. Công nhân L.T.T. trong lúc điều khiển cẩu để đưa trụ  điện vào hố móng thì bất ngờ dây xích nâng trụ bị đứt, bung trúng đường dây cao thế. Trụ điện rơi xuống, làm đứt đường dây hạ thế, phóng điện khiến anh T. chết tại chỗ, một người khác bị thương nặng. Đó chỉ là hai trong số nhiều vụ TNLĐ xảy ra trong năm 2009 trên địa bàn thành phố. Qua Thống kê, số vụ TNLĐ trong khi thi công các công trình xây dựng, khai thác đá, hầm mỏ, sự cố điện vẫn chiếm đa số. Việc không tuân thủ các nguyên tắc về lao động của người sử dụng lao động và người lao động đã gây ra những vụ tai nạn thương tâm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của gia đình, làm đình trệ sản xuất kinh doanh.  72% doanh nghiệp vi phạm quản lý sức khỏe Thống kê của Khoa Sức khỏe lao động thuộc Trung tâm Y tế dự phòng thành phố cho biết, có đến 72% trong tổng số 246 doanh nghiệp trên địa bàn thành phố vi phạm việc quản lý sức khỏe tại doanh nghiệp, trong đó chủ yếu là chưa bố trí cán bộ y tế theo dõi sức khỏe cho người lao động. Đặc biệt, trong số 101 doanh nghiệp có từ 200 cán bộ, nhân viên trở lên, chỉ có 16 doanh nghiệp có Trạm Y tế, 48 đơn vị có cán bộ y tế. Đây là điều rất đáng lo ngại, bởi những doanh nghiệp lớn thu hút đông người lao động nếu không có Trạm Y tế và cán bộ y tế theo dõi sức khỏe định kỳ thì rất dễ dẫn đến các bệnh nghề nghiệp cho công nhân. Kết quả khám sức khỏe định kỳ tại Trung tâm Y tế dự phòng thành phố cho thấy, hầu hết công nhân có sức khỏe loại 2 và 3. Năm 2009, cả nước xảy ra 6.250 vụ TNLĐ làm 6.421 người bị nạn, trong đó có 507 vụ TNLĐ làm 550 người chết, 1.221 người bị thương nặng  (88 vụ có từ 2 người bị nạn trở lên). Bác sĩ Nguyễn Thị Minh Thy, Phó Giám đốc Trung tâm Y tế dự phòng thành phố Đà Nẵng cho biết, hiện nay hầu hết các mẫu bụi không đạt tiêu chuẩn vệ sinh, chủ yếu rơi vào các doanh nghiệp khai thác vật liệu xây dựng, khai thác đá lộ thiên. Trong quá trình sản xuất, mặc dù doanh nghiệp đã áp dụng các biện pháp cải tiến kỹ thuật như phun sương, khoan, nghiền ướt… nhưng mẩu bụi toàn phần và hàm lượng silic không đạt tiêu chuẩn vẫn cao hơn.  Theo bác sĩ Minh Thy, điều đáng quan tâm là hiện nay còn một số doanh nghiệp hoạt động trong môi trường  nguy hiểm, độc hại vẫn chưa thực hiện đo kiểm tra môi trường lao động và chưa tiến hành khám để phát hiện bệnh nghề nghiệp cho người lao động. Đây là lời cảnh báo số người lao động mắc bệnh nghề nghiệp sẽ tăng trong những năm đến. Người lao động mất việc ở Đà Nẵng được hỗ trợ nhiều Cập nhật lúc 22:58, Thứ Ba, 17/02/2009 (GMT+7) ,  - Sở LĐTB&XH Đà Nẵng kiến nghị UBND TP dành ngân sách dự phòng hỗ trợ người lao động gặp khó khăn do mất việc làm vì ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế. Ngày 17/2, bà Nguyễn Thị Thanh Hưng, Giám đốc Sở LĐTB&XH Đà Nẵng cho hay, ngoài các chính sách kích cầu của Chính phủ và các giải pháp ngăn chặn suy giảm kinh tế của TP, Sở LĐTB&XH Đà Nẵng đang đề xuất lãnh đạo Đà Nẵng dành nguồn ngân sách khá lớn góp phần tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, giữ ổn định sản xuất kinh doanh, hạn chế việc doanh nghiệp chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn và hỗ trợ người lao động thất nghiệp. Theo đó, Sở này đề nghị UBND TP trích thêm từ nguồn dự phòng của ngân sách TP năm 2009 số tiền 1 tỷ đồng để tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tiếp nhận người lao động vào kèm nghề và bố trí việc làm. Đồng thời, bố trí 10 tỷ đồng từ nguồn dự phòng kể trên uỷ thác sang Ngân hàng Chính sách xã hội để cho các đối tượng mất việc làm do khủng hoảng kinh tế vay vốn tự tạo việc làm (dự kiến mỗi lao động vay 10 triệu đồng).  Hơn 1.200 công nhân Công ty TNHH Kim Quốc Bảo (Đà Nẵng) mất việc làm do bị chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn Ảnh: HC Sở LĐTB&XH Đà Nẵng cũng kiến nghị UBND TP có chính sách trợ cấp cho những hộ có hộ khẩu tại Đà Nẵng có 1 lao động chính hoặc 2 lao động trở lên bị doanh nghiệp chấm dứt hợp đồng lao động do tác động của khủng hoảng kinh tế mà gia đình gặp khó khăn, có nhiều người ăn theo trong hộ. Dự kiến, mỗi hộ gặp khó khăn bị mất việc làm được trợ cấp 1 triệu đồng từ nguồn bảo đảm xã hội của TP. Theo thống kê mới nhất của Sở LĐTB&XH Đà Nẵng, tính đến ngày 17/2, trên địa bàn có 6 doanh nghiệp (nhất là các doanh nghiệp FDI hoạt động trên các lĩnh vực xuất nhập khẩu, sản xuất hàng may mặc, lắp ráp linh kiện điện tử…) thu hẹp sản xuất, ngừng hoạt động khiến trên 2.500 lao động bị ảnh hưởng việc làm và thu nhập; trong đó có trên 1.100 lao động có hộ khẩu tại Đà Nẵng, còn lại là người từ các địa phương khác đến. Theo bà Nguyễn Thị Thanh Hưng, các doanh nghiệp nêu trên gặp nhiều khó khăn do thua lỗ kéo dài, không có đơn hàng nên mới đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn đối với người lao động. Tuy pháp luật lao động không xác định việc thu hẹp sản xuất, ngừng hoạt động do khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu là lý do bất khả kháng, song trong thực tế các doanh nghiệp trên thực sự gặp khó khăn. Do đó, theo hướng dẫn của Bộ LĐTB&XH, họ được vận dụng lý do bất khả kháng để đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn và trả trợ cấp cho người lao động mỗi năm làm việc nửa tháng lương. Tuy nhiên, do người lao động chưa được giải thích đầy đủ nên chưa thông cảm và chia sẻ cùng doanh nghiệp, từ đó dẫn tới một số vụ tranh chấp lao động ở Đà Nẵng vào thời điểm cận Tết Nguyên đán vừa qua. Bên cạnh đó, cũng có một số doanh nghiệp như Công ty TNHH Valley View Industrial (100% vốn đầu tư của Đài Loan), Công ty TNHH VinaKAD Industrial S.A. (100% vốn đầu tư của Hàn Quốc), Công ty cổ phần sản xuất thương mại Hữu Nghị (Đà Nẵng) có biểu hiện lợi dụng tình hình để chèn ép người lao động như hạ đơn giá, tăng giờ, tăng ca làm việc nhưng trả công thấp, thay đổi thang bảng lương để giảm thu nhập của người lao động, cắt giảm chế độ tiền thưởng cuối năm… Tạo việc làm cho người dân ở vùng giải tỏa, tái định cư (Dân trí) - Sáng ngày 17/4, Trung tâm giới thiệu việc làm TP Đà Nẵng đã tổ chức sàn giao dịch việc làm định kỳ hằng tháng tại phường Hòa Xuân (Cẩm Lệ) nhằm tạo cơ hội cho người lao động giải tỏa, tái định cư tìm kiếm việc làm. Rất nhiều người dân đã đến sàn giao dịch để tìm kiếm cơ hội việc làm cho mình sau khi đất nông nghiệp bị thu hồi. Tuy là phường nhưng Hòa Xuân là một phường thuần nông, chủ trương của TP Đà Nẵng sẽ xây dựng nơi đây thành một khu đô thị sinh thái nên lãnh đạo Đà Nẵng phải di dời và tạo việc làm cho người lao động vốn đa số là nông dân. Theo ông Nguyễn Hữu Liên, Phó Giám đốc Trung tâm giới thiệu việc làm Đà Nẵng cho biết: Điều đặc biệt tại sàn giao dịch việc làm lần này là được tổ chức ở “cấp phường”. Đây là phường nằm trong vùng quy hoạch khu đô thị sinh thái Hòa Xuân, do đó rất nhiều hộ dân sẽ được giải tỏa để nhường đất lại cho dự án. Tại sàn giao dịch này sẽ có 81 doanh nghiệp sẽ tuyển khoảng trên 3.100 lao động trong đó nhiều nhất là các ngành may mặc, công nhân kỹ thuật, bảo vệ, tạp vụ... Do đây là vùng thuần nông nên người dân ở đây chủ yếu sống bằng sản xuất nông nghiệp và các nghề thủ công khác nên khi buộc phải di dời, lãnh đạo TP Đà Nẵng đã tính đến phương án tổ chức dạy nghề cho nông dân. Rút kinh nghiệm từ những vùng bị giải tỏa trước đây như phường Hòa Quý (quận Ngũ Hành Sơn), phường Hòa Phát (quận Cẩm Lệ)... lần này Sở LĐTBXH Đà Nẵng sẽ phối hợp với các ngành chức năng tổ chức dạy nghề miễn phí cho nông dân như: Trồng nấm, chế biến thủy sản, phục vụ... đồng thời được hỗ trợ mỗi ngày từ 10-15 ngàn tiền ăn. Tuy nhiên, theo ông Liên, sàn giao dịch được tổ chức ở đây có thể coi là đợt “tập dợt” để người dân ở đây quen với cách tiếp cận công việc để từ đó, khi di dời và giải tỏa họ có thể có việc làm ổn định. Nhưng một điều băng khoăn mà cả người dân, nhà tuyển dụng và cơ quan chức năng khi đến đây tổ chức giới thiệu việc làm là đa số người dân ở đây chưa được chuẩn bị các điều kiện để vào làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp... với khuôn khổ thời gian quy định và áp lực trong công việc. Chị Trần Thị Hồng (43 tuổi, tổ 15) cho biết nhà có 3 sào ruộng (1.500m2) hiện tại vẫn đang sản xuất nhưng sắp đến đất sẽ bị thu hồi để phục vụ dự án và chị sẽ không biết làm gì để sinh sống nuôi con, chị đến đây mong được hỗ trợ để chị có một nghề ổn định mà phù hợp với độ tuổi của mình. Ngoài ra, một số lao động là con em tại địa phương nhưng đang học tại các trường cũng đến sàn giao dịch việc là để tìm kiếm cơ hội khi ra trường. Ông Nguyễn Hữu Liên cho biết đối với những hộ dân trong vùng giải tỏa, ngoài được dạy nghề miễn phí bằng cách cầm tay chỉ việc, học thực hành từ 3-5 tháng, sau đó được thành phố hỗ trợ công cụ sản xuất và vốn nếu là hộ sản xuất gia đình như trồng nấm, sản xuất thủ công mỹ nghệ... .. Đặc điểm dân số hiện nay của thành phố Đà Nẵng như sau:     (i) Số liệu chính thức cho thấy tốc độ tăng dân số hiện tại của thành phố Đà Nẵng từ năm 2000 đến 2007 chỉ ở mức vừa phải là 1,7%. Tuy nhiên, tỷ lệ này không tính dân số nhập cư đến các khu vực đô thị. Nếu tính cả số dân nhập cư không chính thức ước tính khoảng 20% tổng dân số thì dân số hiện tại có thể là gần 1 triệu người;     (ii) Dân số thành phố Đà Nẵng có hai hai nhóm tuổi chiếm dân số cao, từ 15 đến 24 và từ 35 đến 44 tuổi. Tỷ lệ nhóm dân số trẻ nhất, dưới 15 tuổi, chiếm khoảng 25% dân số;     (iii) Năm 2004, quy mô hộ gia đình trung bình tại Đà Nẵng là 4,6 người/hộ; năm 2008, theo điều tra phỏng vấn hộ gia đình của DaCRISS, quy mô hộ gia đình là khoảng 3,95/người;     (iv) Hầu hết dân nhập cư đến Đà Nẵng là từ các tỉnh lân cận; đông nhất từ Huế, Quảng Nam và dân nhập cư từ Quảng Ngãi và Quảng Trị cũng chiếm số lượng lớn; và     (v) Có thể thấy rằng ngay cả khi tăng trưởng kinh tế ở mức thấp thì hiện tượng di cư từ nông thôn ra thành thị vẫn không giảm. Do đó, không chỉ là vấn đề kinh tế, di cư được xem là một phần của đô thị hóa. 2. Trên cơ sở những xu hướng của các yếu tố cấu thành dân số thành phố Đà Nẵng, có thể dự báo những vấn đề sau đây:     (i) Dân số sẽ tăng nhanh chủ yếu là do lượng nhập cư vào thành phố. Tỉ lệ nhập cư sẽ tăng lên khoảng 2,6% cho giai đoạn đến năm 2015, và khoảng 3,8% vào cho giai đoạn 2015 đến 2020.         (ii) Di cư đến thành phố vẫn tiếp diễn sẽ dẫn đến nhu cầu nhà ở giá vừa phải tăng, tỉ lệ tăng dân số tự nhiên cũng tăng lên; và có khả năng tỷ lệ thất nghiệp hoặc thừa lao động cao hơn trong trường hợp kinh tế suy giảm;     (iii) Quy mô hộ gia đình sẽ giảm xuống cùng với tỷ lệ di cư đang tăng lên và các tập quán xã hội thay đổi;     (iv) Dự báo sẽ thiếu lao động có tay nghề vì những địa phương khác, như thành phố Hồ Chí Minh, tỏ ra hấp dẫn và thu hút lao động hơn Đà Nẵng; và     (v) Tỉ lệ di cư sẽ phụ thuộc nhiều vào tăng trưởng kinh tế tại vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và cũng liên quan đến sự phát triển của vùng kinh tế trọng điểm bắc bộ và phía nam. Tổng quan về tăng trưởng dân số     1. Một điều đáng lưu ý là trong số liệu chính thức, dân số đô thị thường được nêu thấp hơn. Số liệu dân số chính thức không tính số dân nhập cư gần đây đến các khu vực đô thị. Nhiều người nhập cư có giấy tạm trú hoặc không đăng ký tạm trú tại các khu đô thị họ sống. Việc này gây khó khăn cho công tác thống kê dân số. Người nhập cư từ nông thôn ra thành thị thường theo mùa khi có cơ hội việc làm hoặc lý do cá nhân. Chẳng hạn tại thành phố Hồ Chí Minh thống kê gần đây cho thấy lượng người tạm trú (KT4) chiếm khoảng 15% dân số đô thị. Dân nhập cư không đăng ký có thể còn có tỷ lệ cao hơn. Trao đổi với cán bộ hành chính tại Đà Nẵng được biết tình trạng này cũng xảy ra tương tự tại Đà Nẵng, người nhập cư không thống kê (cả người có giấy tạm trú và không đăng ký tạm trú) ước tính bổ sung khoảng 20% vào dân số chính thức. Ngoài ra cũng lưu ý rằng, một số người dân Đà Nẵng có hộ khẩu thành phố chuyển đến nơi khác (chẳng hạn như vào khu vực Đông Nam bộ) mà không đăng ký và vì vậy cũng không đưa vào trong thống kê chính thức. Tuy vậy, ước tính dân số chính thức cũng đưa ra một dự đoán dân số tối thiểu của Đà Nẵng.     2. Bảng 3.2.1 và hình 3.2.1 thể hiện xu hướng gần đây về các chỉ số và dự đoán dân số chính như đề cập trong Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội Đà Nẵng đến năm 2020. Số liệu chính thức cho thấy tỷ lệ tăng dân số và tỉ lệ di cư thời kỳ 2000-2007 ở mức vừa phải. Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội gần đây không còn đưa ra mức dự báo thấp, mà dự báo tốc độ tăng dân số trên 3,62% thời kỳ 2007- 2015 và 4,78% thời kỳ 2015 - 2020. Theo dự báo này thì đến năm 2020 dân số Đà Nẵng sẽ đạt 1,4 triệu người. Nếu tính cả 20% dân nhập cư không thống kê, dân số hiện tại có thể đạt 1 triệu người và đến năm 2020 đạt khoảng 1,6 triệu người. Số liệu dự đoán cũng cho thấy: (i) dân số Đà Nẵng sẽ tăng trưởng cao, và (ii) phần lớn số tăng này là tăng cơ học vào Đà Nẵng.     3. Tỷ lệ tăng dân số bao gồm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên và tỷ lệ nhập cư. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên dự đoán sẽ giảm từ mức hiện nay khoảng 12% xuống khoảng 10% vào năm 2010, tỷ lệ nhập cư có thể tăng nhanh. Hiện tại, tỷ lệ nhập cư ước khoảng 0.51% (dân nhập cư trung bình khoảng 4.000) thời kỳ 2000 - 2007. Con số này dĩ nhiên là quá thấp do không tính những người nhập cư không kê khai. Tuy nhiên, theo ước tính trong quy hoạch phát triển kinh tế xã hội cho thấy tỉ lệ nhập cư khoảng 2.6% đến năm 2015, tăng lên 3.8% vào các năm từ 2015 đến 2020. Những con số này vượt số liệu dự đoán chính thức trước đây và chắc chắn cao hơn so với quốc tế. Dường như người ta cũng cố gắng đưa số liệu dân số nhập cư không kê khai vào dự đoán dân số, tuy nhiên vấn đề này không thấy đề cập trong tài liệu. Phân bố dân cư theo độ tuổi     1. Hình từ 3.2.1 đến 3.2.4 cho thấy phân bố dân cư của TP Đà Nẵng, Hà Nội và TPHCM. Số liệu cho thấy Đà Nẵng và Hà Nội có hai độ tuổi chiếm dân số cao nhất. Dân số trong độ tuổi từ 15 đến 24 và từ 35 đến 44 tuổi chiếm tỷ lệ cao tại Đà Nẵng. Dân số trong độ tuổi từ 15 đến 24 và từ 40 đến 49 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất tại Hà Nội. Dân số trong độ tuổi từ 20 đến 34 chiếm tỷ lệ cao nhất tại TPHCM. Mũi tên theo chiều dọc thể hiện giai đoạn chiến tranh Việt nam, từ 1960 đến 1975, khi đó cả 3 thành phố có giai đoạn bùng nổ dân số sau chiến tranh. Ở thành phố Đà Nẵng, tỷ lệ nhóm dân số trẻ nhất, dưới 15 tuổi, chiếm khoảng 25% dân số, cao hơn Hà Nội và TPHCM. Điều này cho thấy tỷ lệ sinh của Đà Nẵng cao hơn 2 thành phố chính của Việt Nam. Số lượng và quy mô hộ gia đình     Khảo sát mức sống hộ gia đình Viêt Nam năm 2004 cho thấy quy mô hộ gia đình trung bình tại Đà Nẵng là 4,6 người. Tuy nhiên, điều tra phỏng vấn hộ gia đình của dự án DaCRISS đưa ra số liệu thấp hơn, khoảng 3,95 người. Kết quả điều tra cho thấy năm 2008 Đà Nẵng có khoảng 204.000 hộ gia đình. Sự chênh lệch này có thể do điều tra phỏng vấn hộ gia đình tính cả số người nhập cư vào và di cư khỏi Đà Nẵng, việc này làm giảm quy mô trung bình của hộ gia đình. Về cơ cấu hộ gia đình theo số liệu điều tra phỏng vấn hộ gia đình thì chỉ có 30% số hộ có 5 thành viên trở lên, 34% có 4 thành viên, 20% có 3 thành viên, 12% có 2 thành viên và chỉ 4% có 1 thành viên. Trong tương lai, quy mô hộ gia đình có thể tiếp tục giảm do số lượng di cư tăng và sự thay đổi về tập quán xã hội.   Di cư     1. Biến động dân số là vấn đề trung tâm quyết định tốc độ phát triển của thành phố. Dự đoán hiện tại trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội cho thấy dân số tăng nhanh là do người nhập cư vào thành phố. Dự đoán dân số không chính thức cũng cho thấy thành phố có nhiều dân nhập cư không đăng ký và số liệu dân số chính thức thường ước tính dân số nhập cư thấp hơn thực tế.     2. Kết quả điều tra phường/xã và điều tra phỏng vấn hộ gia đình cho thấy hầu hết người nhập cư đến Đà Nẵng là từ các tỉnh lân cận, đông nhất từ Huế, Quảng Nam; cũng có một số lượng lớn dân nhập cư đến từ Quảng Ngãi và Quảng Trị, một số ít từ Bình Định. Ngoài ra có dân từ các tỉnh Tây Nguyên và duyên hải bắc trung bộ nhập cư vào Đà Nẵng.     3. Di cư là vấn đề kinh tế xã hội phức tạp. Qua tìm hiểu được biết một số nguyên nhân chính dẫn đến di cư từ nông thôn ra thành thị ở Việt Nam1. Kinh tế là yếu tố chủ yếu đầu tiên nhất dẫn đến di cư. Cũng do khu vực nông thôn thường nghèo và ít việc làm nên trong những năm gần đây di cư trở nên thường xuyên và dễ dàng hơn - nhờ điều kiện giao thông được cải thiện và vấn đề di cư không bị quá thắt chặt. Thứ ba, liên hệ giữa những người thân và cộng đồng cũng là vấn đề quan trọng ảnh hưởng đến di cư. Người nhập cư thường phải hòa nhập với cộng đồng những người nhập cư. Liên hệ này rất quan trọng, giúp tìm việc và chỗ ở cho những người nhập cư mới. Việc xây dựng cộng đồng những người nhập cư ở thành phố tạo điều kiện thuận lợi cho việc di cư kế tiếp .     4. Trao đổi với cán bộ hành chính tìm hiểu một số đặc điểm chính của người nhập cư: (i) là những người tương đối trẻ; (ii) thường là những người độc thân hoặc sống trong gia đình nhỏ; (iii) rất đông người di cư ra thành phố tạm thời khi có sẵn công việc ở thành thị và khi điều kiện công việc ở quê cho phép. Chẳng hạn, nhiều người nhập cư tạm thời sẽ quay về nông thôn để thu hoạch và trồng trọt mùa vụ khi công việc yêu cầu; và (iv) hầu hết người nhập cư có người thân, bạn bè ở thành thị nơi họ chọn đến.     5. Ngoài những yếu tố quyết định chính ấy, còn có yếu tố như phát triển kinh tế và quan niệm thành thị có cơ hội việc làm tốt hơn. Điều này cho thấy có mối quan hệ giữa phát triển kinh tế, nhu cầu lao động ở thành thị và di cư. Tuy nhiên, mối quan hệ này không chặt chẽ lắm vì mặc dù nhu cầu lao động tăng lên là quan trọng, nhưng đấy không phải là yếu tố quyết định đến tỷ lệ di cư. Ngay cả khi tăng trưởng kinh tế thấp thì di cư từ nông thôn ra thành thị vẫn không giảm. Điều này là vì một số lý do sau:     (i) Nông thôn có thể bị tác động bất lợi trong tình trạng kinh tế suy giảm, và     (ii) Nhu cầu lao động thực tế ở thành thị có như thế nào đi nữa và nếu những người sắp di cư quan niệm thành thị là nơi có việc làm tốt hơn nông thôn, thì việc di cư vẫn có thể tiếp tục diễn ra. Do đó, có bằng chứng cho thấy di cư từ nông thôn ra thành thị và đô thị hóa nói chung là vấn đề tất yếu chứ không phải là việc thay đổi chính sách. Di cư trở nên là một lựa chọn tốt hơn cho vấn đề kinh tế nhưng có lẽ nhiều lơn là vì những lý do xã hội (sự hỗ trợ của cộng đồng tại đô thị họ đến, giao thông cải thiện, và sự nới lỏng trong kiểm soát dân số dân số động và dân số tĩnh). Vì vậy, di cư có thể tăng lên. Vấn đề di cư gia tăng phụ thuộc vào tăng trưởng kinh tế và nhu cầu lao động tại thành phố, nhưng không thể là không diễn ra.     6. Các vấn đề của thành phố cần được xem xét: (i) Nhu cầu nhà ở giá rẻ có thể sẽ tăng, đặc biệt là nhà nhỏ phù hợp với người độc thân hoặc gia đình nhỏ; (ii) số người nhập cư trẻ có thể làm tăng tỉ lệ