Đề tài Thực trạng và giải pháp trong thu hút vốn đầu tư từ các công ty đa quốc gia của Việt Nam

Sở hữu 1/3 tài sản của thế giới, các công ty đa quốc gia là mục tiêu thu hút, săn đuổi của tất cả các quốc gia trên thế giới. Theo thống kê của UNCTAC (Hội nghị về thương mại và phát triển của Liên Hiệp Quốc) công bố vào tháng 9/2005, từ năm 2004 đến nay, các công ty đa quốc gia có xu hướng đầu tư vào những nước đang phát triển trong đó các nước thuộc khu vực châu Á - Thái Bình Dương là trọng tâm. Theo thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài (ĐTNN), tính đến hết ngày 30/4/2006 đã có 106 trong tổng số 500 công ty đa quốc gia hàng đầu thế giới (theo xếp hạng của tạp chí nổi tiếng Fortune) có mặt tại Việt Nam với tổng vốn đầu tư trên 11 tỉ USD, chiếm 20% tổng vốn ĐTNN đăng ký vào Việt Nam. Các công ty này có mặt trong hầu hết các lĩnh vực như dầu khí, điện, năng lượng, điện tử, viễn thông, công nghiệp thực phẩm, tài chính, ngân hàng, công nghệ thông tin, giao thông vận tải. Sự có mặt hiện nay tại VN của 106 trong tổng số 500 công ty đa quốc gia hàng đầu thế giới, theo nhiều chuyên gia về ĐTNN, là một kết quả rất khả quan, là bằng chứng thuyết phục về cơ hội và môi trường đầu tư Việt Nam đối với các nhà đầu tư khác. Xu hướng đầu tư này sẽ ngày càng gia tăng trong các năm tới tại khu vực, do đó, các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam phải nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư để có thể hưởng lợi từ xu hướng này.

doc22 trang | Chia sẻ: tuandn | Ngày: 31/01/2013 | Lượt xem: 574 | Lượt tải: 4download
Tóm tắt tài liệu Đề tài Thực trạng và giải pháp trong thu hút vốn đầu tư từ các công ty đa quốc gia của Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
PHẦN MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Sở hữu 1/3 tài sản của thế giới, các công ty đa quốc gia là mục tiêu thu hút, săn đuổi của tất cả các quốc gia trên thế giới. Theo thống kê của UNCTAC (Hội nghị về thương mại và phát triển của Liên Hiệp Quốc) công bố vào tháng 9/2005, từ năm 2004 đến nay, các công ty đa quốc gia có xu hướng đầu tư vào những nước đang phát triển trong đó các nước thuộc khu vực châu Á - Thái Bình Dương là trọng tâm. Theo thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài (ĐTNN), tính đến hết ngày 30/4/2006 đã có 106 trong tổng số 500 công ty đa quốc gia hàng đầu thế giới (theo xếp hạng của tạp chí nổi tiếng Fortune) có mặt tại Việt Nam với tổng vốn đầu tư trên 11 tỉ USD, chiếm 20% tổng vốn ĐTNN đăng ký vào Việt Nam. Các công ty này có mặt trong hầu hết các lĩnh vực như dầu khí, điện, năng lượng, điện tử, viễn thông, công nghiệp thực phẩm, tài chính, ngân hàng, công nghệ thông tin, giao thông vận tải... Sự có mặt hiện nay tại VN của 106 trong tổng số 500 công ty đa quốc gia hàng đầu thế giới, theo nhiều chuyên gia về ĐTNN, là một kết quả rất khả quan, là bằng chứng thuyết phục về cơ hội và môi trường đầu tư Việt Nam đối với các nhà đầu tư khác. Xu hướng đầu tư này sẽ ngày càng gia tăng trong các năm tới tại khu vực, do đó, các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam phải nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư để có thể hưởng lợi từ xu hướng này. Để làm được điều này, trước hết chúng ta phải nắm bắt được thực trạng tình hình đầu tư của các công ty đa quốc gia vào Việt Nam hiện nay, từ đó đưa ra các giải pháp cụ thể cho việc thu hút vốn đầu tư từ phía các công ty này chứ không chỉ dựa trên các lý thuyết suông về các lợi thế của chúng ta là giá nhân công rẻ, hay nguồn lao động dồi dào. Từ những yếu tố trên đây, cho thấy sự cần thiết của nghiên cứu và hình thành nên đề tài“Thực trạng và giải pháp trong thu hút vốn đầu tư từ các công ty đa quốc gia của Việt Nam” nhằm nghiên cứu tình hình thu hút vốn đầu tư từ các công ty đa quốc gia, những thành tựu và những yếu kém của Việt Nam trong việc thu hút và sử dụng nguồn vốn này và đề ra biện pháp. 2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2.1.Mục tiêu chung Nghiên cứu tình hình thu hút đầu tư từ các công ty đa quốc gia của Việt Nam từ 2006 đến 2009 từ đó đề ra biện pháp khắc phục những khó khăn hiện nay. 2.2. Mục tiêu cụ thể Đánh giá chung thực trạng của việc thu hút đầu tư từ các công ty đa quốc gia tại Việt Nam từ 2006 đến 2009. Phân tích lợi thế và những khó khăn của Việt Nam trong việc thu hút đầu tư từ các công ty đa quốc gia. Đề ra biện pháp để khắc phục những khó khăn và thiếu sót. 3.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1. Phương pháp thu thập số liệu: thu thập số liệu thứ cấp về tình hình đầu tư từ các công ty đa quốc gia dựa trên sách, báo, tạp chí kinh tế, internet. 3.2. Phương pháp phân tích: phân tích dựa trên các số liệu thu thập được để thấy được những yếu kém và thành tựu có được của Việt Nam trong việc thu hút đầu tư từ các công ty đa quốc gia. Dựa vào những yếu kém đó đưa ra giải pháp giúp làm tăng nguồn vốn mà các công ty đa quốc gia đầu tư vào Việt Nam. 4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4.1. Không gian: tập trung nghiên cứu tình hình thu hút đầu tư từ các công ty đa quốc gia trong cả nước. 4.2. Thời gian: số liệu, thông tin được đề cập chủ yếu từ năm 2006 đến hết 2009. 4.3. Nội dung: nghiên cứu về thực trạng thu hút đầu tư từ các công ty đa quốc gia. Trên cơ sở đó đề ra giải pháp nhằm tăng nguồn vốn đầu tư vào Việt Nam. PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN Khái niệm công ty đa quốc gia: Công ty đa quốc gia, viết tắt là MNC (Multinational corporation) hoặc MNE (Multinational enterprises), là khái niệm để chỉ các công ty sản xuất hay cung cấp dịch vụ ở ít nhất hai quốc gia. Cấu trúc của công ty đa quốc gia: Công ty đa quốc gia “theo chiều ngang” sản xuất các sản phẩm cùng loại hoặc tương tự ở các quốc gia khác nhau (ví dụ: McDonalds). Công ty đa quốc gia “theo chiều dọc” có các cơ sở sản xuất ở một số nước nào đó, sản xuất ra sản phẩm là đầu vào cho sản xuất của nó ở một số nước khác (ví dụ: Adidas). Công ty đa quốc gia “nhiều chiều” có các cơ sở sản xuất ở các nước khác nhau mà chúng hợp tác theo cả chiều ngang và chiều dọc (ví dụ: Microsoft). Một số công ty đa quốc gia ở Việt Nam: Siemmens AG: có 6 lĩnh vực kinh doanh: tự động hóa & điều khiển, điện lực, vận tải, y tế, thông tin và liên lạc và chiếu sáng. Honda : động cơ ,xe máy. Toyota Motor Corporation: sản xuất ô tô. Unilever : sản xuất các mặt hàng tiêu dùng như mỹ phẩm, hóa chất giặt tẩy, kem đánh răng, dầu gội,thực phẩm.... Toshiba: sản xuất sản phẩm dạng số, điện thoại dạng số, thiết bị và thành phần điện tử, dụng cụ điện dùng trong nhà, … Sony: Mặt hàng: tivi, máy ảnh, máy tính xách tay và một số đồ điện và đồ dân dụng khác. Intel: sản phẩm như chip vi xử lý cho máy tính, bo mạch chủ, ổ nhớ flash, cạc mạng và các thiết bị máy tính khác. Google: Internet, phần mềm máy tính. Tác động của MNC đối với nền kinh tế Các công ty đa quốc gia sử dụng khoảng 90 triệu lao động (trong đó khoảng 20 triệu lao động ở các nước đang phát triển) tạo ra đến 25% tổng sản phẩm của thế giới, riêng 1.000 công ty hàng đầu đã chiếm đến 80% sản lượng công nghiệp của thế giới. Với những đặc điểm về qui mô hoạt động, lượng vốn mà các MNC nắm giữ thì các MNC này có một vai trò và ảnh hưởng lớn đến kinh tế, văn hóa và chính trị của các quốc gia. Lĩnh vực văn hóa là lĩnh vực mà thể hiện sự ảnh hưởng rõ sức ảnh hưởng của các MNC, vì các MNC thống lĩnh hoạt động sản xuất và phân phối sản phẩm truyền thông (chỉ có 6 công ty bán đến 80% tổng số băng đĩa nhạc trên toàn thế giới). Họ du nhập những ý tưởng và hình ảnh khiến cho một số chính phủ và tôn giáo lo ngại về sự bất ổn cho xã hội. Bên cạnh những ảnh hưởng không tốt thì các công ty đa quốc gia lại mang lại một lợi ích to lớn cho các quốc gia sở tại như đóng thuế, tạo công ăn việc làm, cung cấp sản phẩm và dịch vụ mà trước đó không có, trên hết là nguồn vốn, công nghệ và kiến thức. Với vai trò cung ứng vốn cho nền kinh tế thì các MNC càng thể hiện sự ảnh hưởng của nó đối với nền kinh tế các quốc gia mà nó có trụ sở. Chính sự quốc tế hóa hoạt động kinh doanh của các công ty đa quốc gia mà nguyên nhân chủ yếu tác động đến sự hình thành và phát triển của các luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI - Forgeign Direct Invesment). Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư mà chủ sở hữu vốn đầu tư sẽ trực tiếp quản lý và điều hành vốn đầu tư. Trong các chủ thể của đầu tư trực tiếp nước ngoài thì các công ty đa quốc gia chiếm tỷ trọng cao nhất rồi mới đến các tổ chức chính phủ và phi chính phủ khác. Theo số liệu thông kê cho thấy, có hơn 90% vốn đầu tư nước ngoài trên thế giới là do các công ty đa quốc gia. Trong bối cảnh kinh tế hiện nay, FDI được xem là giải pháp hỗ trợ vốn cho các nước nghèo và là một trong những thành phần không thể thiếu của nền kinh tế hiện đại. Thông qua hình thức đầu tư FDI đã chuyển cho nước tiếp nhận đầu tư kỹ thuật, công nghệ, bí quyết công nghệ mới, năng lực quản lý marketing, kinh nghiệm quản lý và điều hành, nguồn nhân sự với trình độ cao... thông qua các hợp đồng kinh tế, các hợp đồng liên doanh, liên kết hay các hợp đồng chuyển giao công nghệ. Thông qua cách thức đầu tư của các MNC mà FDI sẽ có các hình thức biểu hiện như sau: -Thành lập công ty 100% vốn nước ngoài: đây là hình thức các MNC đầu tư vốn vào nền kinh tế của một nước để lập công ty 100% vốn nước ngoài. Các công ty này thuộc quyền sở hữu và chịu sự quản lý điều hành của chủ thế là cá nhân hay tổ chức nước ngoài. Các công ty này tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trước pháp luật của nước sở tại. -Tham gia các hợp đồng kinh tế, hợp đồng kinh doanh: là hình thức mà một chủ đầu tư nước ngoài liên kết một một chủ đầu tư trong nước sở tại để thực hiện một hay nhiều hoạt động kinh doanh ở nước sở tại trên cơ sở qui định rõ về trách nhiệm của từng bên cũng như quyền lợi trong việc phân chia lợi nhuận. Đối với hình thức này thì không cần thành lập công ty hay xí nghiệp hay nói cách khác là không ra đời một tư cách pháp nhân khác tại nước tiếp nhận đầu tư. -Mua lại một phần hay toàn bộ một doanh nghiệp đang hoạt động tại nước tiếp nhận đầu tư. -Góp vốn liên doanh liên kết với nước chủ nhà: các bên tham gia góp vốn liên doanh phải có trách nhiệm góp vốn liên doanh, đồng thời phân chia lợi nhuận và rủi ro theo tỷ lệ góp vốn. CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN TỪ CÁC MNC TỪ NĂM 2006 ĐẾN 2009 CỦA VIỆT NAM. 2.1 Thành tựu về thu hút đầu tư từ MNC: Từ khi thực hiện mở cửa nền kinh tế thì luồng vốn FDI đổ vào nước ta ngày càng nhiều, kể cả về mặt số lượng cũng như chất lượng. Cụ thể là năm 2007, Việt Nam đã thu hút được một lượng FDI kỷ lục là 20,3 tỷ USD và trong năm 2008 là 64 tỷ USD. Đây là một kết quả ngoài sự mong đợi. Với sự có mặt của nhiều công ty đa quốc gia tại Việt Nam như Coca Cola, Pepsi, Intel, Microsoft, Unilever, P&G, Nestle, Metro, PWC, Kao, Avon, Mercedes Benz… cùng với sự bành trướng ra khỏi phạm vi chính quốc (Home Country) bằng nguồn vốn FDI. Nếu năm 2007, Việt Nam thu hút được 20,3 tỷ USD từ FDI và được coi là mức kỷ lục từ khi mở của thu hút vốn đầu tư năm 1988 đến năm 2006. Trong năm 2008, lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã nâng lên gấp 3 lần năm 2007 và lập mốc kỷ lục mới là 64 tỷ USD. Trong đó đáng chú ý là các dự án dầu khí có tổng giá trị trên 10 tỷ USD và dự án của Formosa với 7,8 tỷ USD. Trong các quốc gia đầu tư vào Việt Nam trong năm 2008 thì Malaysia là quốc gia dẫn đầu với 14,9 tỷ USD với 55 dự án . Kế tiếp là các quốc gia Đài Loan (8,64 tỷ USD) với 132 dự án, Nhật Bản (7,28 tỷUSD) với 105 dự án, Singapore ( 4,46 tỷ USD) với 101 dự án, Brunei (4,4 tỷ USD) với 19 dự án. Các địa phương thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nhiều nhất trong năm 2008 là Ninh Thuận do có dự án liên doanh sản xuất thép với tập đoàn Lion Malaysia với tập đoàn Vinashin có tổng mức đầu tư đăng ký là 9,79 tỷ USD. Đứng thứ hai là tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu có 4 dự án với tổng mức vốn đăng ký lên đến 9,35 tỷ USD, TP.HCM, Hà Tĩnh và Thanh Hóa. Như vậy chúng ta có thể thấy cơ cấu các tỉnh thành dẫn đầu trong việc thu hút vốn đầu tư có thay đổi và các tỉnh Miền Trung đã có những bước tiến đáng chú ý. Trong đó đáng chú ý là tỉnh Bà Rịa – Vũng tàu thu hút đến 9,35 tỷ USD (gần bằng cả năm 2006 thu hút vốn đầu tư của cả nước 10,2 tỷ). Tình hình thu hút vốn đầu tư FDI từ năm 2006 đến 2008: Năm  2006  2007  2008   Triệu USD  10.2  20.3  64   (theo Vietpartners) Giai đoạn từ năm 2006 đến 2008 là giai đoạn phục hồi và tăng tốc một cách nhanh chóng của việc thu hút vốn FDI. Sau khi cơn bão tài chính qua đi, kinh tế của các nước Châu Á đã vực dậy và phát triển nhanh chóng. Nền kinh tế Việt Nam cũng không là ngoại lệ. Việt Nam và Trung Quốc trở thành những quốc gia có sức hút mạnh đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài, và luôn nằm trong danh sách các quốc gia dẫn đầu thu hút FDI. Năm 2006, Luật Đầu Tư và Luật Doanh Nghiệp mới ra đời đánh dấu một bước ngoặc mới và một bước tiến quan trọng trên lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực luật pháp. Chính phủ đã phân cấp cho chính quyền tỉnh, thành phố việc thẩm định và cấp phép. Việc này đã tạo ra sự chủ động trong việc quản lý nguồn vốn FDI tại các địa phương và quan trọng hơn là tạo ra một cuộc thi đua giữa các địa phương thực hiện việc cải cách hành chính thông thoáng, tạo ra điều kiện tốt cho môi trường đầu tư. Từ đó tăng cường việc thu hút đầu tư và tạo cho các nhà đầu tư cảm thấy thuận tiện. Kết quả của việc cải cách hành chính của các địa phương cho ta kết quả hết sức khả quan là năm 2006 đạt mức thu hút vốn FDI là 10,2 tỷ USD vượt qua mức kỷ lục năm 1996. Tiếp tục năm 2007, việc thu hút FDI lại lập ra một kỷ lục mới ở mức 20,3 tỷ USD. Năm 2008, mặt dù tính hình kinh tế thế giới khó khăn, giá dầu và lạm phát tăng cao nhưng việc thu hút FDI của Việt Nam vẫn tăng rất cao và tiếp tục tạo ra một kỷ lục mới tại mức 64 tỷ USD. Điều này chứng tỏ Việt Nam là đang là nơi lý tưởng để thu hút vốn đầu tư, và là môi trường đầu tư cạnh tranh. Bảng 1.10 DỰ ÁN FDI LỚN NHẤT NĂM 2008 Dự án  Vốn đăng ký (tỷ USD)   Thép của Lion và Vinashin  9,8   Dự án thép của Formosa  7,8   Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn  6,2   Dự án bất động sản New City  4,3   Khu du lịch Hồ Tràm  4,2   Tổ hợp hóa dầu Long Sơn  3,7   Đô thị đại học quốc tế Berjaya  3,5   Liên doanh Gtel Mobile  1,8   Tổ hợp nghỉ dưỡng Starbay  1,6   Khu khách sạn, giải trí Good Choice  1,3   ( Nguồn: Cục Đầu tư Nước ngoài) CHƯƠNG 3. LỢI THẾ VÀ NHỮNG KHÓ KHĂN CỦA VIỆT NAM TRONG VIỆC THU HÚT NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ TỪ MNC 3.1. LỢI THẾ 3.1.1. Việt Nam – vị trí chiến lược cho các nhà đầu tư Việt Nam là một quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương, ven biển Thái Bình Dương. Việt Nam có đường biên giới trên đất liền dài 4.550 km tiếp giáp với Trung Quốc ở phía bắc, với Lào và Campuchia ở phía tây, phía đông là biển đông. Trên bản đồ, dải đất liền Việt Nam mang hình chữ S, kéo dài từ vĩ độ 23023’ bắc đến 8027’ bắc, dài 1.650 km theo hướng bắc nam, phần rộng nhất trên đất liền dài chừng 500 km; nơi hẹp nhất dài gần 50 km. Việt Nam có ba mặt đông, nam và tây-nam trông ra biển với bờ biển dài 3.260 km, từ Móng Cái ở phía bắc đến Hà Tiên ở phía tây-nam. Phần biển Đông thuộc chủ quyền Việt Nam mở rộng về phía đông và đông nam, có thềm lục địa, các đảo và quần đảo bao bọc. Việt Nam nằm ở vị trí trung tâm của Đông nam á, có thể dễ dàng qua lại cả Trung Quốc lẫn các nước ASEAN và có thể trở thành một đối tác sản xuất chặt chẽ cho cả hai. Đặc biệt, miền Bắc tiếp giáp với biển đông và có tiềm năng liên kết được với nhịp độ phát triển của khu vực năng động này và đó là một ưu thế vượt trội của Việt Nam so với các nước ASEAN trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. 3.1.2. Tình hình chính trị- xã hội ổn định Nhìn chung, Việt Nam được đánh giá là nước có môi trường chính trị và xã hội ổn định so với các nước khác trong khu vực. Tổ chức Tư vấn rủi ro Kinh tế và Chính trị (PERC) tại Hồng Kông xếp Việt Nam ở vị trí thứ nhất về khía cạnh chính trị và xã hội sau sự kiện 11 tháng 9. So với các nước ASEAN khác như Indonesia, Malaysia, Philippine và Trung Quốc, Việt Nam có ít các vấn đề liên quan đến tôn giáo và mâu thuẫn sắc tộc hơn. Sau khi đưa ta chính sách đổi mới, Việt Nam đã và đang đạt được mức tăng trưởng GDP ổn định, sự ổn định chính trị và kinh tế vĩ mô đang được duy trì. Việt Nam được đánh giá là nơi an toàn để đầu tư. Đảng cộng sản Việt Nam đã điều hành đất nước trong nhiều thập kỷ qua và không ai mong muốn có những thay đổi throng môi trường chính trị. Các giới chức đã ủng hộ một chính sách cải cách và quá trình chuyển sang một nền kinh tế đang tiếp tục. Trong khung cảnh của những sự kiện diễn ra trong vài năm liên quan đến chủ nghĩa khủng bố, Việt Nam được biết đến như là một trong những nước an toàn nhất xét về các tội ác chống con người và quyền sở hữu. 3.1.3. Tốc độ tăng trưởng nhanh và ổn định  Đồ thị 2. TỈ LỆ TĂNG TRƯỞNG GDP GIAI ĐOẠN 2000- 2009 ( Nguồn:Tổng cục Thống kê) Trong thời kỳ 2000-2008, kinh tế Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng. tăng trưởng GDP liên tục tạo nên những con số hết sức ấn tượng. Mặc dù gặp nhiều điều kiện không thuận lợi như hạn hán, lũ lụt, bão,dịch cúm gia cầm, và gần đây nhất là cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008. Tăng trưởng GDP trung bình trong giai đoạn 2000 - 2007 đạt 7,6%. Năm 2007, tăng trưởng 8,48%, đây cũng là mức tăng cao nhất từ sau khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997. So với các nước trong khu vực và trên thế giới, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam những năm gần đây khá ấn tượng. Dù đạt được tốc độ tăng trưởng cao nhưng đây không phải là một hiện tượng thần kỳ vì theo tính toán của các nhà kinh tế thì tăng trưởng của Việt Nam đang ở dưới mức tiềm năng. Theo mục tiêu Quốc hội đặt ra, tăng trưởng GDP năm 2009 của Việt Nam là 6,5% 3.1.4. Tiềm năng thị trường dồi dào Với dân số hơn 80 triệu người, Việt Nam có và có thể trở thành một thị trường hấp dẫn đối với các công ty tập trung vào bán hàng trong nước. Tỉ lệ FDI trong các ngành định hướng vào thị trường trong nước như công nghiệp hàng tiêu dung, công nghiệp nặng , bất động sản, sản xuất nguyên vật liệu xây dựng … đạt ở mức tương đối cao. Tuy nhiên, chính sách bảo hộ do chính phủ Việt Nam áp dụng đã khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư trong các lĩnh vực được bảo hộ của chính phủ để hưởng lợi ích từ chính sách bảo hộ của chính phủ hơn là đầu tư vào các ngành mà Việt Nam có lợi thế cạnh tranh. Tóm lại, về khía cạnh thâm nhập thị trường, Việt Nam được đánh giá kém hấp dẫn hơn ASEAN4 và Trung Quốc. Đây là kết quả của chỉ số tổng GDP và GDP trên đầu người tương đối thấp so với ASEAN4 và Trung Quốc. Chỉ số GDP của Việt Nam chỉ bằng 3% của Trung Quốc, 24% của Thái Lan, 29% của Indonesia, 38% của Malaysia và 42% của Philippine. 3.1.5. Nguồn nhân lực dồi dào, giá nhân công rẻ Cả nước năm 2006 ước tính 84,11 triệu người, tăng 1,21% so với dân số năm 2005 trong đó dân số nam 41,33 triệu, nữ 42,78 triệu. Số lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế tại thời điểm 1/7/2006 ước tính là 43,44 triệu người, tăng 2,1% so với cùng thời điểm năm trước. Ngoài ra, giá nhân công của Việt Nam rất thấp so với giá nhân công đang tăng lên ở các nước trong khu vực. Năm 2008, sau khi trở thành điểm gia công phần mềm hấp dẫn, Việt Nam tiếp tục được Hãng nghiên cứu thị trường Gartner công bố nằm trong tốp 10 quốc gia châu Á – Thái bình dương có giá nhân công rẻ. Tuy nhiên, lợi thế này đang mất dần đi. Bởi dù trẻ và dồi dào nhưng nguồn lao động này của nước ta chỉ có sức mà thiếu kỹ năng, kiến thức; và dù chăm chỉ nhưng thiếu tính sang tạo đột phá trong công việc và nghề nghiệp. Theo đánh giá của BSA, cứ 10 sinh viên ra trường thì may ra mới có một sinh viên có thể đạt trình độ đáp ứng yêu cầu công việc. Chỉ với những khả năng này, nhân lực Việt Nam thường bị đánh giá ở tầm thấp. Điều đáng nói là, chúng ta hầu như xuất khẩu lao động phổ thông (lương thấp), trong khi phải nhập khẩu chuyên gia kỹ thuật và quản lý điều hành (đương nhiên mức lương cao). Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đang khát nhân lực cấp cao. Mà chất lượng nguồn nhân lực được coi là yếu tố làm tăng năng lực cạnh tranh. Giờ đây, ngay cả lao động phổ thông không có trình độ, cũng đang mất dần lợi thế ngay trên sân nhà. 3.1.7. Thành công trong hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực Năm 1993 đã khai thông với Quỹ tiền tệ quốc tế(IMF), Ngân hàng Thế giới(WB), Ngân hàng phát triển Châu Á(ADB). Việc đạt được thỏa thuận sớm với EU, một đối tác thương mại lớn có 25 nước thành viên, đã tác động tích cực đối với quá trình đàm phán của Việt Nam. Ngày 25/7/1995 Việt Nam chính thức gia nhập vào hiệp hội các nước Đông Nam Á(ASEAN). Tham gia vào AFTA Chương trình Thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (CEFT). Tháng 3/1996 tham gia diễn đàn Á- Âu (ASEM) với tư cách là thành viên sáng lập 15/6/1996 gửi đơn xin gia nhập diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á- Thái Bình Dương( APEC); 11/1998 được công nhận là thành viên của APEC Năm 2000 ký hiệp định thương mại song phương Việt –Mỹ Tháng 1/1995 gửi đơn xin gia nhập WTO; ngày 11/1/2007 tổ chức thương mại thế giới WTO đã tuyên bố Việt Nam chính thức là thành viên thứ 150 của WTO. 3.1.8. Chính sách đầu tư ngày càng thông thoáng Kể từ lần ban hành đầu tiên(1987) đến nay, luật đầu tư nước ngoài đã từng bước được hoàn thiện nhằm phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước trong từng thời kỳ nằm trong tổng thể tiến trình xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Quy định của luật đầu tư nước ngoài ngày càng thông thoáng và thuận lợi hơn cho hoạt động đầu tư, kinh doanh, xóa bỏ dần sự cách biệt giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài để tiến tới xây dựng một khung pháp luật đầu tư thống nhất, phù hợp với thông lệ quốc tế và đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. 3.2. KHÓ KHĂN 3.2.1. Cơ sở hạ tầng vật chất kém C
Luận văn liên quan