Đề tài Tìm hiểu pháp luật đảm bảo an toàn trong hoạt động huy động vốn của các tổ chức tín dụng và thực tiễn áp dụng

Phát triển bền vững là điều mà các quốc gia luôn luôn mong đợi, quan điểm này được thể hiện ở hầu hết các lĩnh vực, trong đó lĩnh vực tài chính ngân hàng không nằm ngoài ý nghĩa của quan điểm này. Điều này thể hiện một quốc gia có nền kinh tế phát triển phải có một hệ thống các quy định nhằm đảm bảo an toàn hoạt động của các thiết chế tài chính, tránh cho các thiết chế này khỏi những rủi ro, tổn thất. Từ đó, các thiết chế tài chính sẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển và ngược lại nền kinh tế sẽ tạo môi trường thuận lợi cho các thiết chế tài chính hoạt động. Nhằm góp phần tìm hiểu, phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật trong việc đảm bảo an toàn cho hoạt động huy động vốn của các tổ chức tín dụng, em xin chọn đề tài “Tìm hiểu pháp luật đảm bảo an toàn trong hoạt động huy động vốn của các tổ chức tín dụng và thực tiễn áp dụng” làm đề tài bài tập học kỳ của mình. Ngoài phần lời nói đầu và kết luận, bài viết bao gồm 3 nội dung chính sau: I. Khái niệm về tổ chức tín dụng II. Pháp luật đảm bảo an toàn trong hoạt động huy động vốn của các tổ chức tín dụng và thực tiễn áp dụng III. Một số đề xuất pháp lý nhằm hoàn thiện các quy định về đảm bảo an toàn cho hoạt động huy động vốn của các tổ chức tín dụng

doc20 trang | Chia sẻ: ngtr9097 | Ngày: 27/05/2013 | Lượt xem: 1776 | Lượt tải: 6download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Tìm hiểu pháp luật đảm bảo an toàn trong hoạt động huy động vốn của các tổ chức tín dụng và thực tiễn áp dụng, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI NÓI ĐẦU Phát triển bền vững là điều mà các quốc gia luôn luôn mong đợi, quan điểm này được thể hiện ở hầu hết các lĩnh vực, trong đó lĩnh vực tài chính ngân hàng không nằm ngoài ý nghĩa của quan điểm này. Điều này thể hiện một quốc gia có nền kinh tế phát triển phải có một hệ thống các quy định nhằm đảm bảo an toàn hoạt động của các thiết chế tài chính, tránh cho các thiết chế này khỏi những rủi ro, tổn thất. Từ đó, các thiết chế tài chính sẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển và ngược lại nền kinh tế sẽ tạo môi trường thuận lợi cho các thiết chế tài chính hoạt động. Nhằm góp phần tìm hiểu, phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật trong việc đảm bảo an toàn cho hoạt động huy động vốn của các tổ chức tín dụng, em xin chọn đề tài “Tìm hiểu pháp luật đảm bảo an toàn trong hoạt động huy động vốn của các tổ chức tín dụng và thực tiễn áp dụng” làm đề tài bài tập học kỳ của mình. Ngoài phần lời nói đầu và kết luận, bài viết bao gồm 3 nội dung chính sau: Khái niệm về tổ chức tín dụng Pháp luật đảm bảo an toàn trong hoạt động huy động vốn của các tổ chức tín dụng và thực tiễn áp dụng Một số đề xuất pháp lý nhằm hoàn thiện các quy định về đảm bảo an toàn cho hoạt động huy động vốn của các tổ chức tín dụng I. KHÁI NIỆM VỀ TỔ CHỨC TÍN DỤNG Để có thể đi vào tìm hiểu pháp luật đảm bảo an toàn trong hoạt động huy động vốn của các tổ chức tín dụng thì trước tiên ta phải hiểu tổ chức tín dụng là gì, các hình thức tổ chức tín dụng và đặc điểm của tổ chức tín dụng. Theo Luật sửa đổi bổ sung Luật các tổ chức tín dụng năm 2004, khái niệm “tổ chức tín dụng” được quy định: “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lâp theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động ngân hàng”. Điểm đặc trưng của tổ chức tín dụng theo Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi năm 2004 là “hoạt động ngân hàng”- hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán. Từ khái niệm trên có thể nhận thấy các đặc điểm nổi bật của tổ chức tín dụng so với các hình thức khác là: Thứ nhất, đối tượng kinh doanh của các tổ chức tín dụng là tiền tệ- vật mang giá. Đối với các chủ thể mua bán thông thường, tiền tệ là phương tiện thanh toán dùng trong các hoạt động mua bán, trao đổi. Còn đối với các tổ chức tín dụng, tiền tệ còn có thêm chức năng là đối tượng kinh doanh. Một đối tượng kinh doanh tiềm ẩn nhiều rủi ro. Bởi lẽ các hàng hoá thông thường bản thân nó đã kết tinh giá trị và sức lao động của người tạo ra nó, bởi vậy giá cả của nó là do nó quy định. Còn đối với tiền tệ, một phương tiện thanh toán, bản thân nó không tự quy định được giá trị của nó, bởi vậy người kinh doanh nó sẽ cũng không thể quyết định được và ấn định được giá cả. Sự lên xuống của đồng tiền phụ thuộc vào các yếu tố khách quan khác như: chính sách nhà nước, tình hình kinh tế- xã hội… Thứ hai, hoạt động thường xuyên của tổ chức tín dụng đó là nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán mà vẫn được đề cập đến một cách ngắn gọn là “đi vay để cho vay”. Không phải tất cả các chủ thể kinh doanh đều có đủ vốn để phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh. Và cũng không phải lúc nào các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội cũng được huy động để đầu tư kịp thời. Từ những hạn chế đó, họ đã trở thành khách hàng của các tổ chức tín dụng. Do đó, với tư cách là những định chế tài chính trung gian, các tổ chức tín dụng kinh doanh bằng cách luân chuyển nguồn vốn từ những đối tượng có nguồn vốn nhàn rỗi chuyển đến những đối tượng có nhu cầu sử dụng vốn tại một thời điểm nhất định. Thứ ba, hoạt động của các tổ chức tín dụng có tính nhạy cảm cao và luôn chịu sự giám sát chặt chẽ của pháp luật. Kinh doanh ngân hàng dựa trên niềm tin, vì vậy tính nhạy cảm trong kinh doanh rất cao. Chỉ cần một biến động nhỏ cũng có thể gây tác động đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng (một thay đổi nhỏ về lãi suất cũng có thể dẫn đến sự dịch chuyển khách hàng từ ngân hàng này sang ngân hàng khác). Nếu các tổ chức tín dụng hoạt động tốt sẽ góp phần tiết kiệm các nguồn lực, giảm thiểu chi phí cho xã hội, tạo điều kiện cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển bền vững. Ngược lại, khi tổ chức tín dụng phá sản sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các khách hàng gửi tiền và sự phá sản của tổ chức tín dụng luôn có hiệu ứng dây chuyền, lây lan rất lớn và tác động xấu đến đời sống kinh tế, cho nên các hoạt động kinh doanh ngân hàng phải được giám sát chặt chẽ, thường xuyên bằng pháp luật. Những quy chế giám sát phổ biến là: quy định về an toàn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, quy chế phân phối tín dụng, quy chế về bảo vệ nhà đầu tư, quy chế về thành lập và cấp giấy phép kinh doanh cho các tổ chức tín dụng… Thứ tư, kinh doanh ngân hàng gắn liền với yếu tố rủi ro. Rủi ro có thể xảy ra với bất kỳ loại hình kinh doanh nào. Tuy nhiên, rủi ro tropng kinh doanh ngân hàng có những đặc điểm khác biệt với các lĩnh vực kinh doanh khác về mức độ và nguyên nhân. Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng có tính lan truyền và để lại hậu quả to lớn, không chỉ bao gồm rủi ro nội tại của ngành mà còn của tất cả các ngành khác trong nền kinh tế, không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà còn ảnh hưởng đến nhiều quốc gia khác. Những rủi ro thường gặp là: rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh toán, rủi ro hối đoái, rủi ro trong quá trình hội nhập. Với các phân tích trên, có thể nhận thấy tổ chức tín dụng là một chủ thể kinh doanh đặc thù. Chúng có thể được nhận dạng dựa theo nhiều tiêu chí: - Nếu theo các lĩnh vực hoạt động, có thể chia thành tổ chức tín dụng là ngân hàng- được kinh doanh tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động có liên quan, và tổ chức tín dụng phi ngân hàng- được thực hiện một số hoạt động ngân hàng như là nội dung kinh doanh thường xuyên nhưng không nhận được tiền gửi không kỳ hạn, không làm dịch vụ thanh toán. - Nếu theo hình thức sở hữu, có thể chia thành tổ chức tín dụng nhà nước, tổ chức tín dụng tư nhân và tổ chức tín dụng có vốn đầu tư nước ngoài. Huy động vốn là một quyền năng đặc thù của các tổ chức tín dụng. Việc huy động vốn không chỉ đơn thuần là một hình thức kêu gọi vốn góp nhàn rỗi nhằm mục đích bổ sung vốn kinh doanh, mà còn là một hình thức kinh doanh đem lại lợi nhuận. Việc huy động vốn của các tổ chức tín dụng rất đa dạng và được thực hiện bằng chính các nghiệp vụ kinh doanh của các tổ chức tín dụng như nhận tiền gửi của các khách hàng cá nhân, khách hàng doanh nghiệp; phát hành giấy tờ có giá; vay vốn từ ngân hàng nhà nước; từ các tổ chức tín dụng khác…Các nguồn vốn huy động được trở thành nguồn vốn huy động chủ yếu của tổ chức tín dụng. II. PHÁP LUẬT ĐẢM BẢO AN TOÀN TRONG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG Huy động vốn là một “mảnh đất” hoạt động rất sôi động với quyền chủ động thuộc về các tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, những lợi thế trong các hoạt động huy động vốn của các tổ chức tín dụng vẫn nằm trong sự quản lý của nhà nước. Quyền huy động vốn dưới nhiều hình thức của các tổ chức tín dụng bị hạn chế bởi những quy định về bảo đảm an toàn. Pháp luật Việt Nam đã quy định bốn hình thức huy động vốn của tổ chức tín dụng là nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, vay vốn giữa các tổ chức tín dụng, và vay vốn của Ngân hàng nhà nước. Với các hình thức khá đa dạng như vậy, phần nào đã tạo được sự ổn định, chất lượng về vốn và đáp ứng kịp thời khả năng chi trả. Trong mỗi hình thức đó, pháp luật cũng đặt ra những yêu cầu, điều kiện riêng thích ứng nhằm bảo toàn tốt nhất cho các nguồn huy động vốn. 1. Đảm bảo an toàn cho hoạt động nhận tiền gửi Trong các hình thức huy động vốn thì nhận tiền gửi là hình thức chủ yếu và quan trọng nhất bởi nguồn vốn kinh doanh của các tổ chức tín dụng tập trung phần lớn ở đây. Tuy nhiên nghiệp vụ này lại chứa đựng những rủi ro nhất định do các tổ chức tín dụng dễ lâm vào tình trạng không thanh toán, hoàn trả được tiền gửi của khách hàng, không bảo vệ được quyền lợi của người gửi tiền, người đầu tư. Do vậy, luật các tổ chức tín dụng cũng như các văn bản hướng dẫn đã rất chú trọng tới loại quy phạm an toàn này trong các quy định cụ thể của mình. a. Quy định về hình thức các loại tiền gửi được nhận của các loại hình tổ chức tín dụng Với các tổ chức tín dụng là ngân hàng. Nếu như tại pháp lệnh ngân hàng trước kia, các hình thức nhận tiền gửi không được quy định rõ thì tại Luật các tổ chức tín dụng đã quy định khách hàng được gửi tiền vào ngân hàng dưới hình thức không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Quy định này một mặt đáp ứng nhu cầu của khách hàng, mặt khác đảm bảo cho ngân hàng tập trung thu hút được mọi khoản tiền nhàn rỗi trong dân cư, dù là nhỏ nhất. Bên cạnh ý nghĩa đó, quy định này còn có vai trò rất quan trọng và cần thiết cho sự an toàn tiền gửi của khách hàng. Việc phân ra các hình thức tiền gửi giúp cho ngân hàng có kế hoạch sử dụng vốn phù hợp, thích ứng với tính chất từng loại tiền gửi. Điều này thể hiện rõ nhất trong quy định về tỉ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn. Với tổ chức tín dụng phi ngân hàng. Khác với loại hình ngân hàng, pháp luật cho phép nhận mọi loại tiền gửi, với tổ chức tín dụng phi ngân hàng, pháp luật quy định chỉ được nhân tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên của tổ chức, cá nhân. Sở dĩ như vậy bởi loại chủ thể này kinh doanh dài hạn, nên việc nhận tiền gửi không kỳ hạn hoặc kỳ hạn nhỏ hơn 12 tháng để cấp tín dụng thì rủi ro mất khả năng chi trả là rất lớn. Pháp luật một số nước trên thế giới cũng quy định giới hạn về nhận tiền gửi đối với loại tổ chức tín dụng chuyên đầu tư dài hạn này. Chẳng hạn như Đạo luật 372- luật về các tổ chức tài chính và ngân hàng Malaysia 1989 tại Điều 33 quy định: một công ty tài chính, ngân hàng đầu tư hay trung tâm triết khấu sẽ không được nhận tiền gửi không kỳ hạn do người gửi tiền tại các tổ chức đó được hoàn trả bằng séc, hối phiếu, lệnh phiếu hay các loại công cụ thanh toán khác. Ngoài ra, theo pháp luật Việt Nam, tổ chức tín dụng phi ngân hàng không được nhận tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác bởi vì tính chất kinh doanh kéo dài của nó dễ gây ra rủi ro lan truyền cũng như làm ảnh hưởng tới hoạt động bình thường của các tổ chức tín dụng khác do việc tập trung vốn quá lâu ở một nơi. Với các tổ chức tín dụng có đặc điểm riêng biệt như tổ chức tín dụng nước ngoài hay hợp tác xã tín dụng thì cũng có những hạn chế nhất định trong các hình thức huy động tiền gửi của mình. Ngân hàng nước ngoài thì không được nhận tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn của dân cư nhằm đảm bảo an toàn cho số tiền tiết kiệm này bởi yếu tố nước ngoài gây khó khăn cho việc quản lý hơn là các ngân hàng trong nước. Còn hợp tác xã tín dụng chỉ được huy động vốn của xã viên mà không được huy động vốn rộng rãi trong dân chúng. Điều này là hợp lý khi mà mục tiêu hoạt động của nó chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống. Việc vay vốn rộng rãi từ dân chúng để phục vụ lợi ích cho bản thân nhóm người này sẽ dẫn đến những tiêu cực ảnh hưởng đến quyền lợi của những người gửi tiền khác. Như vậy, các quy định về hình thức nhận tiền gửi của các tổ chức tín dụng đã bước đầu tạo ra sự an toàn tối thiểu cho hoạt động huy động vốn. b. Quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn Vì là chủ thể cầm giữ tiền của rất nhiều cá nhân, tổ chức trong xã hội nên các tổ chức tín dụng sẽ gặp nguy hiểm khi có thể do không chi trả được tiền gửi do một nguyên nhân nào đó. Do vậy, để đảm bảo an toàn thì pháp luật các nước cũng như pháp luật Việt Nam đều định ra các tỷ lệ bảo đảm an toàn nhất định mà việc duy trì nó sẽ đảm bảo được phần nào khả năng thanh toán, trả nợ của các tổ chức tín dụng. Trước hết, các tổ chức tín dụng khi thực hiện hoạt động nhận tiền gửi phải đảm bảo các quy định về khả năng chi trả. Theo quy định tại Điều 12 Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN, tổ chức tín dụng phải thường xuyên đảm bảo tỷ lệ về khả năng chi trả: “1. Tỷ lệ tối thiểu 25% giữa giá trị các tài sản “có” có thể thanh toán ngay và các tài sản “nợ” sẽ đến hạn thanh toán trong thời gian 1 tháng tiếp theo. 2. Tỷ lệ tối thiểu bằng 1 giữa tổng tài sản “có” có thể thanh toán ngay trong khoảng thời gian 7 ngày làm việc tiếp theo và tổng tài sản nợ phải thanh toán trong khoảng thời gian 7 ngày tiếp theo.” Tài sản “có” được phân nhóm theo các mức độ rủi ro bao gồm nhóm tài sản “có” hệ số rủi ro 0%, 20%, 50% và 100%. Thứ hai, các tổ chức tín dụng khi thực hiện hoạt động nhân tiền gửi phải đảm bảo các quy định về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu. Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu được xác định bằng tỷ lệ giữa vốn tự có so với tài sản “có”, kể cả các cam kết ngoại bảng được điều chỉnh theo mức độ rủi ro. Vốn tự có của các tổ chức tín dụng ngoài vốn điều lệ còn gồm quỹ dự đặc biệt, các tài sản cố định. Còn tài sản “có” thì ngoài vốn tự có còn gồm các khoản vốn huy động khác. Việc khống chế mức tối đa về huy động vốn so với vốn tự có là rất quan trọng, tránh huy động vốn một cách ồ ạt và tuỳ tiện, không theo đúng thực lực của ngân hàng. Sẽ rất phương hại đến người gửi bởi nó sẽ thiếu tiềm lực tài chính để bù đắp rủi ro và chi trả cho khách hàng. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN thì các tổ chức tín dụng (trừ chi nhánh ngân hàng nước ngoài) phải duy trì tỷ lệ tối thiểu 8% giữa vốn tự có so với tổng tài sản “có” rủi ro. Nếu tổ chức tín dụng có tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu thấp hơn mức quy định thì phải tăng đủ 8% trong thời hạn tối đa là 3 năm. Tỷ lệ này càng lớn chứng tỏ vốn tự có lớn, tiền gửi huy động vừa phải, vì thế việc mất khả năng thanh toán giảm xuống. Tuy nhiên, với tỷ lệ 8% cũng đã tạo điều kiện và đảm bảo cho các tổ chức tín dụng mở rộng và phát triển kinh doanh. Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là một thước đo độ an toàn vốn của ngân hàng. Nó được tính theo tỷ lệ phần trăm của tổng vốn cấp I và vốn cấp II so với tổng tài sản đã điều chỉnh rủi ro của ngân hàng. Các nhà quản lý ngân hàng các nước luôn xác định rõ và giám sát các tổ chức tín dụng phải duy trì 1 tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu. Ở Việt Nam, tỷ lệ này hiện đang là 8%, phù hợp với chuẩn mực Basel mà các hệ thông ngân hàng trên thế giới áp dụng phổ biến. Thứ ba, tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn. Với tiền gửi không kỳ hạn thì người gửi có thể rút ra bất kỳ lúc nào, còn tiền gửi ngắn hạn thì được rút ra nhanh chóng. Trong khi đó, một nguyên tắc trong hoạt động của các tổ chức tín dụng là đi vay để cho vay, vì thế tất yếu số tiền huy động được nhận từ tiền gửi và cũng sẽ cho vay, có thể ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Từ đó phát sinh ra một nguy cơ rủi ro rất cao khi khách hàng đến rút tiền mà tổ chức tín dụng lại không thanh toán được bởi tiền đã tạo thành vốn trung hạn hoặc dài hạn cho nền kinh tế, tổ chức tín dụng không thể rút lại số tiền đã cho vay khi chưa đáo hạn. Do vậy, việc quy định tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn, dài hạn là hết sức cần thiết, việc cho vay tuỳ tiện dẫn đến mất khả năng thanh toán. Tỷ lệ này càng nhỏ thì càng an toàn cho các tổ chức tín dụng nhưng đồng thời nó vẫn phải tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng gia tăng tín dụng trung, dài hạn cho nền kinh tế. Theo Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN, tỷ lệ này đối với Ngân hàng thương mại là 40% và đối với các tổ chức tín dụng khác là 30%. Thứ tư, tỷ lệ tối đa dư nợ cho vay so với số dư tiền gửi. Tổ chức tín dụng khi có được tiền gửi luôn mong muốn cho vay nhiều để thu lợi nhuận. Trong khi đó hoạt động cho vay luôn chứa nhiều bất trắc, việc không thu hồi được nợ hoặc thu hồi chậm trong khi không còn dư một khoản tiền nào bù đắp cho việc thanh toán là hết sức nguy hiểm. Nếu không quy định tỷ lệ tối đa dư nợ cho vay so với số tiền gửi tức là đã không cho tổ chức tín dụng “một lối thoát” để đảm bảo an toàn. Vì thế với tư cách là trung gian tài chính, luôn có nghĩa vụ thanh toán đầy đủ cho khách hàng, không bao giờ các tổ chức tín dụng lại cho vay hết số tiền gửi mà mình nhận được. Thứ năm, các tỷ lệ bảo đảm an toàn khác. Hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng không chỉ dừng lại ở việc cấp tín dụng, làm dịch vụ thanh toán mà còn có các hoạt động khác như góp vốn, mua cổ phần, kinh doanh bất động sản… Đây là những hoạt động đòi hỏi đầu tư khá nhiều vốn, vì thế nếu không quy định một tỷ lệ nhất định trong việc đầu tư vào những hoạt động này sẽ dễ gây ảnh hưởng, rủi ro tới các hoạt động kinh doanh chính yếu của tổ chức tín dụng. c. Quy định về dự trữ bắt buộc Các tổ chức tín dụng có nhận tiền gửi phải mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng nhà nước và duy trì tại đó số dư bình quân không thấp hơn mức dự trữ bắt buộc do Ngân hàng nhà nước quy định. (Theo Khoản 2 Điều 65 Luật các tổ chức tín dụng) Dự trữ bắt buộc, hay tỷ lệ dự trữ bắt buộc là một quy định của Ngân hàng trung ương về tỷ lệ giữa tiền mặt và tiền gửi các tổ chức tín dụng bắt buộc phải tuân thủ để đảm bảo tính thanh khoản. Các Ngân hàng có thể giữ tiền mặt cao hơn hoặc bằng tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhưng không được phép giữ tiền mặt ít hơn tỷ lệ này. Nếu thiếu hụt tiền mặt các Ngân hàng thương mại phải vay thêm tiền mặt, thường là từ Ngân hàng trung ương để đảm bảo tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Đây là một trong những công cụ của Ngân hàng trung ương nhằm thực hiện chính sách tiền tệ bằng cách làm thay đổi số nhân tiền tệ. Năm 2008, nền kinh tế nước ta được dự báo tiếp tục tăng trưởng ở mức cao, thu hút vốn đầu tư nước ngoài thuận lợi, nhưng việc kiểm soát tốc độ tăng chỉ số gia tăng tiêu dùng thấp hơn tăng trưởng kinh tế gặp khó khăn, do giá cả hàng hoá diễn biến phức tạp. Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài gia tăng, gây sức ép tăng giá Việt Nam đồng và kéo theo phương tiện thanh toán bằng ngoại tệ tăng lên. Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Ngân hàng nhà nước điều hành các công cụ chính sách tiền tệ một cách chủ động theo nguyên tắc thị trường nhằm ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Để chủ động kiểm soát tổng phương tiện thanh toán phù hợp với các mục tiêu chính sách tiền tệ, Thống đốc Ngân hàng nhà nước đã ban hành Quyết định số 187/2008/QĐ-NHNN ngày 16-1-2008 về việc điều chỉnh dự trữ bắt buộc đối với tổ chức tín dụng với nội dung chủ yếu như sau: Một là, hiện nay, áp dụng dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn từ 24 tháng trở xuống, tức là mở rộng diện các loại tiền gửi phải dự trữ bắt buộc bao gồm các loại tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn. Hai là, điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc 1% đối với các loại tiền gửi so với tỷ lệ quy định hiện nay. Cụ thể là, đối với tiền Việt Nam đồng không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng, tỉ lệ dự trữ bắt buộc được tăng từ 10% lên 11%, đối với tiền gửi có kỳ hạn 12 tháng trở lên, tỷ lệ dự trữ bắt buộc được tăng từ 4% lên 5%; Đối với tiền gửi bằng ngoại tệ không kỳ hạn và cón kỳ hạn dưới 12 tháng tăng từ 10% lên 11%, đối với tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng từ 4% lên 5% Ba là, không điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng hoạt động trên địa bàn nông nghiệp nông thôn (Ngân hàng nông nghiệp, Ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn, Quỹ tín dụng nhân dân trung ương, Ngân hàng hợp tác) nhằm hỗ trợ các tổ chức tín dụng này mở rộng tác dụng phục vụ phát triển kinh tế nông nghiệp- nông thôn. Bốn là, việc thay đổi cơ chế và tỷ lệ dự trữ bắt buộc chưa áp dụng ngay trong tháng 1 năm 2008 mà có hiệu lực thi hành kể từ tháng 2 năm 2008 để tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng chuẩn bị vốn để dự trữ bắt buộc. d. Quy định về bảo hiểm tiền gửi Tổ chức tín dụng có thực hiện hoạt động nhận tiền gửi phải tham gia tổ chức bảo toàn hoặc bảo hiểm tiền gửi (theo quy định tại Khoản 1 Điều 17 Luật các tổ chức tín dụng). Bảo hiểm tiền gửi là loại hình bảo hiểm phi thương mại, theo đó tổ chức tín dụng và các tổ chức có hoạt động nhận tiền gửi của các cá nhân bằng đồng Việt Nam thì bắt buộc phải tham gia đóng phí bảo hiểm tiền gửi cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam. Khi có văn bản chấm dứt hoạt động đối với tổ chức tín dụng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tổ