Đề tài Video teleconference _ điện thoại hội nghị

Điện thoại hội nghị thực chất là như điện thoại thông thường (như các điện thoại để bàn). Khác biệt duy nhất là MIC ngoài nhậy có thể thu âm thanh từ xa và có LOA NGOÀI phát ra lớn cho cả phòng cùng nghe. Nhiều người không ở cùng một nơi, thông qua đường dây điện thoại đường dài, đường dây điện thoại nội hạt hoặc đường dây điện thoại nối đến các thôn để liên kết với nhau, dùng điện thoại để mở cuộc họp, tên nghiệp vụ của điện thoại này là “ điện thoại hội nghị_teleconference”.

pdf35 trang | Chia sẻ: oanh_nt | Ngày: 26/07/2014 | Lượt xem: 1992 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Video teleconference _ điện thoại hội nghị, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Chủ đề : VIDEO TELECONFERENCE _ ĐIỆN THOẠI HỘI NGHỊ Thành viên : 1. Nguyễn Minh Trang 2. Phạm Thu Hòa 3. Hoàng Phương Thúy 4. Lý Chiến Công 5. Phạm Thị Thu Hoài 6. Phương Anh 7. Hoàng Hải My 8. Nguyễn Tuấn Tùng TELECONFERENCE _ ĐIỆN THOẠI HỘI NGHỊ I. Tổng quan về điện thoại hội nghị 1. Định nghĩa Điện thoại hội nghị thực chất là như điện thoại thông thường (như các điện thoại để bàn). Khác biệt duy nhất là MIC ngoài nhậy có thể thu âm thanh từ xa và có LOA NGOÀI phát ra lớn cho cả phòng cùng nghe. Nhiều người không ở cùng một nơi, thông qua đường dây điện thoại đường dài, đường dây điện thoại nội hạt hoặc đường dây điện thoại nối đến các thôn để liên kết với nhau, dùng điện thoại để mở cuộc họp, tên nghiệp vụ của điện thoại này là “ điện thoại hội nghị_teleconference”. 2. Lịch sử hình thành Teleconferencing lần đầu tiên được giới thiệu trong năm 1960 ở Mỹ và Picturephone Telegraph. Vào thời điểm đó, tuy nhiên, không có nhu cầu tồn tại cho công nghệ mới. Chi phí đi lại hợp lý và người tiêu dùng không muốn trả phí dịch vụ hàng tháng cho việc sử dụng picturephone, nó được coi là mới lạ hơn như một phương tiện thực tế để giao tiếp hàng ngày. Nhưng mọi thứ đã thay đổi trong 10 năm qua. Teleconference được sử dụng rộng rãi và được coi là cách thưc tuyệt vời nhằm tiết kiệm thời gian và chi phí đi lại 3. Cách thức tiến hành hội nghị Hiện nay, ngành bưu điện có phòng điện thoại hội nghị chuyên dụng. Các bộ ngành của Nhà nước hoặc một số cơ quan cũng có teleconference hoặc phòng teleconference riêng, để tạo điều kiện triển khai các hội nghị hoặc huấn luyện nhân viên tham gia hội nghị. Trung Quốc cũng có thể tổ chức các teleconference mang tính toàn quốc từ trung ương đến các tinhr, thành phố, huyện hay như đến các thị trấn. Các bộ, ngành, đơn vị cũng có thể mở ra các điện thoại hội nghị cỡ nhỏ. Mở điện thoại hội nghị đường dài phải đăng ký trước phòng teleconference với ngành bưu điện, nói rõ thời gian mở hội nghị, chủ đề của hội nghị, số người… Phòng hội nghị căn cứ vào nội dung đăng ký sẽ thông báo cho các đơn vị hoặc ấn định thời gian nghe cho những người tham gia. Chủ tịch hội nghị được trang bị máy kết nối, tập hợp điện thoại hội nghị tại chỗ, các nơi họp đều có điện thoại hội nghị Máy kết nối tập hợp điện thoại hội nghị là thiết bị do máy tính điều khiển, nó nối các máy điện thoại hội nghị ở các nơi để tiện cho việc truyền tin tức của nơi hội nghị chính. Tin tức truyền đi của các thành viên tham gia hội nghị ở các nơi để tiện cho việc truyền tin tức của nơi hội nghị chính. Tin tức truyền đi của các thành viên tham gia hội nghị ở các nơi thì chịu điều khiển của Chủ tịch hội nghị và nhân viên trực máy, yêu cầu phát biểu của người tham gia hội nghị được chuyển đến chủ tịch hội nghị thông qua nhân viên trực máy, chỉ khi được sự cho phép của chủ tịch thì nhân việc trực máy mới được phép nối máy, người phát biểu mới được phát biểu cho những người tham gia hội nghị nghe thấy. Điều này là để tránh việc có tạp âm của các nơi tham gia hội nghị lẫn vào đường dây hội nghị, đồng thời đảm bảo chất lượng âm thanh của điện thoại hội nghị. Điện thoại hội nghị còn có micro, đường dây thu phát âm để tiện cho nhiều người nói và nhiều người nghe. Nó còn phối hợp với máy ghi âm để tiện cho việc chuẩn bị chương trình và lưu trữ thông tin. Các máy kết nối nội bộ cũng có chức năng của điện thoại hội nghị, có thể tổ chức hội nghị qua điện thoại, bình thường có thể do nhân viên trực điện thoại căn cứ vào thông tin trong hội nghị, thông qua tổng đài điện thoại để kết nối các máy tham gia hội nghị, tiến hành hội nghị qua điện thoại 4. Phân loại teleconference Hôm nay, teleconferencing được sử dụng theo nhiều cách. Có ba loại cơ bản:  Hội nghị truyền hình - truyền thông tăng cường với âm thanh.  Máy tính in hội nghị truyền thông tin liên lạc thông qua thiết bị đầu cuối bàn phím.  Audio - hội nghị giao tiếp bằng lời qua điện thoại với khả năng tùy chọn cho telewriting hoặc telecopying. Trong một số chương trình mở rộng nhà nước (Wisconsin và Illinois), teleconferencing là một kỹ thuật giao tiếp cơ bản. 5. Ưu điểm và nhược điểm của teleconference Ưu điểm Nhược điểm - Nâng cao hiệu suất làm việc của - Vì không gặp mặt trực tiếp nên mọi người khó tạo dựng các mối quan hệ, và khó - Tiết kiệm được chi phí và thời tạo được không khí thoải mái gian - Đôi khi gặp trục trặc kỹ thuật - Công ty sử dụng teleconference làm cho cuộc họp, buổi hội nghị giúp lưu trữ, thu thấp các cuộc họp để không thành công hoặc bị gián đoạn giúp cho quá trình tổng hợp và đánh - Không phải bao giờ giá chính xác hơn sau tháng, quý, năm teleconference cũng tốt, có nhiều vấn hoạt động đề không thể giải quyết được - Mang lại thông tin đầy đủ, chính - Vấn đề về an ninh không được xác cho những người không thể tham đảm bảo, đặc biệt trong thời đại có gia nhiều rủi ro như ngày nay - Giúp cho cuộc họp hoặc hội nghị - Nhiều người còn lạ lầm và chưa diễn ra dễ dàng hơn, nhiều bên có thể quen với hình thức này. Điều đó gây tham gia hơn từ nhiều địa điểm khác cản trở cho cuộc họp nhau - Teleconference cũng rất hữu ích cho các nhà quản lý để quản lý những nhân viên của mình từ xa, cũng như hướng dẫn mọt dự án cho nhiều nhân viên của họ cùng một lúc mà không cần gặp mặt trực tiếp II. Các nhà cung cấp dịch vụ  ACT Conferencing  MeetingZone  Adobe Acrobat Connect  Microsoft Office Live Meeting  CO2 Neutral Conferencing  my Global Conference  Elluminate  Polycom  Glance  PowWowNow  GoToMeeting  Premiere Global Services  InterCall  Skype  IOCOM  Voxeet  LifeSize  WebEx ACT cofenrence Cung cấp dịch vụ hội nghị toàn cầu: sự kiện âm thanh, video, web và đa phương tiện. Công ty sử dụng khoảng 350 người, những người đang nằm trong văn phòng trụ sở gần Denver, Colorado, Hoa Kỳ, trong Lynnfield, Massachusetts, Hoa Kỳ, và trong các cơ quan khác trong Canada, Vương quốc Anh, Pháp, Đức, Hà Lan, Hồng Kông, Malaysia, Singapore và Úc. ACT Hội nghị cũng hoạt động như Teleconferencing ACT. Theo Online Hoover, công ty mục tiêu khách hàng trong một loạt các ngành công nghiệp, bao gồm chăm sóc tài chính y tế, quan hệ nhà đầu tư, pháp lý, chính phủ, sản xuất, và công nghệ. Được thành lập tại Lakewood, Colorado, Mỹ, vào năm 1989, ACT nhận được tài trợ trong năm 2005 từ Dolphin Direct, một trụ sở tại New York quỹ cổ phần tư nhân. Theo sách kỷ lục Guinness, ACT giữ kỷ lục cho các cuộc gọi hội nghị lớn nhất điện thoại, kết nối với 10.424 người. Lưu ý rằng hành động mua lại Proximity, Inc, một trong những nhà cung cấp các dịch vụ hội nghị truyền hình phòng lớn nhất thế giới, vào đầu năm 2002 Encyplopedia.com. Phạm vi dịch vụ hội nghị truyền từ theo yêu cầu, dịch vụ tự tùy chỉnh các sự kiện toàn cầu đa phương tiện. Quay số địa phương là có sẵn cho người tham gia tại hơn 65 quốc gia. ACT sử dụng một số các tàu sân bay trong khu vực bao gồm AT & T, Rogers Telecom, Verizon, COLT Telecom, AAPT, PCCW và SingTel. Elluminate Elluminate Live! là một chương trình hội nghị truyền web được phát triển bởi Elluminate Inc Elluminate cho thuê phòng ảo hoặc vSpaces trường ảo và các doanh nghiệp có thể tổ chức các lớp học và các cuộc họp. Elluminate đã được mua lại bởi Blackboard Inc Trong khi Elluminate được thiết kế chủ yếu được sử dụng cho các mục đích giáo dục, nó cũng được sử dụng bởi các tổ chức đào tạo và tập đoàn. K12 Inc , Desire2learn và một số trường khác và doanh nghiệp sử dụng Elluminate sống như một phần của chương trình giảng dạy và các cuộc họp của họ. Elluminate Live! công cụ truyền thông bao gồm thoại tích hợp trên IP và teleconferencing, chat công cộng và tư nhân, quizzing và bỏ phiếu, biểu tượng cảm xúc, và một công cụ webcam. Phần mềm bao gồm một số công cụ trực quan, bao gồm cả bảng trắng, chia sẻ ứng dụng, chuyển tập tin, và tour du lịch web. Phần mềm này cũng bao gồm một tính năng kỷ lục, cho phép người điều tiết để ghi lại các lớp học cho những người khác để xem sau cũng như một công cụ đồ họa, phòng đột phá cho công việc của nhóm, và hẹn giờ. Bảng hỗ trợ tải lên các bài thuyết trình để xem trên bảng trắng cho lớp học hoặc phòng họp. Để sử dụng Elluminate, người sử dụng cần Java Web Start hoặc Java SE bởi Sun Microsystems. Elluminate Sống được thiết kế để sử dụng trên tất cả các máy tính, cung cấp cho họ đã cài đặt Java . Elluminate cũng được thiết kế để làm việc trên các kết nối Internet bao gồm truyền hình cáp / DSL và 28.8kbit / s hoặc kết nối quay số cao hơn. VIDEO CONFERENCE I. Khái niệm : Video conference, hay còn gọi là hội nghị truyền hình là một hình thức trao đổi thông tin trực tiếp giữa các thành viên ở xa nhau (có thể là từ phòng này đến phòng khác trong một tòa nhà, hay là từ quốc gia này đến quốc gia khác). Khi hội nghị truyền hình, các thành viên có thể trao đổi thoại, hình ảnh, và dữ liệu (voice, video, data). Các thành viên có thể nói chuyện với nhau, nhìn thấy nhau, sử dụng ngôn ngữ cơ thể, và đặc biệt, có thể chia sẻ dữ liệu, cho phép cùng trao đổi, thảo luận về một file dữ liệu nào đó (ppt, excel, word, pdf,...). II. Giải pháp , công nghệ : Hội nghị truyền hình hiện nay dựa trên 2 công nghệ chính: H.323 và SIP.H.323 và SIP đều là chuẩn báo hiệu cuộc gọi, tuy nhiên H.323 là một họ chuẩn, bao gồm trong đó nhiều chuẩn khác, trong khi SIP chỉ là một chuẩn dựa trên nền text. Như vậy ta cũng thấy rằng SIP dường như đơn giản và dễ hiểu hơn H.323. Tuy nhiên, nếu muốn xây dựng một hệ thống hội nghị trên nền SIP, ta cần trang bị ít nhất 1 SIP server làm nhiệm vụ quản lý các điểm đầu cuối. Điều này sẽ rất bất lợi nếu hệ thống chỉ có 2 điểm hội họp với nhau. Do những sự khác biệt như vậy, mà người ta thường sử dụng H.323 và SIP theo 2 hướng khác nhau: H.323 được sử dụng cho hội nghị truyền hình và SIP thì sử dụng cho VoIP. Tuy được sử dụng theo 2 hướng như vậy, nhưng chúng hoàn toàn có thể thay thế cho nhau, tức là dùng H.323 cho VoIP và SIP cho hội nghị truyền hình. Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của Công nghệ thông tin và Viễn thông, đã có khá nhiều giải pháp cho hệ thống dịch vụ hội nghị truyền hình.Tuy nhiên với cơ sở hạ tầng mạng tại Việt Nam hiện nay thì các giải pháp phù hợp và khả thi cho dịch vụ hội nghị truyền hình là giải pháp dựa trên công nghệ IP (chuẩn H323). Video conferencing giờ đây được người sử dụng ở ngành công nghiệp biết đến một cách rộng rãi. Các công ty đa quốc gia sử dụng giải pháp này để giao tiếp giữa văn phòng ở các nước với nhau hoặc giữa công ty mẹ với các thành viên nằm rải rác ở khắp nơi trên thế giới. Các công ty có quy mô nhỏ hơn thì sử dụng giải pháp này nhằm giao tiếp với khách hàng và các nhà cung cấp ở nhiều quốc gia. Video conferencing không chỉ được sử dụng ở tầm quốc tế mà rất nhiều các hãng luật hoặc tư vấn sử dụng giải pháp này để giảm thiểu chi phí và thời gian đi lại, chi phí tổ chức các buổi thảo luận mà vẫn có thể thực hiện được cuộc gặp với nhiều khách hàng ở cùng 1 thời điểm. Các trường học sử dụng video conferencing để triển khai đào tạo từ xa. Các cơ quan hành chính (Bộ ngành, cảnh sát an ninh quốc phòng...) sử dụng video conferencing để tổ chức họp giao ban, phân công nhiệm vụ phối hợp tác nghiệp, họp liên ngành... Thiết bị để phục vụ cho video conferencing hoạt động rất đơn giản. Trên các menu hiển thị cho phép bạn nhập số mà muốn gọi (như điện thoại) hoặc lựa chọn từ sổ địa chỉ. Chỉ cần đào tạo hướng dẫn sử dụng khoảng 10 phút là có thể thao tác sử dụng Video conferencing một cách thành thạo Hệ thống Video conferencing cho phép nguời sử dụng có thể chia sẻ hình ảnh các file dữ liệu và màn hình máy tính giữa các bên. Điều này có nghĩa là bạn có thể ngồi tại văn phòng ở Việt Nam, bật máy tính và thực hiện chức năng chia sẻ, khách hàng của bạn ở bên Mỹ có thể xem được các nội dung mà bạn trình diễn trên máy tính. Chức năng này đặc biệt hữu ích khi bạn muốn trình chiếu một chương trình gì đó hoặc mở các file trình diễn dạng power point để giới thiệu sản phẩm, trình bày phương án, kế hoạchvà báo cáo. Video conferencing cho phép có thể nhiều buổi gặp một cách thường xuyên giữa những người ở các nơi khác nhau mà không mất chi phí đi lại và thời gian. Bất cứ một tổ chức nào làm việc hoặc cần phải làm việc với các đối tác, đồng nghiệp ở xa đều hưởng những lợi ích cực kỳ to lớn từ videoconferencing. Hội nghị truyền hình (Video Conference) có thể được áp dụng vào các lĩnh vực: · Hội nghị, giao ban, trao đổi công việc của các đơn vị có vị trí địa lý xa nhau · Trao đổi thông tin, tài liệu của các nhóm làm việc chung · Dạy và học trực tuyến từ xa theo mô hình học trên mạng (E-Learning) · Chăm sóc y tế từ xa: người bệnh có thể được khám bệnh, chẩn đoán hay thậm chí phẫu thuật gián tiếp từ các chuyên gia y tế tại những nơi rất xa Sử dụng videoconferencing như thế nào? : Việc sử dụng Videoconferencing rất đơn giản. Tất cả chúng ta đều đã sử dụng điện thoại và khi sử dụng chúng ta chỉ cần nhập số điện thoại, số sẽ hiển thị lên màn hình của máy điện thoại, sau khi nhập xong, chúng ra bấm gọi. Video conferencing cũng tương tự như vậy nhưng số và thông tin được hiển thị lên màn hình như màn hình và một hình ảnh Video sẽ hiện lên tất cả những người đang tham gia hội thoại. Phương thức kết nối Hội nghị truyền hình có thể kết nối bằng bất kì hình thức nào như: kênh thuê bao riêng (Leased Line), ISDN hay IP (Internet Protocol) Yêu cầu chung của giải pháp Hội nghị truyền hình 1. Yêu cầu thiết bị Các hệ thống Hội nghị truyền hình gồm 4 thành phần cơ bản: thiết bị đầu cuối (Thiết bị VCS), thiết bị điều khiển đa điểm (MCU), Gateway và Gatekeeper. Ngoài ra còn có các thiết bị tùy chọn khác (thiết bị chia sẻ dữ liệu, thiết bị ghi hình lại hình ảnh Video Conferencing, thiết bị lập lịch và quản lý hội nghị, …) - Thiết bị VCS: Có chức năng thu nhận hình ảnh, âm thanh (qua camera, micro) mã hóa chúng rồi chuyển qua giao diện mạng. Các VCS còn có cổng giao tiếp với máy tính (PC, Laptop) cho phép kết nối và trình chiếu các tài liệu từ máy tính vào phiên làm việc. VCS sử dụng màn hình TV, màn hình máy tính hoặc máy chiếu làm thiết bị hiển thị và có thể sử dụng bất kỳ hệ thống âm thanh nào có sẵn. - Thiết bị MCU: Có chức năng điều khiển đa điểm, cho phép kết nối nhiều VCS vào một phiên làm việc. Hình ảnh, âm thanh từ các thiết bị VCS được nhận về, trộn và chia hình hiển thị theo yêu cầu của người quản lý hệ thống. Ngòai ra, MCU còn hỗ trợ kết nối các đầu cuối thoại (Voice only) vào phiên làm việc. Để đáp ứng yêu cầu làm việc đa phương tiện, đa mạng thiết bị MCU còn hỗ trợ chuyển mã (transcoding) các yếu tố liên qua đến chất lượng như: giao diện mạng, băng thông, chuẩn mã hóa Video/Audio, tốc độ khung hình… - Thiết bị Gateway: Có chức năng chuyển đổi tín hiệu giữa 2 mạng khác nhau, làm nhiệm vụ giao tiếp, chẳng hạn như giao tiếp giữa mạng H.323 (mạng IP) và mạng H.320 (mạng ISDN). - Thiết bị Gatekeeper: Là thành phần tùy chọn trong hệ thống nhưng có vai trò quan trọng trong việc điều khiển việc thiết lập cuộc gọi, quản lý thiết bị và kiểm soát băng thông. 2. Yêu cầu đường truyền Đường truyền sử dụng trong giải pháp Hội Nghị Truyền hình là đường ISDN hoặc IP. - Đối với hệ thống hội nghị truyền hình đa điểm SD (bao gôm các dòng ký hiệu là VSX "ví dụ VSX7000s"), đường truyền tại các site nhánh phải đạt ít nhất 384 Kbps đối xứng. - Đối với hệ thống hội nghị truyền hình đa điểm HD (bao gồm các dòng ký hiệu là HDX "ví dụ HDX8002"), đường truyền tại các site phải đạt ít nhất 1Mbps đối xứng. - Đường truyền đến MCU phải bằng đường truyền tại các site cộng lại. Trong trường hợp sử dụng đường truyền IP, đường truyền tại các site phải cộng thêm 20%-35% header của gói IP, nên để đạt yêu cầu về tốc độ, đường truyền đến site nhánh phải đạt ít nhất 1.2Mbps. Để có đủ băng thông cần thiết cho cả video, audio và content trong cuộc họp hội nghị đối với hệ thống dùng công nghệ HD và 460Kbps đối với công nghệ SD. AUDIO CONFERENCE I. Tổng quát Audio Conference là một thuật ngữ trong lĩnh vực viễn thông nhưng được ứng dụng rất rộng rãi trong cuộc sống. Thế kỷ 21 đánh dấu sự phát triển vượt bậc về công nghệ số và thông tin di động trong nỗ lực đáp ứng nhu cầu trao đổi thông tin ngày càng lớn của con người. Việc sử dụng điện thoại di động đã trở nên quen thuộc và gần gũi với mọi người, mọi lúc mọi nơi, tuy nhiên điều đó chỉ đáp ứng được nhu cầu mang tính chất cá nhân do những hạn chế về công nghệ cũng như mục đích sử dụng. Trong khi đó, một bộ phận rất lớn đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của xã hội – đó là các công ty, doanh nghiệp cũng như các tổ chức hiện đang có nhu cầu trao đổi một lượng thông tin khổng lồ với tính liên tục và chính xác. Và Audio Conference ra đời như một giải pháp cung cấp cho các nhóm liên quan một phương thức trao đổi thông tin hiện đại và nhanh chóng. Audio Conference có thể được hiểu là cuộc họp tổ chức bởi một nhóm người ở các địa điểm khác nhau và sử dụng các thiết bị cho phép truyền, nhận âm thanh để chia sẻ thông điệp cũng như trao đổi. Những cuộc họp này có thể được tổ chức giữa 2 bên hoặc nhiều bên tùy thuộc vào mức độ quan trọng cũng như khả năng về công nghệ của nhà cung cấp dịch vụ. Khái quát lại, việc sử dụng Audio Conference sẽ giúp cho những người cách xa nhau về địa lý có thể tổ chức những buổi họp trực tiếp mà không cần gặp mặt. II. Điều kiện triển khai Audio Conference cho phép mọi người sử dụng các thiết bị như điện thoại, máy tính để kết nối với nhau. Trong đó, các thiết bị này nhất thiết phải có các cổng thu – phát âm thanh để truyền tải thông tin và một đường nối với hệ thống viễn thông của nhà cung cấp để đưa thông tin ra ngoài. Để tổ chức cuộc họp Audio Conference, trước hết các bên tham gia phải nhận được từ nhà cung cấp dịch vụ những thông tin về việc kết nối. Sau khi có những thông tin này, các bên sẽ gọi đến số dịch vụ đã được cung cấp đồng thời nhập user name và password để có thể tham gia buổi họp. Sau đó, nhà cung cấp dịch vụ sẽ tạo một đường kết nối giữa các bên liên quan để trao đổi thông tin. Những thông tin này được mã hóa qua các thiết bị như điện thoại hay máy tính và chuyển tải chính xác đến những người tham gia Audio Conference. Việc sử dụng hình thức này để liên lạc không nhất thiết đòi hỏi mỗi người cần có 1 chiếc điện thoại hay máy tính, mà do tính chất quảng bá thông tin cho một nhóm người, nên những người ở cùng 1 địa điểm có thể dùng chung 1 thiết bị và sử dụng loa ngoài để trao đổi với những địa điểm khác. Sau khi lắp đặt các thiết bị thu-phát cần thiết ở phía khách hàng, về phía nhà cung cấp sẽ đảm bảo việc tạo môi trường truyền âm thanh một cách liên tục dựa vào mạng lưới Internet, 3G hoặc hệ thống mạng điện thoại cố định. Ưu điểm của Audio Conference: - Những người tham gia họp dưới hình thức này có thể giảm bớt thời gian, chi phí đi lại mà vẫn có thể trao đổi, nắm bắt được thông tin một cách kịp thời và trực tiếp với các đối tác. Đây là ưu điểm lớn nhất của Audio Conference. - Chi phí để trả cho các nhà cung cấp dịch vụ không quá cao do việc truyền âm thanh không chiếm nhiều tài nguyên của hệ thống. - Việc mã hóa âm thanh để truyền tải khá đơn giản nên giá thành của các thiết bị thu-phát cũng không quá cao, qua đó giúp hình thức trao đổi này trở nên phổ biến. Nhược điểm của Audio Conference: - Chỉ truyền tải được âm thanh nên không đáp ứng được như cầu của các bên khi muốn diễn đạt, trình chiếu, hoặc chia sẻ một hình ảnh, slide nào đó. Để khắc phục nhược điểm này, Video Conference đã ra đời nhằm giúp các buổi họp trở nên mang tính trực quan. - Âm thanh truyền đi dễ bị nhiễu do môi trường xung quanh cũng như