Diễn biến lạm phát Việt Nam và giải pháp kiềm chế linh hoạt

Việt Nam, sau 12 năm kiểm soát đươc lạm phát (1995-2007), từtháng 12 năm 2007, lạm phát quay trởlại với chỉsốCPI 2 con số. Giá cảcác mặt hàng tiêu dùng thiết yếu tăng vọt các tháng đầu năm 2008, Chính phủ đã thực hiện chiến lược kiềm chếlạm phát “cảgói” với 8 giải pháp. Nhờnhững biện pháp kịp thời và linh hoạt của Chính phủ, tình hình lạm phát các tháng cuối năm 2008 đã được kiềm chế, tuy vậy giá cảvẫn ởmức cao và vẫn còn nhiều diễn biến phức tạp. Lạm phát là một hiện tượng mà cảthếgiới đều quan tâm, nghiên cứu vềlạm phát đểtừ đó rút ra những bài học vềlý luận và thực tiễn là nhiệm vụcủa các học giả, các nhà nghiên cứu, đặc biệt là các diễn đàn nghiên cứu khoa học của chuyên ngành Kinh tếtrong các trường Đại học. Đềtài đã hệthống hóa lý luận cơbản vềlạm phát, và phân tích các diễn biến thực tếcủa lạm phát ởViệt Nam qua chỉ sốCPI, lãi suất ngân hàng, tỉgiá hối đoái, tốc độgiảm GDP .trong nước, chỉsốgiá vàng, USD trên thếgiới trong giai đoạn từtháng 12/2007 đến 11/2008, và dựbáo rủi ro, thách thức, đềxuất hệgiải pháp trong thời gian tới với kỳvọng tham gia hoạch định chính sách vĩmô, bổsung kiến thức vềlý luận và thực tiễn, nâng cao chất lượng giảng dạy, nghiên cứu, học tập cho sinh viên và các bạn đồng nghiệp.

pdf16 trang | Chia sẻ: tuandn | Ngày: 24/01/2013 | Lượt xem: 2859 | Lượt tải: 12download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Diễn biến lạm phát Việt Nam và giải pháp kiềm chế linh hoạt, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
DIỄN BIẾN LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LINH HOẠT PGS.TS. Phan Thị Cúc Khoa Tài chính – Ngân hàng - Trường ĐH Công Nghiệp TP. HCM TÓM TẮT Việt Nam, sau 12 năm kiểm soát đươc lạm phát (1995-2007), từ tháng 12 năm 2007, lạm phát quay trở lại với chỉ số CPI 2 con số. Giá cả các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu tăng vọt các tháng đầu năm 2008, Chính phủ đã thực hiện chiến lược kiềm chế lạm phát “cả gói” với 8 giải pháp. Nhờ những biện pháp kịp thời và linh hoạt của Chính phủ, tình hình lạm phát các tháng cuối năm 2008 đã được kiềm chế, tuy vậy giá cả vẫn ở mức cao và vẫn còn nhiều diễn biến phức tạp. Lạm phát là một hiện tượng mà cả thế giới đều quan tâm, nghiên cứu về lạm phát để từ đó rút ra những bài học về lý luận và thực tiễn là nhiệm vụ của các học giả, các nhà nghiên cứu, đặc biệt là các diễn đàn nghiên cứu khoa học của chuyên ngành Kinh tế trong các trường Đại học. Đề tài đã hệ thống hóa lý luận cơ bản về lạm phát, và phân tích các diễn biến thực tế của lạm phát ở Việt Nam qua chỉ số CPI, lãi suất ngân hàng, tỉ giá hối đoái, tốc độ giảm GDP….trong nước, chỉ số giá vàng, USD trên thế giới… trong giai đoạn từ tháng 12/2007 đến 11/2008, và dự báo rủi ro, thách thức, đề xuất hệ giải pháp trong thời gian tới với kỳ vọng tham gia hoạch định chính sách vĩ mô, bổ sung kiến thức về lý luận và thực tiễn, nâng cao chất lượng giảng dạy, nghiên cứu, học tập cho sinh viên và các bạn đồng nghiệp. ABSTRACT After 12 years of curbing inflation (1995-2007), Vietnam has seen inflation come back with the two-digit CPI (Customer Price Index) since December 2007. The prices of basic commodities sharply surged in the early 2008 when Vietnam’s government implemented a inflation-curbing strategy with “a packet” of 8 solutions. Through the government’s promptly and flexible solutions, the inflation in the late 2008 has been under control; however, the prices have still been high and fluctuated. In fact, inflation is known as a big concern of the world where inflation researches have been done to take lessons, both theoretical and practical, by scholars, researchers, and especially science research forums of economics at universities. My research aims to systemize fundamental theories of inflation, and analyze the inflation situation in Vietnam through the CPI, banks’ interest rates, foreign exchange rates, the GDP contraction rate in the country as well as the prices of gold and US dollars in the world in the period from December 2007 to November 2008. In addition, the research makes predictions about the risks and challenges in the field of business. Then it will suggest a variety of solutions to deal with them. Hopefully, this research could be considered as a contribution to the government’s macro economic plans and a supplement to theoretical and practical knowledge of economics in order to enhance the quality of teaching, researches, and studies of my students and colleagues. I. MỞ ĐẦU Lịch sử đã chứng minh rằng trong quá trình phát triển kinh tế, các quốc gia đều đã từng đối mặt với lạm phát, nhưng không phải lúc nào lạm phát cũng gây ra những tác động tiêu cực, trong nền kinh tế thị trường, nhiều quốc gia còn sử dụng lạm phát một con số làm động lực để kích thích nền kinh tế phát triển. Nước ta sau 12 năm kiềm chế được lạm phát (1995-2007) ở một con số, trong thời gian này chúng ta đã kiểm soát được lạm phát. Nhưng từ tháng 12 năm 2007, do tác động của tình hình phát triển kinh tế chung của hội nhập khu vực và thế giới, chỉ số giá tiêu dùng cho đến nay vẫn ở mức 2 con số, trong 8 tháng đầu năm 2008, tình hình diễn biến hết sức căng thẳng, Chính phủ đã kịp thời đưa ra 8 giải pháp cả gói để kiềm chế lạm phát. Vì vậy, có thể nói tình hình đã có phần dịu đi nhưng nền kinh tế vẫn chưa ổn định, giá cả vẫn ở mức cao và chưa trở về mức khi chưa có lạm phát. Diễn biến của tình hình lạm phát ở Việt Nam vẫn hết sức phức tạp, thậm chí xuất hiện những dấu hiệu giảm phát ở cuối năm 2008 còn rất nhiều rủi ro, thách thức cần được đưa lên diễn đàn nghiên cứu khoa học để các đồng nghiệp cùng nghiên cứu về cả mặt lý luận và thực tiễn, từ đó đưa ra những giải pháp can thiệp một cách linh hoạt có hiệu quả, tham gia các ý kiến thực hiện các chính sách vĩ mô của nước ta trong thời kỳ hội nhập quốc tế. Đó cũng chính là lý do tác giả đã lựa chọn đề tài này để trao đổi cùng các bạn đồng nghiệp. II. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Đề tài nhằm mục đích hệ thống hóa các kiến thức cơ bản về lạm phát và các phạm trù liên quan đến lạm phát, đặc biệt là lý luận về các giải pháp giảm thiểu lạm phát để ổn định và phát triển kinh tế của một quốc gia, đặc biệt là đề tài đã đi vào thực tiễn về lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn từ tháng 12/2007 đến cuối năm 2008, từ đó tìm ra tính quy luật phổ biến của diễn biến rất phức tạp của lạm phát trong một quốc gia đang phát triển như là nước ta và các bài học kinh nghiệm,các giải pháp can thiệp về kiềm chế lạm phát trong nền kinh tế đã có yếu tố hội nhập ở Việt Nam. III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đề tài được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử và các quan điểm về lạm phát của các nhà kinh tế hiện đại của nước ngoài và Việt Nam, các quan điểm, đường lối chính sách của Đảng và Nhà Nước về kiềm chế lạm phát ở Việt Nam để phân tích, lý giải các chỉ số và đề xuất các giải pháp can thiệp thông qua các phương pháp: Nghiên cứu tài liệu, trao đổi, phỏng vấn tại Hội thảo của Hội đồng Khoa học cơ sở Tài chính-Kế toán (cũ) với lãnh đạo Viện Nghiên cứu thị trường, giá cả- Bộ Tài Chính tại TP.Nha Trang, Khánh Hòa vào tháng 8 năm 2008, tác giả phân tích tổng hợp tư liệu để hoàn thành đề tài. IV. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Cấu trúc của đề tài gồm 5 vấn đề lớn: 1. Diễn biến lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn 1995-2007 2. Diễn biến lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn 2007-2008 3. Biện pháp cả gói về chống lạm phát của Việt Nam từ quý II năm 2008 4. Dự báo về lạm phát ở Việt Nam trong thời gian tới 5. Giải pháp can thiệp nhằm kiềm chế lạm phát trong thời gian tới NỘI DUNG CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI: 1. Diễn biến lạm phát ở Việt Nam giao đoạn 1995-2007 Nước ta kiểm soát được lạm phát (giai đoạn 1995-2007), lạm phát chỉ dừng lại ở 1 con số, tốc độ tăng GDP và tốc độ tăng CPI được thể hiện qua biểu đồ sau: Biểu đồ 1.1: (Nguồn : Viện NCKH thị trường và giá cả -BTC) Nhưng đến tháng 12/2007 thì lạm phát đã tăng lên 2 con số. Điều đó cũng được thể hiện ở biểu đồ trên. 2. Diễn biến lạm phát ở Việt Nam giao đoạn 2007-2008 Biểu đồ 2.1 Tè c ®é t ¨ ng GDP v µ CPI g ia i ®o¹ n 1995-2007 9.34 8.15 5.76 4.77 7.79 8.43 8.17 8.56.79 6.89 7.08 7.34 9.54 12.7 4.5 3.6 9.2 0.1 -0.6 0.8 4.0 3.0 8.4 9.5 12.63 6.6 -2 0 2 4 6 8 10 12 14 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 % /n¨ m Tèc ®é t¨ ng GDP (%n¨ m) CPI (%/n¨ m) Nguồn: Tổng Cục Thống Kê Biểu đồ 2.2: Chỉ số giá tiêu dùng trong 10 tháng đầu năm 2008 Nguồn:www.tuoitre.com.vn Bảng 2.1: Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đôla Mỹ cả nước tháng 10 năm 2008 Chỉ số giá tháng 10 năm 2008 so với (%) Kỳ gốc năm 2005 Tháng 10 năm 2007 Tháng 12 năm 2007 Tháng 9 năm 2008 Chỉ số giá 10 tháng đầu năm 2008 so với cùng kỳ năm 2007 CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG 148,20 126,72 121,64 99,81 123,15 1. Hàng ăn và dịch vụ ăn uống 172,14 140,56 132,12 99,58 136,95 Trong đó: 1- Lương thực 201,99 160,06 151,41 98,09 149,58 2- Thực phẩm 161,16 132,82 124,44 100,01 133,05 3. Ăn uống ngoài gia đình 169,86 139,54 131,37 100,47 131,92 2. Đồ uống và thuốc lá 128,32 113,27 111,34 100,67 110,21 3. May mặc, mũ nón, giầy dép 126,05 112,55 110,82 100,70 109,81 4. Nhà ở và vật liệu xây dựng (*) 148,40 122,84 116,76 98,92 122,39 5. Thiết bị và đồ dùng gia đình 125,94 111,99 111,26 100,73 108,36 6. Dược phẩm, y tế 123,00 109,76 108,75 100,58 108,72 7. Phương tiện đi lại, bưu điện 138,44 124,82 119,56 99,06 116,66 Trong đó: Bưu chính viễn thông 83,46 89,21 90,39 99,82 88,44 8. Giáo dục 115,02 106,71 106,56 100,69 103,63 9. Văn hoá, thể thao, giải trí 115,74 109,50 109,30 100,38 105,03 10. Đồ dùng và dịch vụ khác 132,35 114,65 111,69 100,85 113,11 CHỈ SỐ GIÁ VÀNG 206,76 125,15 112,53 103,21 137,43 CHỈ SỐ GIÁ ĐÔ LA MỸ 104,45 102,46 102,95 99,95 101,71 (*) Nhóm này bao gồm: nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng. Như vậy, sau 12 năm, tình hình lạm phát lại bùng phát ở Việt Nam và có nguy cơ bùng phát mạnh mẽ vào năm 2008, tình hình cụ thể thể hiện rõ ở biểu đồ 2.1, biểu đồ 2.2 và bảng 2.1. • Chỉ số giá tiêu dùng một số mặt hàng tăng vọt trong năm 2007: Năm 2007, giá lương thực, thực phẩm (LT-TP) trên thị trường Việt Nam tăng cao đạt mức 18.9%, cao hơn nhiều so với mức lạm phát 12,63%, trong đó nhóm lương thực tăng 15,5%, thực phẩm tăng 21,16%. • Chỉ số giá tiêu dùng một số mặt hàng tăng vọt trong các quý đầu năm 2008. Trong 4 tháng đầu năm, giá LT-TP đã tăng 18,01%, cao gấp rưỡi mức 11,6% của lạm phát CPI và cao tương đương bằng mức tăng giá LT-TP của cả năm 2007, trong đó lương thực tăng 25%, còn thực phẩm tăng 15,6%.  Nguyên nhân của tăng lạm phát: Ngày 22/5/2008, tăng giá xăng dầu từ 13.000đ lên 14.500đ (tương đương 11.5%). - Cuối tháng 3 đầu tháng 4, tình trạng thiếu lương thực trầm trọng trên thế giới làm cho giá gạo trong nước tăng nhanh có thời điểm từ 50% đến 100%. - Kể từ tháng 5 giá gạo đã có xu hướng giảm nhưng mức tăng vẫn 15%-20% so với trước khi sốt gạo. Dự báo từ nay đến cuối năm giá gạo sẽ bình ổn và không có sự tăng đột biến. Trong hai quý đầu năm, giá các loại nguyên vật liệu tăng mạnh trên TG khiến nước ta ảnh hưởng bởi NK lạm phát. Nếu giá dầu ổn định dưới 150 USD/ thùng, giá các nguyên, vật liệu sẽ có xu hướng giảm và ổn định trong giai đoạn còn lại của năm.  Hậu quả của tăng lạm phát: - Giảm chỉ tiêu tăng trưởng từ 8.5% xuống 7% làm giảm tốc độ phát triển tiền mặt trong XH không đưa được vào đầu tư gây ứ đọng vốn nguy cơ gây ra lạm phát ở các chu kỳ sau. Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay tốc độ tăng trưởng có thể sẽ được giảm xuống 6%- 6.5%. - Sức tiêu thụ hàng hóa trong nước đang có dấu hiệu yếu dần, sản xuất công nghiệp bước vào tháng đầu quý 4 năm nay lại tăng chậm hơn các tháng trước, đây là một xu hướng ngược lại quy luật mọi năm. Giá trị sản xuất công nghiệp 10 tháng ước tính đạt 330.121 tỷ đồng tăng 12,1% so với cùng kỳ 2007, thấp hơn mức tăng trung bình của 9 tháng đầu năm là 12,4%. - Chính sách thắt chặt tiền tệ làm cho thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản sụt giảm mạnh sẽ ảnh hưởng đến vấn đề nợ đọng, tính thanh khoản và độ an toàn của hệ thống ngân hàng. - Do nới lỏng tỷ giá hối đoái có thể dẫn đến đồng tiền Việt Nam (VNĐ) bị đánh giá quá cao. 3. Biện pháp cả gói về chống lạm phát của Việt Nam từ quý II năm 2008 Như chúng ta đã biết Chính phủ đã ban hành các biện pháp cả gói về chống lạm phát của Việt Nam từ quý II năm 2008 là: Thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ. - Ngân hàng phát hành trái phiếu kho bạc trong 2008: 20.300 tỉ VNĐ - Thay đổi lãi suất huy động tiền gửi để thu hút tiền trong lưu thông Biểu đồ 3.1: Chính sách lãi suất của NHNN Việt Nam từ tháng tư năm 2003 đến tháng 6 năm 2008 Kiểm soát chặt chẽ, nâng cao hiệu quả chi tiêu công Tập trung sức phát triển sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ bảo đảm cân đối cung cầu về hàng hóa. Đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát chặt chẽ nhập khẩu và giảm nhập siêu. Triệt để thực hành tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng. Tăng cường công tác quản lý thị trường chống đầu cơ buôn lậu và gian lận thương mại, kiểm soát việc chấp hành pháp luật về giá. Tăng cường các biện pháp hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất của nhân dân, mở rộng việc thực hiện các chính sách về an sinh xã hội. Đẩy mạnh công tác thông tin và tuyên truyền. 7.50 3.00 5.00 7.80 3.50 5.50 8.25 4.50 6.50 8.75 6.00 7.50 12.00 11.00 13.00 14.00 13.00 15.00 0.00 2.00 4.00 6.00 8.00 10.00 12.00 14.00 16.00 Chính sách lãi suất của NHNNVN LS cơ bản 7.50 7.80 8.25 8.75 12.00 14.00 LS tái chiết khấu 3.00 3.00 3.50 4.50 6.00 11.00 13.00 LS tái cấp vốn 5.00 5.00 5.50 6.50 7.50 13.00 15.00 April 1, 2003 February 1, 2005 Dec1.2005 Feb1.2008 May19.200 8 June11.200 8 (Theo nghị quyết 10/2008/NQCT-17/04/08 Nghị quyết về các biện pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững). 4. Dự báo về lạm phát ở Việt Nam trong thời gian tới - Trong giai đoạn còn lại trong năm, giá lương thực và dầu thế giới hiện biến động mạnh làm cho giá trong nước sẽ biến động, chính vì vậy lạm phát sẽ diễn biến hết sức phức tạp(có dấu hiệu giảm phát). - Nhiều yếu tố cho thấy lạm phát trong những tháng cuối năm sẽ giảm khi các biện pháp tài chính tiền tệ được áp dụng có tác dụng đáng kể : +NHNN chỉ đạo hoạt động tín dụng của các NHTM phải phù hợp với mục tiêu kiểm soát lạm phát. +Tập trung vốn cho các dự án có hiệu quả cao và khả năng trả nợ đúng hạn. -Từ nay đến cuối năm, nếu mỗi tháng, CPI giữ ổn định mức tăng 1,1% thì cuối năm con số này vào khoảng 25%. Tuy nhiên, nếu giá xăng dầu TG tiếp tục tăng cao thì mục tiêu 25% này sẽ bị phá vỡ. -Nếu CPI chỉ tăng trung bình 1% so với tháng trước thì lạm phát tháng 12/2008 so với cùng thời điểm năm 2007 chỉ tăng 25%. -Nếu CPI mỗi tháng tăng 1,2% so với tháng trước thì tháng 12/2008 so với 2007 sẽ tăng khoảng 27,25%. -Nếu CPI mỗi tháng tăng 1,5% thì lạm phát có thể lên tới 30%. Bảng 4.1: Thống kê và dự báo chỉ số lạm phát năm 2008 Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 CPI 2.44 6.2 9.19 11.6 15.4 17.6 19.2 21.1 22.6 23 22.5 23.2 (Chỉ số phần trăm so với cuối năm 2007) Bảng 4.2 : Tốc độ tăng của chỉ số CPI trong các tháng so với tháng trước năm 2008 Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 CPI 2.44 3.76 2.99 2.41 3.8 2.2 1.6 1.9 1.5 0.4 -0.5 0.7 Nguồn: Vneconomy.com.vn Câu hỏi đặt ra là: Việt Nam nên chọn cái nào giữa lạm phát và tăng trưởng. Việc ưu tiên cái nào và hi sinh giữa cái gì với cái gì cần phải rất linh hoạt. Một khi lạm phát quá cao thì rõ ràng cần phải áp dụng các biện pháp kiềm chế lạm phát và tất nhiên khi đó, tăng trưởng sẽ bị chậm lại. Ở các nước đang phát triển, tốc độ tăng trưởng cao bao giờ cũng kèm theo chỉ số lạm phát tăng cao. Dự báo, tăng trưởng GDP sẽ sụt giảm đáng kể trong năm nay và năm 2009. Cụ thể, mức dự báo lần lượt là 7,3% và 7,8% (mức tăng trưởng năm ngoái là 8,5%). Con số này cũng khá phù hợp với sự điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng năm 2008 của Quốc hội mới đây, với mục tiêu tăng trưởng GDP cả năm sẽ là 7%. Từ 2001 đến 2004, những năm đầu khi mức độ tăng trưởng của chúng ta ở mức thấp dưới 7%, chỉ số lạm phát chỉ là 3-4%. Nhưng đến 2004 có mức tăng trưởng 8%, chỉ số giá tăng lên đến mức 9,5%. Đến 2005, khi tốc độ tăng trưởng của chúng ta đạt mức 8,43% chỉ số giá của chúng ta là 8,40%. Do vậy, lạm phát thể hiện khi chúng ta bắt đầu tăng trưởng cao, kèm theo tăng giá. Mặc dù Việt Nam đã có những bước cải thiện về các chỉ số thống kê trong thời gian vừa qua, tuy nhiên những tiến bộ này chưa phải đạt được trên mọi lĩnh vực. Với tỷ lệ lạm phát cao thì Việt Nam cần phải mất một thời gian dài để đưa tỷ lệ lạm phát này về khu vực an toàn ở mức 1 con số. Nhìn vào các bài học lịch sử phát triển kinh tế từ trước tới nay, chưa có quốc gia nào vừa muốn kiểm soát được lạm phát, kiểm soát được thâm hụt thương mại mà lại vừa thúc đẩy được tăng trưởng kinh tế. Đây rõ ràng là một sự đánh đổi. Chính phủ nên đặt ra mục tiêu tăng trưởng thấp trong năm 2009 để giảm lạm phát và nhập siêu, tạo đà tăng trưởng cao hơn vào các năm tiếp theo. Bên cạnh việc giảm dự báo tăng trưởng cho Việt Nam năm 2008 và 2009, Báo cáo Cập nhật Triển vọng Phát triển Châu Á (ADO) còn dự đoán lạm phát trong năm 2008 và 2009 theo thứ tự sẽ là 25,0% và 17,5%, so với mức dự báo 18,3% và 10,2% được đưa ra trong Báo cáo ADO 2008 công bố hồi tháng 4 năm nay. Thâm hụt tài khoản vãng lai năm 2008 được dự báo ở mức 13,5% GDP, tăng so với dự báo 10,3% GDP theo báo cáo ADO 2008. Thâm hụt tài khoản vãng lai năm 2009 được dự báo ở mức 7% GDP, thấp hơn so với mức dự báo 9,4% GDP trước đây. Có thể dễ dàng nhận thấy rằng, tuy tốc độ tăng giá đã chững lại nhưng hầu hết những mặt hàng phục vụ sản xuất và đời sống đều đứng ở mức cao, nền kinh tế VN đã có dấu hiệu tích cực song chưa thể ổn định, vì vậy cần tiếp tục duy trì chính sách thắt chặt tiền tệ, kiểm soát hoạt động thương mại, sản xuất kinh doanh nói chung và các tập đoàn, tổng công ty lớn nói chung. Có thể tham khảo một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội do Công ty Business Monitor International Ltd tổng hợp và dự báo như sau: Bảng 4.3: Tổng hợp và dự đoán các chỉ tiêu kinh tế - xã hội từ năm 2005-2012 Chỉ tiêu 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 GDP danh nghĩa (tỷ USD) 53,05 60,99 71,38 77,69 95,75 118,98 144,39 172,58 Tỷ lệ tăng GDP thực (%) 8,4 8,2 8,5 5,5 7,0 8,5 8,5 8,2 Dân số (triệu người) 85,02 85,90 87,00 88,20 89,50 90,84 92,00 93,10 GDP theo đầu người (USD) 638 710 821 881 1.070 1.310 1.569 1.854 Tỷ lệ thất nghiệp (% lực lượng lao động) 5,3 4,8 4,5 5,0 4,8 4,4 4,3 4,3 Nguồn: Business Monitor International Ltd. Biểu đồ 4.1: Tỷ lệ tăng GDP thực từ năm 2003 -2012 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 Nguồn: Business Monitor International Ltd. Bảng 4.4 : Dự đoán các chỉ tiêu kinh tế - xã hội từ năm 2010-2017 Chỉ tiêu 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 GDP danh nghĩa (tỷ USD) 118,98 144,39 172,58 200,19 232,22 269,38 312,48 362,47 Tỷ lệ tăng GDP thực (%) 8,5 8,5 8,2 8,0 8,0 8,0 8,0 8,0 Dân số (triệu người) 90,84 92,00 93,10 94,20 95,30 96,47 97,6 98,7 GDP theo đầu người (USD) 1.310 1.569 1.854 2.125 2.437 2.792 3.202 3.672 Tỷ lệ tăng giá tiêu dùng (%) 7,8 5,2 5,3 4,6 4,8 4,5 4,0 3,7 Tài khoản vãng lai ( %GDP) -7,56 -4,85 -2,90 1,5 2,15 3,34 4,48 4,69 Tỷ giá hối đoái (VND/USD) 15.500 14.700 14.200 14.000 13.500 13.000 12.000 11.000 Biểu đồ 4.2 : Tỷ lệ tăng GDP thực từ năm 2010 -2017 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 Nguồn: Business Monitor International Ltd. Cơn bão khủng hoảng kinh tế Mỹ đang tiếp tục lan nhanh ra toàn cầu. Việt Nam tuy không chịu những tác động trực tiếp, nhưng gián tiếp liệu có bị ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng này? Lãi suất vay quốc tế tăng cao sẽ ảnh hưởng tới các khoản nợ nước ngoài ngắn hạn của các NHTM và DN Việt Nam. Các khoản cho vay và đầu tư của các NH, tổ chức tài chính quốc tế tại các NH, DN trong nước sẽ gặp khó khăn, đặc biệt là về xuất nhập khẩu. 5. Giái pháp can thiệp nhằm kiềm chế lạm phát trong thời gian tới • Một là, cần thực thực hiện chính sách tài chính - tiền tệ năng động và hiệu quả trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế. + Hạ lãi suất cho vay để khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất trong nước và xuất nhập khẩu, cung cấp hàng hóa cho nền kinh tế + Hạn chế giải chấp CK , đề nghị các NH, Cty CK tạm ngừng giải chấp, tiếp tục gia hạn hoặc NHNN hỗ trợ tài chính thông qua hoạt động tái chiết khấu để tạo thanh khoản cho các NH + Xử lý cầu đầu tư nước ngoài: Giữ tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài vào TTCK VN như hiện nay (49%-đối với CP các ngành khác, riêng CP ngành NH là 30% ) nhưng tháo gỡ thủ tục hành chính. +Mở rộng đối tượng kiều bào nước ngoài mua nhà ở Việt Nam: Hiện nay, Quốc Hội đang dự thảo nghị định cho người VIỆT NAM định cư ở nước ngoài mua nhà ở VN. Đây là một giải pháp tốt đáp ứng được nguyện vọng của bà con xa xứ nhưng cũng là một biện pháp cứu được sự đóng băng của thị trường bất động sản. +Tiếp tục siết chặt chi tiêu công đối với các dự án không hiệu quả: đề nghị Quốc Hội và Chính phủ tiếp tục
Luận văn liên quan