Đồ án Mobile Wireless và hệ thống dịch vụ giá trị gia tăng trên Web

Lịch sử phát triển của loài người luôn gắn liền với những phát minh. Máy tính điện tử có thể được coi là một trong những phát minh vĩ đại nhất. Sự ra đời của máy tính điện tử chưa đầy 100 năm nhưng nó đã làm thay đổi mạnh mẽ cuộc sống của con người. Ngày nay chiếc máy tính điện tử đã thâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Bên cạnh chiếc máy tính điện tử thì còn phải kể đến chiệc điện thoại do Abraham Bell phát minh ra. Giao tiếp bằng chiếc điện thoại đã làm thay đổi căn bản phương thức giao tiếp của con người và nó đã xóa mờ mọi khoảng cách về địa lý. Trong những năm vừa qua, sự phát triển mạng mẽ của internet và các trang Web khiến người ta hay nói nhiều đến công nghệ thông tin và đặc biệt là thương mại điện tử (E-commerce). Quả thật thương mại điện tử là một phương pháp kinh doanh mới nhưng nó cũng có những hạn chế khi đòi hỏi những người mua và bán ngồi liên tục bên chiếc máy tính của mình. Đối với các doanh nhân hay thế hệ trẻ việc ngồi liên tục ở một chỗ là điều không thích hợp. Những tiến bộ nhanh chóng về công nghệ điện thoại di dộng khiến người ta đề cập đến một vấn đề mới đó là M-commerce. Với M-commerce thì vẫn là thương mại nhưng các doanh nhân hay khách hàng đều có thể tìm kiếm, giao dịch thông qua chiếc điện thoại di động luôn mang theo bên mình. M-commerce đã khắc phục được hạn chế của E-commerce thông qua việc kết hợp thêm tính năng di động của chiếc điện thoại.

docx81 trang | Chia sẻ: tuandn | Ngày: 21/05/2013 | Lượt xem: 1599 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đồ án Mobile Wireless và hệ thống dịch vụ giá trị gia tăng trên Web, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Mục lục Danh mục thuật ngữ và từ viết tắt sử dụng trong báo cáo tốt nghiệp Số TT Từ Giải nghĩa 1 ATM Auto Teller Machine 2 CDMA Code Division Multiple Access 3 ESME External Short Messaging Entities 4 GSM Global System For Mobile Communications 5 GPRS General Packet Radio Services 6 HTML Hypertext Markup Language 7 HTTP Hypertext Transfer Protocol 8 MVAS Mobile Value Added Service 9 RE Routing Entities 10 SME Short Messaging Entities 11 SMPP Short Message Peer to Peer Protocol 12 SMS Short Message Service 13 SMSC Short Message Service Centrer 14 UDH User Data Header 15 URL Uniform Resource Locator 16 WAP Wireless Application Protocol 17 WML Wireless Markup Language Danh mục các hình vẽ trong báo cáo tốt nghiệp Hình 2.1: Kiến trúc mạng cơ bản khi triển khai SMS 18 Hình 2.2: Cơ sở hạ tầng mạng thực hiện các dịch vụ ESME 19 Hình 2.3: Mạng các ứng dụng dùng giao thức SMPP 20 Hình 2.4: Kết nối ở tầng ứng dụng giữa ESME và MC 21 Hình 2.5: Trạng thái Open 22 Hình 2.6: Trạng thái Bound_TX 22 Hình 2.7: Trạng thái Bound_RX 23 Hình 2.8: Trạng thái Bound_TRX 23 Hình 2.9: Trạng thái Outbound 23 Hình 2.9: Một phiên thiết lập bởi outbind và kết nối dạng receiver 24 Hình 2.11: Cấu trúc WAP 42 Hình 2.12: Bộ giao thức WAP so sánh với bộ giao thức internet 44 Hình 3.1: Biểu đồ phân cấp hệ thống MVAS 50 Hình 3.2: Mô hình hệ thống MVAS 51 Hình 3.3: Biểu đồ phân cấp chức năng hệ thống MVAS-WEB 52 Hình 3.4: Biểu đồ phân cấp chức năng hệ thống MVAS-SMS 52 Hình 3.5: Cơ sở dữ liệu hệ thống 61 Hình 3.6: Kiến trúc 1 63 Hình 3.7: Kiến trúc MVC 63 Hình 3.8: Trang chủ hệ thống web 64 Hình 3.9: Trang web ringtone.jsp 65 Hình 3.10: Màn hình chức năng nghe thử nhạc chuông 65 Hình 3.11: Trang web image.jsp 66 Hình 3.12: Trang web logo.jsp 67 Hình 3.13: Đăng ký tài khoản người dùng 68 Hình 3.14: Thay đổi thông tin cá nhân 69 Hình 3.15: Gửi nhạc chuông từ trên web 70 Hình 3.16: Gửi hình nền từ trên web 71 Hình 3.17: Gửi logo từ trên web 72 Hình 3.18: Kết nối điên thoại Nokia 6100 với máy tính thông qua NowSMS 73 Hình 3.19: Thiết lập WebService cho NowSMS 74 Hình 3.20: Thiết lập chức năng gọi mô đun xử lý tin nhắn cho NowSMS 75 Danh mục các bảng trong đồ án tốt nghiệp Bảng 2.1: Số tối đa ký tự được gửi ứng với từng loại mã 26 Bảng 2.2: Thiết lập sử dụng UDH 26 Bảng 2.3: Số lượng tối đa ký tự khi sử dụng UDH 27 Bảng 2.4: Tham số SMPP trong việc ghép nối tin nhắn 27 Bảng 2.5 : So sánh giữa WAP Push SL và SI 48 Bảng 3.1: Chi tiết các chức năng hệ thống MVAS 54 Bảng 3.2: Mã hóa các chức năng 55 Bảng 3.3: Chủ đề nhạc chuông 55 Bảng 3.4: Nhạc chuông 56 Bảng 3.5: Chủ đề hình ảnh 56 Bảng 3.6: Hình ảnh 56 Bảng 3.7: Chủ đề Logo 57 Bảng 3.8: Logo 57 Bảng 3.9: Kiểu tin nhắn 57 Bảng 3.10: Tin nhắn nhận 58 Bảng 3.11: Tin nhắn gửi 58 Bảng 3.12: Từ khóa kịch bản 58 Bảng 3.13: Tham số kịch bản 59 Bảng 3.14: Giá trị tham số kịch bản 59 Bảng 3.15: Kết quả dịch vụ bình chọn 59 Bảng 3.16: Thông tin người sử dụng 60 Bảng 3.17: So sánh giữa cơ sở dữ liệu DB2, MS SQL Server, Oracle 62 LỜI NÓI ĐẦU Lịch sử phát triển của loài người luôn gắn liền với những phát minh. Máy tính điện tử có thể được coi là một trong những phát minh vĩ đại nhất. Sự ra đời của máy tính điện tử chưa đầy 100 năm nhưng nó đã làm thay đổi mạnh mẽ cuộc sống của con người. Ngày nay chiếc máy tính điện tử đã thâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Bên cạnh chiếc máy tính điện tử thì còn phải kể đến chiệc điện thoại do Abraham Bell phát minh ra. Giao tiếp bằng chiếc điện thoại đã làm thay đổi căn bản phương thức giao tiếp của con người và nó đã xóa mờ mọi khoảng cách về địa lý. Trong những năm vừa qua, sự phát triển mạng mẽ của internet và các trang Web khiến người ta hay nói nhiều đến công nghệ thông tin và đặc biệt là thương mại điện tử (E-commerce). Quả thật thương mại điện tử là một phương pháp kinh doanh mới nhưng nó cũng có những hạn chế khi đòi hỏi những người mua và bán ngồi liên tục bên chiếc máy tính của mình. Đối với các doanh nhân hay thế hệ trẻ việc ngồi liên tục ở một chỗ là điều không thích hợp. Những tiến bộ nhanh chóng về công nghệ điện thoại di dộng khiến người ta đề cập đến một vấn đề mới đó là M-commerce. Với M-commerce thì vẫn là thương mại nhưng các doanh nhân hay khách hàng đều có thể tìm kiếm, giao dịch thông qua chiếc điện thoại di động luôn mang theo bên mình. M-commerce đã khắc phục được hạn chế của E-commerce thông qua việc kết hợp thêm tính năng di động của chiếc điện thoại. M-commerce là một khái niệm mới, để xây dựng được các ứng dụng M-commerce đòi hỏi các nhà phát triển vượt qua những rào cản về mặt kỹ thuật. Với mong muốn tìm hiểu những kỹ thuật và công nghệ để xây dựng các ứng dụng M-commerce, em đã chọn và thực hiện đề tài tốt nghiệp: “Mobile Wireless và hệ thống dịch vụ giá trị gia tăng trên Web”. CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN Nội dung chương này đề cập đến những vấn đề chính sau: Dịch vụ giá trị gia tăng trên di động là gì? Các loại hình dịch vụ giá trị gia tăng trên di động Nhiệm vụ của đồ án tốt nghiệp 1.1. Dịch vụ giá trị gia tăng trên di động là gì? Trước khi đi vào tìm hiểu các dịch vụ giá trị gia tăng trên điện thoại di động và các loại hình dịch vụ đó thì chúng ta cùng nhau làm rõ khái niệm dịch vụ “giá trị gia tăng” (value added) trên điện thoại di động. Quay trở lại với dòng lịch sử, có thể thấy từ khi Alexander Graham Bell phát minh ra điện thoại năm 1876, điện thoại đã đi vào cuộc sống và làm thay đổi cách thức giao tiếp của loài người cũng như ảnh hưởng tới các mặt của đời sống kinh tế, xã hội một cách sâu sắc. Đó là chúng ta nói đến điện thoại có dây. Khi mà khoa học phát triển hơn thì điện thoại di động đã ra đời. Nếu như vào năm 1993 ở nước ta khi một bài báo viết về một thiết bị điện thoại không dây nối lúc đó đang có ở Thái Lan thì đối với mọi người Việt Nam thì đó là một thứ gì đó hoàn toàn xa lạ. Đến thời điểm hiện nay của năm 2006 thì số thuê bao di động trên tất cả các mạng ở Việt nam đã là khoảng 11 triệu thuê bao và đang có xu hướng tăng mạnh khi mà có thêm các nhà cung cấp mới như EVN Telecom, Hà nội Telecom. Khi điện thoại ra đời thì mục đích đơn thuần của nó chỉ là truyền âm thanh và cụ thể là giọng nói của con người, nhưng hiện nay khi mà điện thoại di động phát triển thì mục đích của nó không đơn thuần là các cuộc đàm thoại thông thường và tất cả các dịch vụ mà các thuê bao di động được sử dụng ngoài các cuộc đàm thoại ra đều được gọi là các dịch vụ “giá trị gia tăng”, ví dụ như nhắn tin ngắn, tải nhạc chuông, hình ảnh,… Các dịch vụ này có thể do nhà cung cấp dịch vụ điện thoại cung cấp hoặc do một đối tác trung gian thứ ba. Ở các phần tiếp theo sau đây chúng ta sẽ đi tìm hiểu cụ thể về các loại hình dịch vụ giá trị gia tăng. 1.2. Các loại hình dịch vụ giá trị gia tăng 1.2.1. Email di động Thư điện tử (Email) từ lâu đã trở thành ứng dụng quan trọng bậc nhất, thành công nhất của mạng Internet. Thư điện tử cho phép người sử dụng làm việc có hiệu quả hơn, giao tiếp với nhau nhanh hơn, tăng tốc độ và chất lượng của việc ra quyết định trong các doanh nghiệp. Thư điện tử còn cho phép hỗ trợ và chăm sóc khách hàng trực tuyến tốt hơn. Sức mạnh của thư điện tử đã san bằng khoảng cách về địa lý, ngôn ngữ và trở thành phương tiện giao tiếp hiệu quả nhất trong kinh doanh. Thư điện tử không dây (Wireless Email) càng làm cho thư điện tử truyền thống tăng thêm sức mạnh. Nó cho phép người sử dụng đọc và trả lời Email mọi lúc, mọi nơi, không nhất thiết phải ngồi ở văn phòng hoặc ở nhà mới kiểm tra, đọc và trả lời được Email. Email di động đã tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau. Ví dụ như người sử dụng có thể gửi và nhận Email dưới dạng nhắn tin ngắn SMS (Short Message Service), một dịch vụ rất phổ biến trên tất cả các mạng di động. Một dạng Email di động khác là việc truy nhập Email sử dụng các thiết bị PDA, thiết bị nhắn tin (Pager) hoặc các thiết bị không dây khác để tải Email từ máy tính cá nhân hoặc là qua mạng không dây. Tuy nhiên, các dạng Email di động trên đều có những hạn chế nhất định. Ví dụ như các dạng Email di động trên không có khả năng sử dụng cho những người sử dụng chuyên nghiệp, cần nhận và gửi những Email có kích thước lớn và truy nhập Email theo thời gian thực (real-time). Thay vào đó, các dạng Email di động này đòi hỏi phải tạo ra và lưu trữ các bản sao của Email trên máy chủ, trên máy trạm hoặc trên các thiết bị Email Gateway. Kết quả là người sử dụng phải xem, quản lý và lưu trữ Email ở nhiều chỗ khác nhau. Email di động, truy nhập qua WAP, cho phép truy nhập trực tuyến (live) vào bản sao của Email ở trên máy chủ Web-based Email Server. Chỉ tồn tại một bản sao duy nhất của Email, do đó, một sự thay đổi từ thiết bị WAP sẽ dẫn đến thay đổi tức thì và tự động trên hộp thư của người sử dụng trên máy chủ. Và như vậy là người sử dụng sẽ chỉ phải xử lý Email một lần duy nhất. Các thiết bị hỗ trợ WAP-based Email cho phép đọc thư, trả lời thư, nhận biết thư mới và thậm chí là định tuyến các file gửi kèm tới các máy in hoặc máy Fax gần đó. Email di động là ứng dụng quan trọng nhất của dịch vụ WAP và các khả năng về giao diện thân thiện với người sử dụng, khả năng báo Email mới (Mail Notification) là những ưu điểm lớn nhất của việc truy nhập Email qua WAP. 1.2.2. Quản lý thông tin cá nhân Quản lý thông tin cá nhân (PIM - Personal Information Management) bao gồm các công cụ rất cần thiết cho công việc hàng ngày như lịch, lịch công tác, danh sách những địa chỉ liên hệ, danh bạ điện thoại và danh mục những việc cần làm. Cùng với thư điện tử, PIM đã trở thành một trong những ứng dụng quan trọng nhất, cho phép người sử dụng lập lịch cho các cuộc họp và quản lý được danh sách các địa chỉ liên hệ và số điện thoại của các đối tác, ngay cả khi đang ở trên đường. Giải pháp quản lý thông tin cá nhân qua WAP cho phép người sử dụng tải về và đồng bộ cơ sở dữ liệu PIM qua không gian, truy nhập vào danh bạ điện thoại, cơ sở dữ liệu về số điện thoại, địa chỉ cũng như các thông tin khác mọi lúc, mọi nơi. Khi người sử dụng cập nhật thông tin về một địa chỉ liên hệ mới qua giao diện Web, thông tin mới được cập nhật này sẽ cập nhật vào cơ sở dữ liệu PIM và ngay lập tức có thể tải về các thiết bị không dây. Giao diện thân thiện của danh mục người cần liên hệ trên máy điện thoại di động có hỗ trợ WAP sẽ cho phép người sử dụng gọi điện thoại ngay cho người đó chỉ bằng một động tác bấm phím quay số (one-touch dial). Khi PIM được sử dụng kết hợp với nhận dạng tiếng nói, người sử dụng thậm chí còn có thể quay số bằng giọng nói tới một số điện thoại lưu trong sổ điện thoại. Một ưu điểm nữa của việc quản lý thông tin cá nhân qua giao diện WAP là cho phép nhắc người sử dụng về một cuộc hẹn hoặc một buổi họp nào đó sử dụng các biện pháp thông báo qua mạng không dây, ví dụ như sử dụng SMS. 1.2.3. Unified Messaging Unified Messaging cho phép người sử dụng trả lời một bản tin đa phương tiện mà không cần quan tâm đến dạng của bản tin đó. Unified Messaging cho phép tích hợp cả thoại, Email và Fax vào trong một hộp thư duy nhất để người sử dụng có thể truy nhập. Theo dự báo của các chuyên gia, toàn thế giới sẽ có 200 triệu hộp thư vào năm 2006. Với việc sử dụng các dịch vụ Voicemail của điện thoại và Email trên Internet, người sử dụng đồng thời sẽ có một số hộp thư: một hộp thư thoại cho điện thoại để bàn, một hộp thư thoại cho điện thoại di động, một hộp thư đa phương tiện cho Email, một hộp thư dạng văn bản cho máy nhắn tin … Hơn thế nữa, rất nhiều người lại sử dụng cùng lúc nhiều thiết bị và kết quả là rất nhiều loại hộp thư đang chờ họ! Unified Messaging cho phép người sử dụng sử dụng các thiết bị khác nhau không những chỉ để truy nhập một hộp thư chứa nhiều dạng bản tin khác nhau mà còn có thể trả lời các bản tin đó theo dạng bản tin mà người gửi có thể đọc được. Đây là ứng dụng quan trọng cho việc kết hợp giữa các bản tin trong hai thế giới thoại và dữ liệu. Với việc sử dụng Unified Messaging, người sử dụng có thể sử dụng điện thoại bấm số, máy tính cá nhân đa phương tiện, điện thoại điều khiển bằng tiếng nói, giao diện Web hoặc máy điện thoại di động với giao diện WAP để truy nhập một hộp thư duy nhất. Với sự hỗ trợ của công nghệ Push của mạng không dây, người sử dụng sẽ được thông báo khi có bản tin mới thông qua máy nhắn tin, điện thoại di động hoặc các thiết bị cầm tay khác. Người sử dụng sẽ biết được mức độ quan trọng của bản tin đó thông qua tên người gửi, thời gian gửi bản tin, độ dài bản tin và chủ đề của bản tin. Người sử dụng có thể soạn, chuyển tiếp hoặc lưu trữ bản tin đó dưới dạng Email hoặc Voicemail. 1.2.4. Instant Messaging Instant Messaging (hội thoại tức thời) cho phép hai hoặc nhiều người đối thoại trực tuyến qua mạng. Không giống như Email, giao tiếp giữa hai người diễn ra cùng một lúc khi sử dụng Instant Messaging. Không giống như chat vô danh, Instant Messaging cho phép tạo ra một danh sách những người bạn chat riêng và cho phép xác định bạn chat nào đang on-line. Những tính năng thông dụng của Instant Messaging bao gồm khả năng nhận biết bạn chat có on-line hay không hoặc nhận thông báo khi bạn chat on-line, khả năng trao đổi thông điệp tức thời, gửi ảnh, văn bản cũng như khả năng tham gia vào các phòng chat. Khi mạng có vấn đề làm gián đoạn cuộc hội thoại, Instant Messaging cho phép thực hiện chức năng của một hệ thống lưu trữ và chuyển sau (store and forward) để đảm bảo bạn chat vẫn nhận được thông điệp khi họ on-line trở lại. Một số ứng dụng Intstant Messaging còn cho phép tích hợp tính năng Voice Chat và cả WebCam như Yahoo Messenger. Những chương trình Instant Messenger nổi tiếng nhất hiện nay trên Internet là AIM (American Online Instant Messenger), Yahoo Messenger, Microsoft Messenger và ICQ. Theo như Jupiter Communications, Instant Messaging là một trong mười ứng dụng on-line hàng đầu ngày nay trên mạng Internet và số lượng người sử dụng Instant Messaging sẽ đạt con số trên 400 triệu vào năm 2006. Hiện tại, dịch vụ AIM của American Online đã có hơn 90 triệu người sử dụng, trao đổi hơn 1 tỷ thông điệp một ngày trong khi hàng ngày chỉ có 110 triệu Email được gửi đi. Có thể nói, Instant Messaging có sức cuốn hút cả người vị thành niên và người lớn và ngày càng lấn át Email để trở thành ứng dụng hàng đầu trên mạng Internet. Cùng với WAP, Instant Messaging sẽ có thêm hàng tỷ người sử dụng trên khắp thế giới. Người sử dụng sẽ có thể giao tiếp với bạn chat sử dụng máy tính cá nhân hoặc là máy điện thoại cầm tay. Các ứng dụng Instant Messaging có ưu điểm là chủ yếu chỉ truyền dữ liệu dạng văn bản. Vì vậy, các ứng dụng này có thể tối ứu hóa cho máy điện thoại di động với những hạn chế về bàn phím. Hãng AOL đã hợp tác với hãng Nokia, Motorola và các hãng sản xuất điện thoại di động khác để phát triển phần mềm AOL Mobile Messenger mới cho các thiết bị di động. Cả Microsoft cũng đã vào cuộc với phần mềm Microsoft Mobile Messenger. 1.2.5. Các dịch vụ thông tin (Information Services) World Wide Web từ lâu đã trở thành cơ sở dữ liệu phân tán lớn nhất thế giới. Đó là một mỏ thông tin vô giá khi bạn cần tra cứu thông tin. Mọi người truy nhập Web vào thời gian rảnh rỗi để tìm kiếm thông tin về lĩnh vực mà mình ưa thích, có thể là các sự kiện mới nhất, các thông tin về tiến bộ khoa học công nghệ hoặc các thông tin giật gân. Nói chung, các thông tin trên tràn ngập máy tính của bạn khi bạn truy nhập Web. Với các thiết bị WAP, việc bị quá tải bởi quá nhiều thông tin như trên sẽ không xảy ra. Những hạn chế của thiết bị đầu cuối WAP buộc các thông tin cung cấp qua WAP không những cần phải đơn giản và thân thiện với người sử dụng mà còn cần phải rõ ràng và có những giá trị tức thời. Điều quan trọng hơn là người sử dụng WAP mong muốn nhận được những thông tin mình mong muốn tại thời điểm mong muốn và với lượng thông tin. Những thông tin này cũng có thể được thay đổi phù hợp với từng người sử dụng, ví dụ như tự động thay đổi ngôn ngữ hoặc thay đổi nội dung theo vị trí của người sử dụng dịch vụ WAP. Ví dụ như một người khách du lịch đến New York có thể tìm hiểu về thời tiết tại New York hoặc thông tin về các quán ăn nổi tiếng ở New York cũng như đường đến các quán ăn đó từ vị trí hiện tại của thuê bao. Khác với những người sử dụng Web, những người sử dụng WAP cần những thông tin thay đổi theo từng phút ví dụ như những thông tin về chứng khoán, những thông tin theo vị trí thuê bao cũng như những thông tin chỉ đường hoặc đơn giản là những trò chơi và giải trí. Tương tự như với Web, người sử dụng dịch vụ WAP cũng có thể lưu lại các địa chỉ WAP Site thường xuyên truy nhập vào sổ bookmark, lưu trên thiết bị điện thoại di động hoặc lưu trên máy chủ. Tính năng này trở nên rất hữu ích đối với những thiết bị di động bị hạn chế về khả năng bàn phím. Những dịch vụ thông tin sau đây có thể được cung cấp qua giao diện WAP: Tin tức: Các tin tức xã hội, tài chính, chính trị, tin thể thao có thể cung cấp cho người sử dụng dịch vụ WAP với ngôn ngữ và dạng tùy chọn. Một số hãng thông tấn như CNN và Reuters đã cung cấp những thông tin này cho những người sử dụng di động. WAP còn cho phép quảng cáo dựa theo sở thích và vị trí của người sử dụng, với thông tin được đẩy (push) thẳng tới thiết bị đầu cuối của người sử dụng. Bản tin giao thông: Khi kết hợp giữa thông tin dạng văn bản và đồ họa, các thông tin về tình trạng giao thông trong thành phố có thể được cập nhật đến người sử dụng WAP. Ví dụ như thuê bao có thể xác định được tình trạng giao thông, mật độ xe trên các đường cao tốc và có thể định ra được các tuyến đường để tránh kẹt xe giờ cao điểm. Dự báo thời tiết kết hợp với dữ liệu về vị trí thuê bao: Thông tin dự báo thời tiết có thể được cập nhật từng phút đến người sử dụng dịch vụ WAP. Các hình ảnh dự báo thời tiết chụp từ vệ tinh cũng có thể được cung cấp tuỳ theo vị trí của thuê bao. Kết hợp với khả năng thông báo, những bản tin dự báo thời tiết này sẽ báo cho mọi người biết về nguy cơ xảy ra bão, vòi rồng hoặc bão tuyết. Các thông tin dự báo thời tiết này có thể được thay đổi tuỳ theo nhu cầu người sử dụng muốn biết thông tin về dự báo thời tiết biển, dự báo thời tiết cho tàu, cho người trượt tuyết hay người thường hay đánh golf. Việc nhận được thông tin dự báo thời tiết mọi lúc, mọi nơi sẽ giúp cho người sử dụng đưa ra những quyết định chính xác hơn. Các dịch vụ thông tin khác: Người sử dụng WAP có thể tìm kiếm số điện thoại và đường đi đến quán ăn Italia gần nhất, địa điểm có máy đổi tiền ATM gần nhất, lịch tàu chạy … Hơn thế nữa, người sử dụng WAP còn có thể xem các bản đồ trên màn hình điện thoại di động để tìm hiểu về một vùng xa lạ. Bản đồ này còn được cập nhật thường xuyên thông tin về tình trạng hiện tại của các tuyến đường. 1.2.6. Mobile Commerce Thương mại điện tử (E-Commerce) là việc triển khai các hoạt động thương mại qua mạng Internet bằng cách thiết lập thị trường trên mạng và chuyển tiền qua mạng. Thương mại điện tử bao gồm việc lưu trữ các kho hàng điện tử trên các Web Site, catalog on-line trên mạng về các mặt hàng rao bán, bao gồm các ứng dụng cho phép thay đổi giá động và triển khai các hoạt động xúc tiến bán hàng, đồng thời bao gồm các giao tiếp đến hệ thống thanh toán, chuyển khoản qua mạng. Thương mại điện tử là ứng dụng giao dịch phổ biến nhất và có sức phát triển mạnh mẽ nhất trên mạng Internet. Mobile Commerce (thương mại di động) mở rộng thêm khả năng giao tiếp của thương mại điện tử tới mọi khách hàng sử dụng điện thoại di động, đưa các kho hàng điện tử tới khách hàng ở mọi lúc, mọi nơi. Những tiến bộ trong công nghệ xác thực khách hàng cho phép thực hiện một cách an toàn các giao dịch kinh doanh giữa các Web Site bán hàng và thiết bị di động của khách hàng và của nhà cung cấp. Những ứng dụng chính của thương mại di động bao gồm: Ngân hàng điện tử: Người sử dụng WAP có thể kiểm tra số dư trong tài khoản ngân hàng, chuyển tiền giữa các tài khoản. Khách hàng sẽ bị cuốn hút bởi khả năng tự do thanh toán ở mọi nơi, không bị ràng buộc bởi các máy tính cá nhân, máy rút tiền ATM hoặc ngân hàng. Việc sử dụng thiết bị di động cho các giao dịch ngân hàng làm giảm thiểu chi phí của các nhà băng
Luận văn liên quan