Đồ án Tính toán thiết kế hệ thống xử lý nước thải nhà máy dệt nhuộm lý minh công suất 300 m3/Ngày đêm

Nền công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của Việt Nam đã trải qua rất nhiều giai đoạn phát triển và bị ảnh hưởng bởi các nền kinh tế cũng như khoa học trên thế giới, đặc biệt từ Châu Âu đến Châu Mỹ. Nền sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của đất nước về cả công nghệ và thiết bị thể hiện rất rõ nét ảnh hưởng này và mang đặc điểm của một nền sản xuất của nước đang phát triển. Đó là công nghệ và thiết bị không đồng nhất từ nhiều nước khác nhau. Công nghệ tiêu tốn rất nhiều năng lượng và nguyên liệu, thải ra rất nhiều chất phế thải như nước thải, tiếng ồn, chất thải rắn. Sự phân bố của các cơ sở sản xuất không được quy hoạch, rất nhiều điều bất hợp lý, đặc biệt là các nhà máy nằm xen kẽ trong các khu dân cư do sự phát triển của công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tự do theo yêu cầu của thị trường. Với đặc trưng của sự phát triển như vậy nên mâu thuẩn giữa nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và yêu cầu bảo vệ môi trường ngày càng phát triển sâu sắc. Cùng với sự phát triển kinh tế nói chung và của sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp nói riêng, đặc biệt là sự phát triển sản xuất ở khu vực của các thành phố và các khu công nghiệp lớn, lượng chất xả thải và môi trường ngày càng tăng cả về số lượng và thành phần. Điều này đặc biệt nghiêm trọng khi mà thực tế hầu như tất cả các cơ sở sản xuất đều không có hệ thống xử lý, các chất xả thải khi xả vào môi trường. Để phục vụ phát triển bền vững và góp phần bảo vệ môi trường, xử lý các chất thải trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Nghành công nghiệp dệt nhộm là một trong các ngành công nghiệp có bề dày truyền thống ở nước ta những năm qua. Trong thời gian mở cửa của đất nước ta hiện nay, ngành này cũng chiếm một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, đóng góp đáng kể cho ngân sách nhà nước và giải quyết công ăn việc làm cho khá nhiều lao động. Tuy vậy nghành dệt nhuộm đang là nguồn gây ô nhiễm môi trường khá mạnh mà tiêu biểu là nước thải từ công đoạn nhuộm vải. Do đó việc tiến hành dự án xây dựng hệ thống xử lý nước thải cho công ty TNHH dệt nhuộm LÝ MINH là cần phải có để một phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước, bảo vệ sức khỏe cho cán bộ công nhân trong nhà máy và trong khu vực khu công nghiệp VINATEX – Tân Tạo.

doc106 trang | Chia sẻ: ngtr9097 | Ngày: 10/06/2013 | Lượt xem: 1860 | Lượt tải: 14download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đồ án Tính toán thiết kế hệ thống xử lý nước thải nhà máy dệt nhuộm lý minh công suất 300 m3/Ngày đêm, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ Nền công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của Việt Nam đã trải qua rất nhiều giai đoạn phát triển và bị ảnh hưởng bởi các nền kinh tế cũng như khoa học trên thế giới, đặc biệt từ Châu Âu đến Châu Mỹ. Nền sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của đất nước về cả công nghệ và thiết bị thể hiện rất rõ nét ảnh hưởng này và mang đặc điểm của một nền sản xuất của nước đang phát triển. Đó là công nghệ và thiết bị không đồng nhất từ nhiều nước khác nhau. Công nghệ tiêu tốn rất nhiều năng lượng và nguyên liệu, thải ra rất nhiều chất phế thải như nước thải, tiếng ồn, chất thải rắn. Sự phân bố của các cơ sở sản xuất không được quy hoạch, rất nhiều điều bất hợp lý, đặc biệt là các nhà máy nằm xen kẽ trong các khu dân cư do sự phát triển của công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tự do theo yêu cầu của thị trường. Với đặc trưng của sự phát triển như vậy nên mâu thuẩn giữa nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và yêu cầu bảo vệ môi trường ngày càng phát triển sâu sắc. Cùng với sự phát triển kinh tế nói chung và của sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp nói riêng, đặc biệt là sự phát triển sản xuất ở khu vực của các thành phố và các khu công nghiệp lớn, lượng chất xả thải và môi trường ngày càng tăng cả về số lượng và thành phần. Điều này đặc biệt nghiêm trọng khi mà thực tế hầu như tất cả các cơ sở sản xuất đều không có hệ thống xử lý, các chất xả thải khi xả vào môi trường. Để phục vụ phát triển bền vững và góp phần bảo vệ môi trường, xử lý các chất thải trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Nghành công nghiệp dệt nhộm là một trong các ngành công nghiệp có bề dày truyền thống ở nước ta những năm qua. Trong thời gian mở cửa của đất nước ta hiện nay, ngành này cũng chiếm một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, đóng góp đáng kể cho ngân sách nhà nước và giải quyết công ăn việc làm cho khá nhiều lao động. Tuy vậy nghành dệt nhuộm đang là nguồn gây ô nhiễm môi trường khá mạnh mà tiêu biểu là nước thải từ công đoạn nhuộm vải. Do đó việc tiến hành dự án xây dựng hệ thống xử lý nước thải cho công ty TNHH dệt nhuộm LÝ MINH là cần phải có để một phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước, bảo vệ sức khỏe cho cán bộ công nhân trong nhà máy và trong khu vực khu công nghiệp VINATEX – Tân Tạo. 1.2 TÍNH CẤP THIẾT VÀ LÝ DO HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI Hiện nay chủ trương bảo vệ môi trường của chính phủ căn cứ nghị định số 175/CP, ngày 18/10/1994 của Thủ Tướng Chính phủ về hướng dẫn thi hành luật Bảo vệ môi trường, nhằm tăng cường công tác bảo vệ môi trường trên toàn lãnh thổ thì việc xây dựng trạm xử lý nước thải là vấn đề cấp thiết là tuân thủ luật lệ của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thêm vào đó, nằm trong khu công nghiệp VINATEX – Tân Tạo, phù hợp với mục đích sản xuất đảm bảo sản xuất có hiệu quả, vừa bảo vệ môi trường và giảm thiểu tác động đến môi trường khu vực như các tác động môi trường không khí, môi trường nước, môi trường đất và sức khỏe của toàn bộ công nhân trong công tác. Hơn nữa, trong quá trình hoạt động của công ty LÝ MINH thì vấn đề gây tác động đến môi trường xung quanh chủ yếu là do nước thải sinh ra từ công đoạn nhuộm vải. Lượng nước khá lớn khoảng 300m3/ngày. Do đó nếu không xử lý triệt để thì về lâu dài lượng nước thải này sẽ tích tụ, gây ô nhiễm các cống rãnh, kênh rạch xung quanh khu công nghiệp từ các vấn đề ô nhiễm đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của dân cư xung quanh khu công nghiệp. Nước thải ra môi trường phải đảm bảo được chất lượng nước đạt tiêu chuẩn loại B của TCVN 5945 – 1995 hoặc tương đương. Đó là lý do quan trọng để hình thành đề tài này. 1.3 NỘI DUNG ĐỀ TÀI Khảo sát hiện trạng ô nhiễm môi trường nước của xí nghiệp: nguồn gây ô nhiễm của công nghệ sản xuất, tính chất của nước thải tổng hợp. Lấy mẫu và phân tích các chỉ tiêu nước thải tại công ty (COD, BOD, SS, Ph, tổng N, SO – 4) , xác định các chỉ tiêu cần xử lý. Thiết kế và tính toán trạm xử lý nước thải. 1.4 GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI Địa điểm thực hiện: Công ty TNHH dệt nhuộm LÝ MINH Địa điểm của công ty: B410 – B411 – B412, đường 319B, Khu Công Nghiệp VINATEX – Tân Tạo, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai. Thời gian thực hiện: 19/4 – 12/7 Tính toán và thiết kế các công trình đơn vị trong trạm xử lý nước thải 1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Phương pháp lấy mẫu và phân tích các chỉ tiêu về nước thải Phương pháp so sánh: So sánh các chỉ tiêu với tiêu chuẩn cho phép, từ đó có thể xác định các chỉ tiêu cần xử lý. Phương pháp phân tích tổng hợp: Thu thập kiến thức từ tài tài liệu sau đó quyết định phương án xử lý triệt để có hiệu quả. Phương pháp chuyên gia: Tham khảo thu thập ý kiến chuyên gia thầy cô. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP DỆT NHUỘM VÀ KHẢ NĂNG GÂY Ô NHIỂM CỦA NƯỚC THẢI DỆT NHUỘM 2.1 GIỚI THIỆU VỀ NGÀNH CÔNG NGHỆ DỆT NHUỘM Công nghệ dệt nhuộm là ngành đang phát triển nhanh chóng do sự đầu tư của trong và ngoài nước. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường thời mở cửa, dệt nhuộm là ngành công nghiệp chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, đóng góp đáng kể cho ngân sách nhà nước và là nguồn giải quyết công ăn việc làm cho nhiều người lao động. Dệt nhuộm là loại hình công nghiệp đa dạng về chủng loại sản phẩm và có sự thay đổi về nguyên liệu, đặc biệt là thuốc nhuộm. Nước thải công nghiệp dệt nhuộm rất đa dạng và phức tạp. Theo tính toán, các loại hóa chất sử dụng như: phẩm nhuộm, chất hoạt động bề mặt, chất điện ly, chất ngâm, chất tạo môi trường, tinh bột, chất oxy hóa và nhiều loại hóa chất còn hòa tan dưới dạng ion đã làm tăng tính độc hại không những trong thời gian trước mắt mà còn lâu dài sau này đến đời sống. Công nghiệp dệt nhuộm đã sử dụng một lượng lớn nước phục vụ cho sản xuất, đồng thời xả ra một lượng nước thài tương ứng, trong đó nguồn gây ô nhiễm chính cần giải quyết là từ công đoạn tẩy và nhuộm. Thành phần nước thải bao gồm: thuốc nhuộm thừa, chất hoạt động bề mặt, các chất oxy hóa, cellulose, sáp, xút, chất điện ly… Nước thải tẩy giặt có pH dao động khá lớn từ 9 – 12, hàm lượng chất hữu cơ cao (COD = 1000 – 3000 mg/l) do thành phần các chất tẩy rửa gây nên. Độ màu của nước thải khá lớn ở những giai đoạn tẩy ban đầu và có thề lên đến 10000Pt – Co, hàm lượng cặn lơ lửng có thể đạt giá trị 2000mg/l, nồng độ này giảm dần ở cuối giai đoạn chu kỳ xả và giặt. Thành phần nước thải dệt nhuộm không ổn định và đa dạng, thay đổi theo từng nhà máy khi nhuộm các loại vải khác nhau, môi trường nhuộm là axit hay kiềm, hoặc trung tính. Cho đến nay hiệu quả hấp phụ thuốc nhuộm chỉ đạt 60 – 70%,30 – 40% các phẩm nhuộm thừa còn lại ở dạng nguyên thủy hay ở dạng phân hủy dạng khác, ngoài ra một số chất điện ly, chất hoạt động bề mặt, chất tạo môi trường… cũng tồn tại trong nước thải nhuộm. Đó là nguyên nhân gây ra độ màu rất cao của nước thải dệt nhuộm. Thành phần phẩm nhuộm thường chứa các gốc như R – SO3Na, R – SO3H, N – OH, R – NH3, R – Cl…, nước thải có pH thay đổi từ 2 – 14, độ màu rất cao đôi khi lên đến 5000Pt – Co, hàm lượng COD thay đổi từ 80 – 18000mg/l. Tùy theo từng loại phẩm nhuộm (phân tán, trực tiếp, hoạt tính) mà ảnh hưởng đến tính chất nước thải. Riêng trường hợp sử dụng sản phẩm phân tán, đối với một số mẫu nhất định, nước thải sau khi nhuộm có hàm lượng cặn lơ lựng thấp, có độ màu không đáng kể, đa số cặn không tan lắng được. Nước thải công nghiệp dệt nhuộm gây ô nhiễm nghiêm trọng đối với môi trường sống, các chỉ số như: pH, COD, COD, độ màu, nhiệt độ đều vượt quá tiêu chuần cho phép xả vào nguồn, hàm lượng chất hoạt động bề mặt đôi khi khá cao, lên tới 10 – 12 mg/l, khi xả thải vào nguồn nước sông, kênh rạch thì nó tạo màng nổi trên bề mặt, ngăn cản sự khuyếch tán oxy vào môi trường nước gây nguy hại cho hoạt động của thủy sinh vật. Điều quan trọng nữa đó là độ màu của nước thải khá cao, việc xả liên tục vào nước đã làm cho độ màu tăng, dẫn đến hiện trạng nguồn nước bị đục, chính các thuốc nhuộm thừa có khả năng hấp thụ ánh sáng ngăn cản sự khuếch tán ánh sáng vào nước, do vậy thực vật dần dần bị hủy diệt, sinh thái nguồn nước có thể bị ảnh hưởng nghiên trọng. Thêm vào đó, thành phần nước thải rất đa dạng, một số các kim loại nặng tồn tại dưới dạng phẩm nhuộm, các hóa chất phụ trợ cũng hết sức nguy hại, là độc tố tiêu hủy sinh vật và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người. 2.2 QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ TỔNG QUÁT CỦA NGÀNH DỆT NHUỘM 2.2.1 Đặc tính nguyên liệu 2.2.1.1 Nguyên liệu dệt: Nguyên liệu trực tiếp cho nhà máy dệt là các loại sợi. Nhưng nhìn chung các loại vải đều dệt từ 3 loại sau: Sợi cotton: được kéo từ sợi bông vải, có đặc tính hút ẩm cao, xốp. Bền trong môi trường kiềm, phân hủy trong môi trường acid. Mặc hàng này thích hợp với khí hậu nóng, tuy nhiên sợi còn lẫn nhiều tạp chất như sáp, mài bông và dễ nhàu. Do vậy cần xử lý kỹ trước khi nhuộm để loại bỏ tạp chất. Sợi polyester: là sợi hóa học dạng cao phân tử được tạo thành từ quá trình tổng hợp hữu cơ, hút ẩm kém, cứng bền ở trạng thái ướt sơ… Tuy nhiên kém bền với ma sát nên loại vải này thường được trộn chung với các loại vải khác. Sợi này bền với acid nhưng kém bền với kiềm. Sợi pha PECO: sợi pha peco được pha chế để khắc phục các nhược điểm của sợi PE và cotton kể trên. 2.2.1.2 Nguyên liệu nhuộm và in hoa Các sản phẩm nhuộm thường được sử dụng bao gồm: Phẩm nhuộm phân tán: là loại phẩm không tan trong nước nhưng ở trạng thái phân tán và huyền phù trong dung dịch và có thể phân tán trên sợi, mạch phân tử thường nhỏ. Có thể có nhiều họ khác nhau như: antharaquion, nitroannimin… Được dùng để nhuộm sợi: poliamide, polymide, polyester, axetat… Phẩm nhuộm trực tiếp: dùng để nhuộm vải cotton trong môi trường kiềm, thường là muối sulfonat của các hợp chất hữu cơ: R – SO3NA, kém bền với ánh sáng và khi giặt. Phẩm nhuộm acid: đa số các hợp chất sulfo chứa một hay nhiều nhóm SO3H và một vài dẫn xuất chứa nhóm COOH dùng phẩm nhuộm trực tiếp các loại tơ chứa nhóm bazơ. Phẩm nhuộm hoạt tính: có công thức tổng quát S – F – T = X Trong đó: F: phân tử mang màu S: nhóm tan trong nước T: gốc mang phản ứng X: nhóm có khả năng phản ứng… Thuốc nhuộm sẽ phản ứng sơ trực tiếp vào sản phẩm phụ và HCl nên cần nhuộm trong môi trường kiềm yếu. Phẩm hoàn nguyên: bao gồm các họ màu khác nhau như: indigo, dẫn xuất anthraquion, phẩm sulfua… dùng để nhuộm sợi bông, sợi tổng hợp. Ngoài ra, đề có được mặc hàng đẹp, bền màu và thích hợp với người tiêu dùng, ngoài phẩm nhuộm còn có các chất phụ trợ khác như: chất thấm, chất tải, chất giặt, chất điều chỉnh pH (CH3COOH, Na2CO3, NaOH) , chất hồ chống nước, hồ mềm, hồ láng, chất chống loang màu… 2.2.2. Qui trình công nghệ tổng quát Trong quy trình công nghệ sản xuất của nhà máy dệt nhuộm có một số công đoạn sử dụng hóa chất và tạo ra nước thải, cụ thể như sau. 2.2.2.1 Nấu tẩy Đây là công đoạn tiền xử lý và quyết định trong quá trình nhuộm về sau, vải được tiền xử lý tốt mới đảm bảo được mức độ trắng cần thiết đảm bảo cho thuốc nhuộm bám đều trên bề mặt vải và giữa lại trên đó. Các công đoạn nấu tẩy gồm có: lật khâu, đốt lông, rũ hồ, nấu xút. Rũ hồ: các lõi mộc xuất ra khỏi phân xưởng dệt thường mang nhiều tạp chất. Ngoài tạp chất thiên nhiên của loại bông, vải còn mang theo nhiều bụi, dầu mở cho quá trình gia công, vận chuyển và nhất là lượng hồ đáng kể trong quá trình dệt. Do đó, mục đích của rũ hồ là dùng một số hóa chất phá hủy chủ yếu lớp yếu này. Đề rũ sạch hồ người ta dùng các acid loãng, bazơ loãng, chất oxy hóa, men sinh vật, chất thấm và chất điện ly. 2.2.2.2 Nấu xút Xút có tác dụng pha hủy một cellulose trong sơ và thủy phân các tạp chất khác như mở, xốp, bectin (dạng tan trong nước) để giặt sạch các chất này khỏi vải. Kết quả vải trở nên xốp, mềm mại và háo nước hơn, dễ thấm dung dịch thuốc nhuộm và hồ in ở các công đoạn tiếp theo. Hóa chất sử dụng là dung dịch xút. Ngoài ra sử dụng chất thẩm thấu để làm cho vải mộc dễ ngấm và loại bỏ khỏi vải tạp chất bị phân hủy bởi xút. Có nhiều chất thẩm thấu khác nhau, nhưng thường dùng chất thẩm thấu loại anion hoặc trung tính như dầu đỏ, invadin, jec, Sluvafun… 2.2.2.3 Tẩy trắng Vải sau khi nấu xút có màu vàng sẫm do các tạp chất trong quá trình nấu bám lại. Ở khâu trắng dưới tác dụng của chất tẩy ở nhiệt độ cao, vải sẽ được trắng hơn. Tuy nhiên tùy theo độ dày mỏng của vải mà nồng độ thuốc tẩy có thể thay đổi) . Hóa chất sử dụng: H2O2 50%: 60g/l Na2SiO3: 20g/l Slovapon N: 0,5g/l Trong đó H2O2 là thuốc công nghiệp tẩy vải thích hợp cho quá trình tẩy liên tục, do tác dụng tẩy vải nhanh chóng, ít gây độc hại cho công nhân vận hành và dễ dàng được tách trong quá trình tẩy. Na2SiO3 có tác dụng tạo môi trường pH thích hợp cho H2O2 phân ly thành nguyên tử oxy để tẩy vải. Ngoài ra, Na2SiO3 còn có tác dụng làm kết tủa ion và tránh tạp chất có trong dung dịch tẩy bám trở lại trên vải trắng. 2.2.3 Công nghệ dệt nhuộm Thuốc nhuộm là tên chung của hợp chất hữu cơ có màu, rất đa dạng về màu sắc chuẩn loại, chúng có khả năng nhuộm màu bằng cách bắt màu hay gắn màu trực tiếp lên vải. Tùy theo cấu tạo, tính chất và phạm vi của chúng người ta phân chia như sau: Pigmen: là tên một số thuốc nhuộm hữu cơ không hòa tan trong nước và một số chất vô cơ có màu như các oxit và muối kim loại. Pigmen thường đề nhuộm in hoa. Do không có ái lực với xơ nên phải dùng màng cao phân để gắn vào vải. Thuốc nhuộm Azo: là loại thuốc nhuộm được sản xuất nhiều chất, trên 50% tổng thuốc nhuộm. Hệ thống mang màu có chứa một hoặc nhiều nhóm Azo – N=N – . Theo phân lớp kĩ thuật có các loại thuốc nhuộm như sau: Thuốc nhuộm trực tiếp: còn gọi là thuốc nhuộm tự bắt màu, là những hợp chất màu hòa tan trong nước có khả năng bắt màu vào xenllulose nhờ các lực hấp thụ trong môi trường trung tính hoặc kiềm. Nhiệt độ nhuộm tối đa ưu từ 75oC đến 950C trong thời gian 60 – 90 phút. Thuốc nhuộm axit: hòa tan trong nước, bắt màu vào xơ môi trường axit, thường dùng để nhuộm len, tơ tằm. Các ion mang màu nhuộm tích điện âm sẽ gắn vào tích điện dương của xơ bằng lực liên kết ion hay liên kết muối. Thuốc nhuộm hoạt tính: là những hộp chất màu mà trong phân tử chứa các nhóm nguyên tử có thể thực hiện mối liên kết hóa trị với xơ. Trị số pH để gắn màu là 10 – 11. Thuốc nhộm bazơ: là những hợp chất màu có cấu tạo khác nhau, hầu hết các muối clorua, oxalat hoặc các muối của bazo hữu cơ. Thuốc nhuộm bazo tan trong nước ô nhiễm, khi hòa tan chúng phân ly thành cation mang màu với anion không mang màu. Như vậy theo tính chất điện hóa thì thuốc nhuộm bazo đối cực với thuốc nhuộm axit. Thuốc nhuộm hòa nguyên: là những hợp chất hữu cơ không hòa tan trong nước, có dạng R=C=O. Khi bị khử sẽ tan trong kiềm và hấp thụ mạnh vài xơ, loại thuốc nhuộm này cũng dễ bị thủy phân và oxy hóa về dạng không tan ban đầu. Nhờ có điểm này nên nó có tên gọi là hoàn nguyên. Thuốc nhuộm hoàn nguyên được dùng để nhuộm xơ xenlullo hoặc thành phần xenlulo trong vải pha. Chúng không được dùng để nhuộm len và tơ tằm vì quá trình nhuộm được tiến hành trong môi trường kiềm (ở pH cao những loại xơ này sẽ bị phân hủy. Khi thuốc nhuộm hòa nguyên không tan, việc chuẩn bị dung dịch nhuộm rất phức tạp nên người ta đã sản xuất ra loại thuốc nhuộm hòa nguyên tan. Qúa trình nhuộm thuốc hòa nguyên tan được thực hiện trong môi trường trung tính, hiện màu trong môi trườn có chất oxy hóa nên thường dùng để nhuộm len, tơ tằm. Thuốc nhuộm phân tán: là những hộp chất màu không tan trong nước, thường cho loại xơ tổng hợp ghét nước. Thuốc nhuộm lưu huỳnh: là những hợp chất màu không tan trong nước nhưng tan trong dung dịch kiềm của Na2S giống như thuốc nhuộm hoàn nguyên, thuốc nhuộm lưu huỳnh có ái lực với xơ xenlulo, đồng thời dễ bị thủy phân và oxy hóa về dạng không tan ban đầu. Sau khi nhuộm, thuốc nằm trên vải ở dạng không tan nên ở dạng mềm cao. Chất tăng trắng quang học: là những hợp chất hữu cơ trung tính, không màu hoặc có màu vàng nhạt, có ái lực với xơ. Đặc điểm của chúng là khi nằm trên xơ sợi chúng có khả năng hấp phụ, một số tia trong miền tử ngoại của quang phổ và phần xạ tia và tia tím. Những tia này bổ trợ cho tai vàng còn lại trên vải để thành tia trắng. Vì vậy sau khi xử lý, vải có độ trắng rất cao và có ánh sáng huỳnh quang xanh biếc. Phạm vi sử dụng thuốc nhuộm: Các loại thuốc nhuộm thích hợp cho từng loại vải. Để nhuộm các loại vật liệu ưa nước, người ta dùng thuốc nhuộm hòa tan trong nước, chúng khuyết tán và gắn màng vào xơ sợi nhờ các lực liên két hóa lý (thuốc trực tiếp) , liên kết ion (thuốc axit, bazo) , liên kết đồng hóa trị (thuốc hoạt tính) . Để nhuộm các loại vật liệu ghét nước (xơ tổng hợp) người ta dùng thuốc nhuộm không tan (thuốc phân tán) . - Nhuộm sợi cotton: thường dùng thuốc hoạt tính, thuốc trực tiếp, hoàn nguyên tan hoặc không tan, azo.. - Nhuộm sợi PE: thường dùng thuốc nhuộm phân tán. - Nhuộm vải pha: có thể chia làm 2 lần, mỗi lần một thành phần, hoặc nhuộm một lần chung cho cả 2 thành phần. Nhuộm lần 1: thuốc phân tán. Nhuộm lần 2: thuốc hoạt tính. Nhuộm 1 bể: thuốc phân tán trực tiếp. 2.2.3.1 Công nghệ in hoa Thường dùng ba loại thuốc nhuộm chủ yếu: hoạt tính, pigmen, phân tán 2.2.3.2 Công nghệ sau khi in Cao ôn: Sau khi in, vải được cao ôn để cầm màu. Thuốc hoạt tính 1500C công nghiệp trong 5 phút. Thuốc pigmen 140 – 1500C trong 3 phút. Thuốc phân tán 2150C trong 1 phút. Giặt: Để loại bỏ tạp chất hay thuốc in dư trên vải: Đối với thuốc hoạt tính: giặt 4 lần Đối với thuốc pigmen: giặt 2 lần Đối với thuốc phân tán: giặt 2 lần 2.2.3.3 Công nghệ hoàn tất Ngoài cộng nghệ xử lý cơ học, người ta xử lý hóa học với các cộng nghệ hồ điển hình. Mặt hàng in bông 100% Finish KVS 40g/l: chống nhàu và nhăn vải Ceramin HCL 10g/l: làm mềm vải Slovapon N 0,1g/l: tăng khả năng thấm hóa chất Mặt hàng in bông PE/CO Polysol S5 1g/l: chống nhàu và nhăn Repellan 77 10g/l: làm mềm vải sợi PE Slovapon NN 5g/l: làm mềm vải sợi, sợi CO Slovapon N 0,1 g/l Mặt hàng nhuộm PE/CO Hồ mềm: giống in bông PE/CO Repellan HYN 40 g/l: chất béo để tạo savon, làm mềm vải Al2 (S04) 3 2 g/l: thuốc làm tác nhân savon hóa. Mặt hàng in bông có diện tích ăn màu nhỏ cần tăng độ trắng: Leucophor BFB 2g/l: chất hoạt quang 2.3 TỔNG QUAN VỀ NƯỚC THẢI DỆT NHUỘM 2.3.1 Bản chất của nước thải dệt nhuộm Nước thải dệt nhuộm là hổn hợp gồm nhiều chất thải. Các chất thải có thể chia thành các loại sau: – Những tạp chất thiên nhiên được tách ra và loại bỏ từ bông, len như bụi, muối, dầu, sáp, mỡ… – Hóa chất các loại (bao gồm cả thuốc nhuộm) thải ra từ các quá trình công nghệ và giật giũ. – Xơ sợi tách ra bởi các tác động hóa học và cơ học trong các công đoạn xử lý Nước thải gia công xử lý mỗi loại xơ sợi có những đặc trưng khác biệt. Nước thải của các nhà máy cùng xử lý ướt một loại vật liệu dệt (same fibre) có bản chất giống nhau, nhưng có thể khác nhau đôi chút do áp dụng công nghệ sản xuất khác nhau. Bản chất của nước thải xử lý len lông cừu là BOD, COD, SS rất cao hàm lượng dầu mỡ cũng khá cao. Nước xử lý ướt vải, sợi bông 100% không ô nhiễm nặng như len, song cũng có BOD và COD cao (tuy thấp hơn nhiều so với giặt len) , hàm lượng các chất rắn lơ lững SS tương đối thấp so với giặt len, còn dầu mỡ rất thấp. Nếu chỉ xử lý ướt vải, sợi bông 100% thì COD không cao, nhưng COD sẽ tăng lên theo tỉ lệ thuận với tỷ lệ sơ sợi tổng hợp trong thành phần vải, sợi pha khi gia công Còn ở đâu xử lý giảm trọng vải sợi polieste khi sờ tay mềm mại giống lụa tơ tằm càng nhiều thì nước thải ô nhiễm còn nặng nề. Trước hết là có tính kiềm cao, pH từ 11 – 14. Và nghiêm trọng nhất là nồng độ BOD có thể lên tới 15000mg/l đến 30000mg/l chủ yếu do đinatri terephtalat sản sinh do polieste bị phân hủy. Ngoài ra trong các chu trình từ trồng trọt đến các quá trình gia công xử lý vật liệu dệt có sử dụng một số hóa chất “ không công nghệ” và một số chất khác như thuốc trừ sâu, dầu, mỡ, các chất xử lý nước công nghệ và nồi hơi… Khi các chất trên đi vào dòng thải sẽ làm tăng cao tải lượng ô nhiễm dòng thải chung. Thêm nữa, ngay cả các hóa chất công nghệ cũng có thể đưa thẳng vào các dòng thải do rò rỉ, loại bỏ, đổ đi, hoặc vệ sinh thùng, bể chứa máng thuốc thừa. 2.3.2 Đặc tính của nước thải ngành công n

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docTHUYET MINH HOAN CHINH-new.doc
  • docbia.DOC
  • docDANH MỤC CÁC BẢNG.doc
  • docloi cam on.doc
  • docmuc luc.doc
  • docnhan xet chinh xac.doc
  • docnhiem vu do an.doc
  • docPhụ lục.doc
  • docxPhụ lục.docx
  • doctai lieu tham khao.doc