Hạch toán tiền lương và trích các khoản theo tiền lương tại khách sạn Dân chủ

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU.1 Phần I: Lý luận chung về hạch toán tiền lương và trích các khoản theo tiền lương trong doanh nghiệp .2 I. Những vấn đề chung về tiền lương.2 1. Nguồn gốc, bản chất của tiền lương.2 2. Quỹ tiền lương và thành phần của quỹ tiền lương trong Doanh nghiệp.6 3. Chế độ tiền lương và các hình thức trả lương trong Doanh nghiệp.7 3.1. Chế độ tiền lương .7 3.2 Các hình thức trả lương.9 3.2.1. Hình thức trả lương sản phẩm.9 3.2.2. Hình thức tiền lương theo thời gian.14 4. Một số vấn đề bổ sung cho việc trả lương và bản chất của tiền thưởng16 4.1. Một số vấn đề bổ sung cho việc trả lương16 4.1.1. Trả lương theo hiệu quả sản xuất kinh doanh16 4.1.2. Trả lương khi làm thêm giờ và làm việc vào ban đêm18 4.2. Bản chất và vai trò của tiền thưởng19 II. Hạch toán tiền lương trong doanh nghiệp19 1. Nhiệm vụ hạch toán tiền lương19 1.1.Phải phân loại lao động hợp lý : 20 1.2. Phân loại tiền lương một cách phù hợp: 21 2. Thủ tục, chứng từ, tài khoản sử dụng hạch toán tiền lương22 3. Trình tự và phương pháp hạch toán tiền lương24 III. Hạch toán các khoản trích theo lương24 1. Nhiệm vụ hạch toán BHXH, BHYT, KPCĐ, Quỹ DPVTCMVL24 2. Khái niệm, sự hình thành và sử dụng quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ, quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm25 3. Thủ tục, chứng từ, tài khoản sử dụng hạch toán các khoản trích theo lương 26 4. Trình tự và phương pháp hạch toán BHXH, BHYT, KPCĐ và Quỹ DP VTCMVL27 IV. Các hình thức sổ kế toán áp dụng trong hạch toán tiền lương và trích các khoản theo lương.29 1.Hình thức Nhật ký – sổ cái29 2. Hình thức Nhật ký chung 30 3. Hình thức Chứng từ ghi sổ31 4. Hình thức nhật ký – chứng từ 32 Phần II: thực trạng hạch toán tiền lương và trích các khoản Trích theo lương tại khách sạn dân chủ34 I. Đặc điểm tình hình chung tại khách sạn dân chủ34 1. Tình hình sản xuất kinh doanh tại khách sạn dân chủ34 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của khách sạn34 1.2. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh tổ chức bộ máy quản lý của KS36 1.2.1. Chức năng và nhiệm vụ của khách sạn Dân Chủ.36 1.2. 2. Cơ cấu tổ chức và bộ máy hoạt động kinh doanh.36 1.2.3 . Sản phẩm và định hướng kinh doanh.38 2. Tổ chức bộ máy kế toán, công tác kế toán và sổ kế toán tại doanh khách sạn39 2.1. Hình thức tổ chức công tác kế toán.39 2.2. Tổ chức hạch toán kế toán41 2.2.1. Tổ chức hệ thống chứng từ kế toán41 2.2.2. Tổ chức hệ thống sổ42 II. Tình hình thực tế về công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại khách sạn44 1. Hạch toán tiền lương tại khách sạn Dân chủ44 1.1. Các hình thức trả lương tại khách sạn44 1.2.Thủ tục, chứng từ, tài khoản sử dụng tại khách sạn58 1.3. Trình tự và phương pháp hạch toán tiền lương60 2. Hạch toán BHXH, BHYT, KPCĐ tại khách sạn 66 2.1. Thủ tục chứng từ, tài khoản hạch toán. 66 2.2. Trình tự, phương pháp hạch toán các khoản trích theo lương tại KS.69 Phần III: Phương hướng hoàn thiện hạch toán tiền lương và trích các khoản theo lương tại khách sạn dân chủ.74 I. Nhận xét đánh giá ưu, nhược điểm về tình hình trả lương, hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Khách sạn 74 II/ Biện pháp hoàn thiện hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương76 1. Hoàn thiện cách tính trả lương76 2 - Về công tác hạch toán lương, các khoản trích theo lương.76 KẾT LUẬN78

docx87 trang | Chia sẻ: dansaran | Ngày: 26/12/2012 | Lượt xem: 2169 | Lượt tải: 17download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Hạch toán tiền lương và trích các khoản theo tiền lương tại khách sạn Dân chủ, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI MỞ ĐẦU Trong môi trường cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trường, để đạt được hiệu quả sản xuất kinh doanh cao là một vấn đề phức tạp đòi hỏi các doanh nghiệp phải có các biện pháp quản lý phù hợp với sự biến đổi của thị trường cũng như tình hình thực tế của doanh nghiệp. Việc đưa ra một chế độ quản lý tiền lương phù hợp với điều kiện sản xuất của doanh nghiệp có một vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường. Bởi vì nếu doanh nghiệp làm tốt công tác này, Một mặt, doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được chi phí tiền lương và do đó hạ giá thành cho các dịch vụ của mình. Mặt khác, khi doanh nghiệp thực hiện tốt công tác tiền lương, đưa ra hình thức tiền lương hợp lý nhất và sát với tình hình thực tế của khách sạn, đúng với sự cống hiến của người lao động, công bằng và hợp lý giữa những người lao động trong doanh nghiệp, đảm bảo lợi ích của người lao động,… sẽ tạo ra động lực khuyến khích người lao động đem hết khả năng của mình, nỗ lực phấn đấu sáng tạo, quan tâm đến kết quả lao động của cá nhân, quan tâm đến hiệu quả sản xuất kinh doanh chung của toàn doanh nghiệp, từ đó thúc đẩy nâng cao năng suất và chất lượng phục vụ chung của khách sạn. Nhận thức rõ được tầm quan trọng của công tác hạch toán tiền lương của khách sạn, Trong thời gian thực tập tại Khách sạn Dân chủ, em đã chọn đề tài “Hạch toán tiền lương và trích các khoản theo tiền lương tại khách sạn Dân chủ” làm đề tài cho chuyên đề thực tập của mình. Chuyên đề này được chia ra làm 03 phần như sau: Phần I: Lý luận chung về hạch toán tiền lương và trích các khoản theo tiền lương trong Doanh nghiệp Phần II: Thực trạng hạch toán tiền lương và trích các khoản theo tiền lương tại khách sạn Dân chủ Phần III: Phương hướng hoàn thiện hạch toán tiền lương và trích các khoản theo lương tại Khách sạn Dân chủ Trong quá trình làm chuyên đề, em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình Thầy giáo Đặng Thế Hưng, cũng như đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của Ban Giám đốc và Phòng Kế toán khách sạn Dân chủ. Vì vậy, em xin được trân trọng cảm ơn Thầy giáo cùng Ban lãnh đạo và toàn thể CBCNV của Khách sạn Dân chủ đã giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này. PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HẠCH TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ TRÍCH CÁC KHOẢN THEO TIỀN LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TIỀN LƯƠNG 1. Nguồn gốc, bản chất của tiền lương Quá trình sản xuất là quá trình kết hợp đồng thời cũng là quá trình tiêu hao các yếu tố cơ bản (lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động). Trong đó, lao động với tư cách là hoạt động chân tay và trí óc của con người sử dụng các tư liệu lao động nhằm tác động, biến đổi các đối tượng lao động thành các vật phẩm có ích phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của mình. Để bảo đảm tiến hành liên tục quá trình tái sản xuất, trước hết cần phải bảo đảm tái sản xuất sức lao động, nghĩa là sức lao động mà con người bỏ ra phải được bồi hoàn dưới dạng thù lao lao động mà ta vẫn gọi là tiền lương. Đối với chủ nghĩa tư bản, tiền lương là số tiền mà người công nhân nhận được sau một thời gian làm việc và hoàn thành một khối lượng sản phẩm nào đó. đây là hiện tượng bên ngoài, họ tưởng rằng tiền lương là giá cả của lao động. Song sự thật thì tiền lương không phải là giá trị hay giá cả của lao động. Vì lao động không phải là hàng hoá và không phải là đối tượng mua bán vì : -Thứ nhất: Nếu lao động là hàng hoá thì nó phải có trước, phải được vật hoá trong một hình thức cụ thể nào đó. Tiền đề để cho lao động “vật hoá” được là phải có tư liệu sản xuất. Nhưng nếu người lao động có tư liệu sản xuất thì họ sẽ bán hàng hoá do mình sản xuất chứ không bán “lao động”. -Thứ hai: việc thừa nhận lao động là hàng hoá dẫn tới một trong hai mâu thuẫn về lý luận sau đây: nếu lao động là hàng hoá được trao đổi ngang giá thì nhà tư bản không thu được lợi nhuận (giá trị thặng dư) điều này phủ nhận quy luật giá trị thặng dư. Còn nếu hàng hoá trao đổi không ngang giá để có giá trị thặng dư cho nhà tư bản, thì sẽ phủ nhận quy luật giá trị. -Thứ ba : Nếu lao động là hàng hoá thì hàng hoá đó cũng phải có giá trị. Nhưng thước đo nội tại của giá trị là lao động . Như vậy giá trị của lao động lại được đo bằng lao động. Đó là một điều luẩn quẩn vô lý. Do vậy lao động không phải là hàng hoá, cái mà người công nhân bán cho nhà tư bản chính là sức lao động. Do đó, tiền lương mà nhà tư bản trả cho công nhân là giá cả của sức lao động. Vậy, bản chất của tiền lương dưới chủ nghĩa tư bản là giá cả của sức lao động, biểu hiện ra bên ngoài như giá cả của lao động. Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung xã hội chủ nghĩa đã tồn tại khá lâu quan điểm cho rằng “Tiền lương là một phần thu nhập quốc dân, biểu hiện dưới hình thức tiền tệ, được nhà nước phân phối có kế hoạch cho công nhân viên chức phù hợp với số lượng và chất lượng lao động của mỗi người đã cống hiến. Tiền lương phản ánh việc trả công cho công nhân viên chức dựa trên nguyên tắc phân phối theo lao động nhằm tái sản xuất sức lao động”. Quan niệm trên về tiền lương hoàn toàn thống nhất với quan hệ sản xuất và cơ chế phân phối của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung xã hội chủ nghĩa. Song nó đã bộc lộ một số hạn chế sau : -Thứ nhất: Tiền lương không trả đúng giá trị sức lao động, không phù hợp với quan hệ cung cầu trên thị trường theo số lượng và chất lượng lao động của công nhân viên chức theo lượng hao phí được nhà nước quy định theo kế hoạch định trước chỉ là phương pháp phân phối bình quân “cào bằng” chứ không công bằng. -Thứ hai: Tiền lương là một bộ phận của thu nhập quốc dân. Do đó cơ chế phân phối tiền lương bị phụ thuộc vào cơ chế phân phối thu nhập quốc dân. Nếu thu nhập quốc dân cao thì sẽ phân phối tiền lương nhiều và ngược lại. -Thứ ba: Do sự phân phối bình quân nên tiền lương không còn là mối quan tâm của công nhân viên chức, nên không phát huy được tính chất đòn bẩy của tiền lương, tiền công làm ảnh hưởng tiêu cực trở lại nền kinh tế quốc dân. Chuyển sang nền kinh tế thị trường, do có sự thay đổi lớn trong nhận thức nên quan niệm về tiền lương cũng được đổi mới về cơ bản và tiền lương có những ưu điểm rõ rệt sau: Thứ nhất : Sức lao động nay đã trở thành hàng hoá. Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, nó đã được tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng sức lao động. Thứ hai: Tiền lương là bộ phận cơ bản và chủ yếu trong thu nhập của người lao động, là một yếu tố đầu vào của sản xuất. Do đó nó có tác dụng kích thích làm tăng động lực làm việc của người lao động với năng suất cao đồng thời tiết kiệm chi phí. Quan niệm về tiền lương nêu trên đã khắc phục được quan niệm cho rằng: Tiền lương là giá cả của lao động và tiền lương là một phần thu nhập quốc dân, được nhà nước phân phối một cách có kế hoạch cho người lao động. Đồng thời, quan niệm mới về tiền lương đã nghiên cứu về việc thừa nhận sức lao động là hàng hoá đặc biệt và đòi hỏi phải trả lương cho người lao động theo sự đóng góp và hiệu quả cụ thể của họ. Cũng như những quan điểm trên đây ta thấy rằng : Tiền lương trước hết là số tiền mà người sử dụng lao động (người mua sức lao động) trả cho người lao động (người bán sức lao động). Đó là mối quan hệ kinh tế của tiền lương. Mặt khác, tiền lương không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là một vấn đề xã hội quan trọng, liên quan tới đời sống và trật tự xã hội. Đó là quan hệ xã hội của tiền lương. Theo quan điểm cải tiến tiền lương tại nghị định 25, 26/CP 1993: Tiền lương được xem là giá cả sức lao động và được hình thành qua thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động trong nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, khi định nghĩa về tiền lương còn phân biệt các khái nệm : Tiền lương danh nghĩa : Khái niệm chỉ số lượng tiền tệ mà người sử dụng sức lao động trả cho người cung ứng sức lao động căn cứ vào hợp đồng thoả thuận đã được ký kết. Thực tế, mọi mức lương trả cho người lao động đều là mức lương danh nghĩa. Song bản thân tiền lương danh nghĩa chưa thể cho ta nhận thức đầy đủ về mức lương trả công thực tế cho người lao động. Lợi ích mà người lao động cung ứng sức lao động nhận được ngoài việc phụ thuộc vào mức lương danh nghĩa còn phụ thuộc vào giá cả hàng hoá, dịch vụ và số lượng thuế mà người lao động sử dụng tiền lương đó để mua sắm hoặc đóng thuế. Tiền lương thực tế: Số lượng hàng hoá, dịch vụ mà người lao động mua được từ lương của họ, sau khi đã đóng các khoản thuế theo quy định của chính phủ. Chỉ số tiền lương thực tế tỷ lệ nghịch với chỉ số giá cả và tỷ lệ thuận với chỉ số tiền lương danh nghĩa tại thời điểm xác định. Công thức : Itt  =  Idn Ig   Trong đó : Itt : chỉ số tiền lương thực tế Idn: chỉ số tiền lương danh nghĩa Ig: chỉ số giá cả Đối với người lao động lợi ích là mục tiêu cuối cùng của việc cung ứng sức lao động là tiền lương thực tế chứ không phải là tiền lương danh nghĩa. Vì tiền lương thực tế quyết định khả năng tái sản xuất sức lao động, quyết định các lợi ích trực tiếp của họ. Song trong thực tế xảy ra những sự thiếu ăn khớp hoặc thậm chí sự ngăn cách khá lớn giữa tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế theo chiều hướng không có lợi cho người cung ứng sức lao động. Sự giảm sút của tiền lương thực tế, khi nền kinh tế thị trường đang có lạm phát cao, giá cả hàng hoá tăng, đồng thời mất giá, trong khi những thoả thuận về mức lương danh nghĩa lại trì trệ không điều chỉnh kịp (mà sự trì trệ này của tiền lương là phổ biến của mọi nền kinh tế), đó là một điển hình về sự thiếu ăn khớp giữa tiền lương thực tế và tiền lương danh nghĩa. Tiền lương tối thiểu (Mức lương tối thiểu): Tiền lương tối thiểu được xem là “cái ngưỡng” cuối cùng để từ đó xây dựng các mức lương khác, tạo thành hệ thống lương của một ngành nào đó hoặc hệ thống chung thống nhất của một nước, là căn cứ để định hướng chính sách tiền lương, nó liên hệ chặt chẽ với các yếu tố sau: - Mức sống trung bình của dân cư một nước. - Chỉ số giá cả sinh hoạt - Loại lao động và điều kiện lao động Mức lương tối thiểu được ấn định theo giá cả sinh hoạt, bảo đảm cho người lao động làm công việc đơn giản nhất trong điều kiện lao động bình thường, bù đắp sức lao động giản đơn và một phần tích luỹ tái sản xuất sức lao động. Để đạt được chỉ tiêu bình ổn đời sống cho người lao động trong từng thời kỳ, chính phủ đã điều chỉnh mức lương tối thiểu trong nền kinh tế đảm bảo phù hợp với mức định giá chung của nền kinh tế, phù hợp với sự phát triển của kinh tế xã hội, thống nhất với bộ luật lao động của nước CHXHCN Việt Nam: “Khi chỉ số giá cả sinh hoạt tăng lên làm cho tiền lương thực tế của người lao động bị giảm sút thì Chính phủ điều chỉnh mức lương tối thiểu bảo đảm tiền lương thực tế”. Theo nghị định điều chỉnh lương gần đây nhất, mức lương tối thiểu được áp dụng là 350.000 đ. Như vậy, Chính phủ đóng một vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh mức lương tối thiểu của nền kinh tế, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế của mỗi thời kỳ . Về cơ bản đã tăng được tiền lương thực tế của người lao động, góp phần làm ổn định đời sống cho người lao động. Ngoài việc quy định mức lương tối thiểu, Nhà nước còn quy định các thang bảng lương với các bậc lương và hệ số lương. Vậy bản chất của tiền lương chính là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động. Mặt khác, tiền lương còn là đòn bảy kinh tế để khuyến khích tinh thần hăng hái lao động, kích thích và tạo mối quan tâm của người lao đọng đến kết quả công việc của họ. Nói cách khác, tiền lương chính là một nhân tố thúc đẩy năng suất lao động, nó vừa mang quan hệ kinh tế vừa mang quan hệ xã hội. 2. Quỹ tiền lương và thành phần của quỹ tiền lương trong Doanh nghiệp. Quỹ tiền lương của doanh nghiệp là toàn bộ tiền lương mà doanh nghiệp trả cho tất cả các loại lao động thuộc doanh nghiệp quản lý và sử dụng. Thành phần quỹ tiền lương bao gồm nhiều khoản như lương thời gian (tháng, ngày, giờ), lương sản phẩm, phụ cấp (cấp bậc, khu vực, chức vụ, đắt đỏ ….), tiền thưởng trong sản xuất. Quỹ tiền lương (hay tiền công) bao gồm nhiều loại và có thể phân theo nhiều tiêu thức khác nhau tuỳ theo mục đích nghiên cứu như phân theo chức năng của lao động, phân theo hiệu quả của tiền lương….. 3. Chế độ tiền lương và các hình thức trả lương trong Doanh nghiệp 3.1. Chế độ tiền lương a. Chế độ tiền lương cấp bậc Chế độ tiền lương cấp bậc là toàn bộ những quy định của Nhà nước và các xí nghiệp, doanh nghiệp áp dụng, vận dụng để trả lương cho người lao động, căn cứ vào chất lượng và điều kiện lao động khi họ hoàn thành một số công việc nhất định. Chế độ tiền lương cấp bậc áp dụng cho những công nhân, những người lao động trực tiếp, và trả lương theo kết quả lao động của họ, thể hiện quan hệ số lượng và chất lượng lao động. Việc xây dựng và áp dụng chế độ tiền lương cấp bậc là rất cần thiết nhằm quán triệt các nguyên tắc trả lương cho người lao động. Để trả lương một cách đúng đắn và công bằng thì phải căn cứ vào cả hai mặt: số lượng và chất lượng của lao động. Hai mặt này gắn liền với nhau trong bất kỳ một quá trình lao động nào. Số lượng lao động thể hiện qua mức hao phí thời gian lao động để sản xuất ra sản phẩm trong một khoảng thời gian theo lịch nào đó. Đơn vị số lượng lao động chính là số thời gian lao động. Chất lượng lao động là trình độ lành nghề của người lao động được sử dụng vào quá trình lao động. Chất lượng lao động thể hiện ở trình độ giáo dục và đào tạo, kinh nghiệm, kỹ năng. Chất lượng lao động càng cao thì năng suất lao động và hiệu quả làm việc cũng càng cao. Nội dung chính của chế độ tiền lương cấp bậc là thang lương tức là bảng xác định quan hệ tỷ lệ về tiền lương giữa những công nhân trong cùng một nghề hoặc một nhóm nghề giống nhau, theo trình độ lành nghề của họ. Một thang lương bao gồm một số bậc lương và hệ số phù hợp với các bậc lương đó. Mỗi bậc lương có một mức tiền lương khác nhau. Bậc lương: Bậc phân biệt về trình độ lành nghề của công nhân và được xếp từ thấp đến cao, hệ số cao nhất có thể là bậc 5, bậc 6, bậc 7. Hệ số lương: chỉ rõ lao động của công nhân ở một bậc nào đó (Lao động có trình độ lành nghề cao) được lương cao hơn công nhân bậc 1 (bậc có trình độ lành nghề thấp) trong nghề bao nhiêu lần. Bội số lương : hệ số của bậc cao nhất trong một thang lương. Đó là sự gấp bội giữa hệ số lương của bậc cao nhất so với hệ số lương của bậc thấp nhất hoặc so với mức lương tối thiểu. Sự tăng lên của hệ số lương được xem xét ở hệ số tăng tuyệt đối về hệ số lương tương đối. Hệ số tăng tuyệt đối của hệ số lương là hiệu của hai hệ số lương liên tiếp kề nhau. Hệ số tăng tương đối của hệ số lương là tỷ số giữa hệ số tăng tuyệt đối với hệ số lương của bậc đứng trước. Trong khi xây dựng thang lương, các hệ số tăng tương đối của hệ số lương có thể là luỹ tiến (tăng dần), đều đặn (không tăng) hoặc luỹ thoái (giảm dần ); trong thực tế, các loại thang lương có hệ số tăng tương đối như trên mang tính nguyên tắc, phản ánh xu hướng chứ ít khi đảm bảo tính tuyệt đối . Bảng lương : Bảng trả lương cho người lao động trên cơ sở bậc lương, hệ số lương, hệ số lương cấp bậc của từng người lao động theo kết quả lao động về thời gian lao động và số lượng sản phẩm tạo ra. Việc áp dụng chế độ tiền lương cấp bậc có một ưu thế rất lớn: + Tạo khả năng điều chỉnh tiền lương giữa các ngành, các nghề một cách hợp lý, giảm bớt tính chất bình quân trong công việc trả lương. + Làm cho việc bố trí và sử dụng công nhân thích hợp với khả năng về sức khỏe và trình độ lành nghề của họ + Khuyến khích và thu hút người lao động vào làm việc trong những ngành có điều kiện lao động nặng nhọc, độc hại…. Chế độ tiền lương cấp bậc không phải là cố định, trái lại tuỳ theo điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội trong từng thời kỳ nhất định mà chế độ tiền lương này được cải tiến hay sửa đổi thích hợp để phát huy tốt vai trò, tác dụng của nó. b/ Chế độ tiền lương chức vụ Chế độ tiền lương chức vụ là toàn bộ những quy định của Nhà nước mà các tổ chức quản lý nhà nước, các tổ chức kinh tế, xã hội và các doanh nghiệp áp dụng để trả lương cho người lao động quản lý. Khác với công nhân, những người lao động trực tiếp, lao động quản lý tuy không trực tiếp tạo ra sản phẩm nhưng lại đóng vai trò rất quan trọng trong việc lập kế hoạch, tổ chức, điều hành, kiểm soát và điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh. Sản xuất càng phát triển, quy mô và phạm vi hoạt động kinh doanh càng mở rộng thì vai trò quan trọng của lao động quản lý ngày càng tăng và càng phức tạp. Hiệu quả của lao động quản lý có ảnh hưởng rất lớn, trong nhiều trường hợp mang tính quyết định đến hiệu quả hoạt động của các tổ chức xã hội, chính trị… Tiền lương trong chế độ tiền lương chức vụ trả theo thời gian, thường trả theo tháng và dựa vào các bảng lương chức vụ. Việc phân biệt tình trạng trong bảng lương chức vụ chủ yếu dựa vào các tiêu chuẩn như: chính trị, trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trách nhiệm. Việc xây dựng chế độ tiền lương chức vụ dựa trên chức danh của người lao động quản lý, sự phức tạp của lao động trong từng chức danh…. Trong thực tế, vì lao động quản lý trong doanh nghiệp nói riêng cũng như lao động quản lý trong các tổ chức chính trị xã hội nói chung rất khó xác định, lượng hoá hiệu quả hay mức độ đóng góp của các hoạt động này. Do vậy việc xác định tiền lương cũng rất phức tạp. Để có thể đưa ra một bảng lương hợp lý cho chế độ trả lương theo chức vụ, cần phải có sự tham gia của nhiều chuyên gia và cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. 3.2 Các hình thức trả lương Tuỳ thuộc vào đặc điểm sản xuất kinh doanh của mình, các doanh nghiệp sẽ tự lựa chọn hình thức trả lương cho người lao động một cách phù hợp. Hiện nay có các hình thức trả lương dưới đây: 3.2.1. Hình thức trả lương sản phẩm Hình thức trả lương sản phẩm là hình thức trả lương cho người lao động dựa trực tiếp vào số lượng và chất lượng sản phẩm (dịch vụ) mà họ hoàn thành. Hình thức này được áp dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp sản xuất chế tạo sản phẩm. Đặc biệt được áp dụng ở các bộ phận sản xuất trực tiếp mà khối lượng công việc hoàn thành được xác định một cách định lượng (cái, chiếc..) và có thể tiến hành kiểm tra, nghiệm thu sản phẩm một cách dễ dàng. Ưu điểm của hình thức này là: + Gắn chặt thu nhập của người lao động với kết quả sản xuất ra. Từ đó khuyến khích người công nhân sản xuất ra nhiều sản phẩm tốt cho doanh nghiệp. + Nâng cao ý thức tự giác và thái độ không cần phải kiểm soát nhiều Nhưng để áp dụng hình thức này, đòi hỏi phải xây dựng các mức có căn cứ khoa học, đảm bảo tổ chức và phục vụ tốt nơi làm việc, làm tốt công tác nghiệm thu sản phẩm. Vì vậy, chi phí tăng lên. Các chế độ trả lương theo sản phẩm: a. Chế độ trả lương sản phẩm trực tiếp cá nhân Là chế độ trả lương trực tiếp cho từng người theo kết quả lao động. Tiền lương của từng công nhân tính được là căn cứ vào đơn giá và số lượng sản phẩm đảm bảo chất lượng mà người công nhân đó chế tạo ra. Tính lương: LCN= ĐG x Q Trong đó: LCN: Tiền lương sản phẩm của cá nhân ĐG: Đơn giá tiền lương cho một sản phẩm. Đơn giá tiền lương là mức tiền lương dùng để trả cho người lao động khi họ hoàn thành một đơn vị sản phẩm hay công việc. Đơn giá tiền lương được tính như sau: ĐG =  hoặc ĐG = LCB x T0 LCB: Lương cấp bậc của công nhân trong kỳ Qo: Mức sản lượng của công nhân To: Mức thời gian hoàn thành một đơn vị sản phẩm. Q: Số lượng sản phẩm thực tế hoàn thành Chế độ trả lương này được áp dụng rộng rãi với người trực tiếp sản xuất trong điều kiện quá trình lao động của họ mang tính độc lập tương đối, có thể định mức kiểm tra nghiệm thu sản phẩm một cách riêng biệt. b/ Chế độ tiền lương theo sản phẩm gián tiếp Thực chất, là phải căn cứ vào số lượng của công nhân chính để tính lương cho công nhân phụ, phục vụ: LCN = ĐG x Q1 Trong đó: LCN: Tiền lương của công nhân phụ Q1: Sản lượng hoàn thành thực tế của công nhân chính ĐG: Đơn giá của công nhân phụ ĐG =  LCB: Lương cấp bậc của công nhân phụ, phục vụ M: Mức phục vụ của công nhân phụ Qo: Mức sản lượng của công nhân chính Chế độ trả lương sản phẩm gián tiếp áp dụng khi công việc của công nhân
Luận văn liên quan