Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần Công trình Viễn thông

PHẦN I GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN PHÁT TRIỂN CÔNG TRÌNH VIỄN THÔNG I. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG TY CỔ PHẦN PHÁT TRIỂN CÔNG TRÌNH VIỄN THÔNG 1. Lịch sử hình thành và phát triển Tên giao dịch : Công ty Cổ phần Phát triển Công trình Viễn thông. Trụ sở : Lô 18 - Khu đô thị mới Định Công - Phường Định Công - Quận Hoàng Mai - Thành phố Hà Nội. Điện thoại : 04.6405422 Fax : 04.6405430 Vốn điều lệ: 50.000.000.000 đồng (Năm mươi tỷ đồng VN) Công ty Cổ phần Phát triển Công trình Viễn thông ban đầu có tên là Ban công trình thuộc Nha Bưu điện Vô tuyến điện Việt Nam được thành lập ngày 20 tháng 7 năm 1954 tại Phố Cò - Thành phố Thái Nguyên. Ra đời từ trong khói lửa của cuộc kháng chiến chống Pháp với nhiệm vụ là tổ chức thi công các đường dây thông tin và lắp đặt máy điện thoại, phục vụ thông tin liên lạc khu căn cứ Trung ương và vùng căn cứ cách mạng được mở rộng (từ Thái Nguyên lên Việt Bắc). Năm 1955, thực hiện Nghị định số 124/NĐ/BĐ - Ban Công trình được đổi tên thành Tổng đội Công trình. Đây là đơn vị chủ lực, làm nhiệm vụ xây dựng các công trình thông tin của ngành Bưu điện. Đến tháng 04 năm 1957, chế độ hạch toán kinh tế ra đời, tổ chức của bộ máy Tổng đội công trình có sự thay đổi. Cùng với việc sắp xếp lại cơ cấu tổ chức của Tổng Cục Bưu điện, Tổng đội Công trình đổi tên thành Đội Công trình. Đây cũng là thời kỳ Đội Công trình bắt tay vào xây dựng mạng cáp nội thị phục vụ thành phố và thị xã, nhằm đảm bảo thông tin giữa Trung ương và địa phương. Đến tháng 5 năm 1962, Tổng cục Bưu điện có quyết định đổi tên Đội công trình thành Công ty Công trình Bưu điện trực thuộc Cục xây dựng cơ bản. Trụ sở: 60 Ngõ Thổ Quan - Khâm Thiên - Đống Đa - Hà Nội. Trải qua những năm tháng chiến tranh tàn phá khốc liệt, nhưng ngành Bưu điện nói chung và Công ty Công trình Bưu điện nói riêng đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao. Vào giữa thập niên 80, trước diễn biến phức tạp tình hình kinh tế xã hội, nền kinh tế chuyển đổi từ cơ chế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường. Lúc này các hoạt động của công ty đứng trước nhiều khó khăn mới: Tự hạch toán chi phí, đội ngũ tay nghề thấp, thiết bị nghèo nàn lạc hậu. Công ty đứng trước khả năng giải thể. Để tiếp tục tồn tại và phát triển, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước và kế hoạch phát triển tăng tốc của ngành Bưu điện, Công ty công trình Bưu điện đã có sự thay đổi về cơ cấu tổ chức. Công ty được thành lập lại theo quyết định số 196/QĐ-TCCB ngày 18/03/1993 của Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện. Công ty hoạt động theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 108221 ngày 22/5/1993, thay đổi kinh doanh lần 1 ngày 08/07/1996, lần 2 ngày 19/08/1996 do Trọng tài kinh tế Thành phố Hà Nội cấp và Uỷ ban kế hoạch bổ sung giấy phép kinh doanh. Kể từ thời điểm đó công ty đã từng bước thích ứng với điều kiện mới, liên tục phát triển và khẳng định vị thế đơn vị xây dựng cơ bản hàng đầu trong ngành bưu điện. Từ năm 2003 trụ sở chính công ty được chuyển tới: Lô 18 Khu đô thị mới Định Công - Quận Hoàng Mai - Thành phố Hà Nội. Đến nay, Công ty đã chuyển đổi hình thức sang Công ty cổ phần theo Quyết định số 59/2004/QĐ-BBCVT ngày 30/11/2004 của Bộ Bưu chính Viễn thông và giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số: 0103010655 đăng ký lần đầu ngày 11/01/2006 và đăng ký thay đổi lần thứ nhất ngày 13/03/2006 do Sở Kế hoạch - Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp. Bắt đầu từ ngày 11/01/2006 Công ty đổi tên là Công ty Cổ phần Phát triển Công trình Viễn thông. Ngành nghề kinh doanh của công ty : - Xây dựng các công trình bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và các công trình công nghiệp, giao thông, dân dụng theo quy định của pháp luật; - Tư vấn thiết kế, lập dự án đầu tư các công trình bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin; - Sản xuất vật liệu xây dựng và những vật liệu khác phục vụ cho hoạt động của doanh nghiệp và nhu cầu xây dựng dân dụng; - Đầu tư trong các lĩnh vực: Bưu chính, viễn thông và các lĩnh vực đầu tư khác theo quy định của pháp luật; - Kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu vật tư, thiết bị bưu chính, viễn thông và công nghệ thông tin; - Xây dựng, lắp đặt các công trình điện, điện tử, thông gió điều hòa và cấp thoát nước; Các công trình thông tin tín hiệu đường sắt, đường bộ, hàng không, đường biển; - Trang trí nội, ngoại thất công trình; - Xây dựng nền móng công trình và kết cấu hạ tầng: cầu đường, bển cảng, đê điều, đường dây và trạm biến thế điện; - Sản xuất lắp dựng, sửa chữa, bảo trì các công trình cột cao, các trang thiết bị bưu chính viễn thông, tin học và các trang thiết bị khác thuộc đài, trạm, bưu cục; - Xây dựng lắp đặt hệ thống thông tin nội bộ, hệ thống báo cháy, camera, trang âm, chống sét, truyền thanh, truyền hình; - Kinh doanh vật liệu, thiết bị, máy móc xây dựng, trang thiết bị nội thất, cáp viễn thông, cáp điện lực và các mặt hàng khác; - Kinh doanh xuất nhập khẩu vật tư, vật liệu, máy móc, thiết bị và phụ kiện điện, điện tử, tin học; - Kinh doanh khai thác dịch vụ bưu chính viễn thông, dịch vụ du lịch, khách sạn, nhà hàng, và các ngành nghề kỹ thuật dịch vụ khác (Không bao gồm kinh doanh quán bar, phòng hát Karaoke, vũ trường). Trong những năm gần đây, cùng với sự mở cửa mạnh mẽ của nền kinh tế, Công ty Cổ phần Phát trển Công trình Viễn thông cũng gặp sự cạnh tranh rất lớn trên thị trường đặc biệt với sự xuất hiện một loạt các công ty xây dựng tư nhân với quy mô nhỏ và bộ máy gọn nhẹ. Nhưng với bề dày truyền thống và tiềm lực sẵn có về vốn, về con người cộng với sự cải tiến từng bước cơ chế hoạt động và bộ máy quản lý nên những năm vừa qua công ty vẫn đạt được sự tăng trưởng mạnh trong các chỉ tiêu kinh tế (Biểu 1). Thị trường của Công ty vẫn được giữ vững và phát triển thêm trên cả nước. Hiện nay công ty đang thi công trên địa bàn trên dưới 50 tỉnh, thành trong cả nước. Về lực lượng lao động, trong những năm vừa qua Công ty đang ở trong quá trình tinh giản bộ máy nên về số lượng lao động tăng không nhiều mà chủ yếu tăng cường lực lượng lao động có trình độ cao.

docx74 trang | Chia sẻ: dansaran | Ngày: 26/12/2012 | Lượt xem: 1853 | Lượt tải: 6download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần Công trình Viễn thông, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT TSCĐ  Tài sản cố định   BHXH  Bảo hiểm xã hội   XN  Xí nghiệp   GTGT  Giá trị gia tăng   CT, HMCT  Công trình, hạng mục công trình   CPSX  Chi phí sản xuất   CCDC  Công cụ dụng cụ   DV  Dịch vụ   SXKD DD  Sản xuất kinh doanh dở dang   VC  Vận chuyển   KC  Kết chuyển   NVL  Nguyên vật liệu   CPSXC  Chi phí sản xuất chung   MTC  Máy thi công   QĐ  Quyết định   BTC  Bộ Tài chính   TNDN  Thu nhập doanh nghiệp   NĐ  Nghị định   CP  Chính phủ   CT – GS  Chứng từ ghi sổ   ĐKCTGS  Đăng ký chứng từ ghi sổ   SXKD  Sản xuất kinh doanh   XDCB  Xây dựng cơ bản   LỜI MỞ ĐẦU Thông tin bưu điện đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống con người và xã hội. Xã hội càng phát triển, nhu cầu thông tin bưu điện càng cao. Đối với Việt Nam, quá trình phát triển thông tin bưu điện gắn liền với quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Để có được những đường dây thông tin xuyên quốc gia, những cột anten vi ba số... kỹ thuật cao không thể không kể đến các công ty xây lắp trực thuộc Tập đoàn Bưu chính viễn thông nói chung và công ty Cổ phần phát triển Công trình Viễn thông nói riêng. Để có được những công trình chất lượng cao, giá thành hạ, các công ty xây lắp đều phải lập dự toán chi phí và vấn đề đặt ra là làm thế nào để xác định được mức chi phí mà doanh nghiệp cần trang trải, xác định được kết quả kinh doanh từ đó xác định lãi lỗ. Những việc đó chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm một cách đầy đủ và chính xác, vì chi phí gắn liền với việc sử dụng tài sản, vật tư, lao động trong sản xuất. Quản lý chi phí thực chất là việc quản lý việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm có hiệu quả các loại tài sản vật tư lao động, tiền vốn trong quá trình hoạt động sản xuất. Mặt khác chi phí là yếu tố căn bản cấu tạo nên giá thành sản phẩm, tiết kiệm chi phí sản xuất là cơ sở hạ giá thành sản phẩm. Do đó, không thể hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm một cách chủ quan, tuỳ tiện mà phải tính đúng, tính đủ giá thành sản phẩm. Tuy nhiên trong thực tế, hạch toán chi phí và tính giá thành sản phẩm còn tạo điều kiện thúc đẩy và tăng cường quản trị doanh nghiệp. Thấy được vai trò quan trọng của công tác kế toán và tập hợp chi phí giá thành, cùng với thời gian nghiên cứu lý luận ở trường và thực tế thực tập tại Công ty Cổ phần phát triển Công trình Viễn thông. Em chọn đề tài nghiên cứu cho chuyên đề thực tập của mình: “Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần Công trình Viễn thông” Đây là một đề tài khá phức tạp, được hoàn thành trong thời gian ngắn cho nên không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp chỉ bảo của các thầy cô và các bạn để bản chuyên đề hoàn thiện hơn. Em xin trân thành cảm ơn. PHẦN I GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN PHÁT TRIỂN CÔNG TRÌNH VIỄN THÔNG I. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG TY CỔ PHẦN PHÁT TRIỂN CÔNG TRÌNH VIỄN THÔNG 1. Lịch sử hình thành và phát triển Tên giao dịch : Công ty Cổ phần Phát triển Công trình Viễn thông. Trụ sở : Lô 18 - Khu đô thị mới Định Công - Phường Định Công - Quận Hoàng Mai - Thành phố Hà Nội. Điện thoại : 04.6405422 Fax : 04.6405430 Vốn điều lệ: 50.000.000.000 đồng (Năm mươi tỷ đồng VN) Công ty Cổ phần Phát triển Công trình Viễn thông ban đầu có tên là Ban công trình thuộc Nha Bưu điện Vô tuyến điện Việt Nam được thành lập ngày 20 tháng 7 năm 1954 tại Phố Cò - Thành phố Thái Nguyên. Ra đời từ trong khói lửa của cuộc kháng chiến chống Pháp với nhiệm vụ là tổ chức thi công các đường dây thông tin và lắp đặt máy điện thoại, phục vụ thông tin liên lạc khu căn cứ Trung ương và vùng căn cứ cách mạng được mở rộng (từ Thái Nguyên lên Việt Bắc). Năm 1955, thực hiện Nghị định số 124/NĐ/BĐ - Ban Công trình được đổi tên thành Tổng đội Công trình. Đây là đơn vị chủ lực, làm nhiệm vụ xây dựng các công trình thông tin của ngành Bưu điện. Đến tháng 04 năm 1957, chế độ hạch toán kinh tế ra đời, tổ chức của bộ máy Tổng đội công trình có sự thay đổi. Cùng với việc sắp xếp lại cơ cấu tổ chức của Tổng Cục Bưu điện, Tổng đội Công trình đổi tên thành Đội Công trình. Đây cũng là thời kỳ Đội Công trình bắt tay vào xây dựng mạng cáp nội thị phục vụ thành phố và thị xã, nhằm đảm bảo thông tin giữa Trung ương và địa phương. Đến tháng 5 năm 1962, Tổng cục Bưu điện có quyết định đổi tên Đội công trình thành Công ty Công trình Bưu điện trực thuộc Cục xây dựng cơ bản. Trụ sở: 60 Ngõ Thổ Quan - Khâm Thiên - Đống Đa - Hà Nội. Trải qua những năm tháng chiến tranh tàn phá khốc liệt, nhưng ngành Bưu điện nói chung và Công ty Công trình Bưu điện nói riêng đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao. Vào giữa thập niên 80, trước diễn biến phức tạp tình hình kinh tế xã hội, nền kinh tế chuyển đổi từ cơ chế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường. Lúc này các hoạt động của công ty đứng trước nhiều khó khăn mới: Tự hạch toán chi phí, đội ngũ tay nghề thấp, thiết bị nghèo nàn lạc hậu. Công ty đứng trước khả năng giải thể. Để tiếp tục tồn tại và phát triển, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước và kế hoạch phát triển tăng tốc của ngành Bưu điện, Công ty công trình Bưu điện đã có sự thay đổi về cơ cấu tổ chức. Công ty được thành lập lại theo quyết định số 196/QĐ-TCCB ngày 18/03/1993 của Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện. Công ty hoạt động theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 108221 ngày 22/5/1993, thay đổi kinh doanh lần 1 ngày 08/07/1996, lần 2 ngày 19/08/1996 do Trọng tài kinh tế Thành phố Hà Nội cấp và Uỷ ban kế hoạch bổ sung giấy phép kinh doanh. Kể từ thời điểm đó công ty đã từng bước thích ứng với điều kiện mới, liên tục phát triển và khẳng định vị thế đơn vị xây dựng cơ bản hàng đầu trong ngành bưu điện. Từ năm 2003 trụ sở chính công ty được chuyển tới: Lô 18 Khu đô thị mới Định Công - Quận Hoàng Mai - Thành phố Hà Nội. Đến nay, Công ty đã chuyển đổi hình thức sang Công ty cổ phần theo Quyết định số 59/2004/QĐ-BBCVT ngày 30/11/2004 của Bộ Bưu chính Viễn thông và giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số: 0103010655 đăng ký lần đầu ngày 11/01/2006 và đăng ký thay đổi lần thứ nhất ngày 13/03/2006 do Sở Kế hoạch - Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp. Bắt đầu từ ngày 11/01/2006 Công ty đổi tên là Công ty Cổ phần Phát triển Công trình Viễn thông. Ngành nghề kinh doanh của công ty : - Xây dựng các công trình bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và các công trình công nghiệp, giao thông, dân dụng theo quy định của pháp luật; - Tư vấn thiết kế, lập dự án đầu tư các công trình bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin; - Sản xuất vật liệu xây dựng và những vật liệu khác phục vụ cho hoạt động của doanh nghiệp và nhu cầu xây dựng dân dụng; - Đầu tư trong các lĩnh vực: Bưu chính, viễn thông và các lĩnh vực đầu tư khác theo quy định của pháp luật; - Kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu vật tư, thiết bị bưu chính, viễn thông và công nghệ thông tin; - Xây dựng, lắp đặt các công trình điện, điện tử, thông gió điều hòa và cấp thoát nước; Các công trình thông tin tín hiệu đường sắt, đường bộ, hàng không, đường biển; - Trang trí nội, ngoại thất công trình; - Xây dựng nền móng công trình và kết cấu hạ tầng: cầu đường, bển cảng, đê điều, đường dây và trạm biến thế điện; - Sản xuất lắp dựng, sửa chữa, bảo trì các công trình cột cao, các trang thiết bị bưu chính viễn thông, tin học và các trang thiết bị khác thuộc đài, trạm, bưu cục; - Xây dựng lắp đặt hệ thống thông tin nội bộ, hệ thống báo cháy, camera, trang âm, chống sét, truyền thanh, truyền hình; - Kinh doanh vật liệu, thiết bị, máy móc xây dựng, trang thiết bị nội thất, cáp viễn thông, cáp điện lực và các mặt hàng khác; - Kinh doanh xuất nhập khẩu vật tư, vật liệu, máy móc, thiết bị và phụ kiện điện, điện tử, tin học; - Kinh doanh khai thác dịch vụ bưu chính viễn thông, dịch vụ du lịch, khách sạn, nhà hàng, và các ngành nghề kỹ thuật dịch vụ khác (Không bao gồm kinh doanh quán bar, phòng hát Karaoke, vũ trường). Trong những năm gần đây, cùng với sự mở cửa mạnh mẽ của nền kinh tế, Công ty Cổ phần Phát trển Công trình Viễn thông cũng gặp sự cạnh tranh rất lớn trên thị trường đặc biệt với sự xuất hiện một loạt các công ty xây dựng tư nhân với quy mô nhỏ và bộ máy gọn nhẹ. Nhưng với bề dày truyền thống và tiềm lực sẵn có về vốn, về con người cộng với sự cải tiến từng bước cơ chế hoạt động và bộ máy quản lý nên những năm vừa qua công ty vẫn đạt được sự tăng trưởng mạnh trong các chỉ tiêu kinh tế (Biểu 1). Thị trường của Công ty vẫn được giữ vững và phát triển thêm trên cả nước. Hiện nay công ty đang thi công trên địa bàn trên dưới 50 tỉnh, thành trong cả nước. Về lực lượng lao động, trong những năm vừa qua Công ty đang ở trong quá trình tinh giản bộ máy nên về số lượng lao động tăng không nhiều mà chủ yếu tăng cường lực lượng lao động có trình độ cao. 2. Đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh Trong giai đoạn hiện nay, hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty chủ yếu tập trung trong vài lĩnh vực chính sau: - Thi công các công trình cáp thông tin (cáp quang, cáp đồng); - Sản xuất, lắp đặt cột anten và các thiết bị viễn thông; - Xây dựng nhà trạm, nhà dân dụng quy mô vừa và nhỏ; - Thi công các công trình thông tin nội bộ; - Tư vấn thiết kế các công trình thông tin và dân dụng; Đặc điểm tổ chức kinh doanh và quy trình công nghệ sản xuất Do các công trình có địa điểm thi công dàn trải trên dưới 50 tỉnh, thành trong cả nước nên lực lượng lao động của Công ty được tổ chức thành các xí nghiệp xây lắp, mỗi xí nghiệp lại tổ chức thành các tổ, đội phụ trách thi công một công trình hay hạng mục công trình tùy theo tính chất và quy mô công trình. Nhìn chung mỗi xí nghiệp nắm giữ địa bàn một vài tỉnh thành truyền thống, tuy nhiên cũng có khi nhiều xí nghiệp cùng phối hợp thi công trên cùng một địa bàn, một công trình theo sự điều phối của lãnh đạo công ty. Công ty chịu trách nhiệm tìm kiếm thị trường, lập hồ sơ dự thầu và ký hợp đồng thi công công trình khi trúng thầu. Trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh và mối quan hệ truyền thống của các xí nghiệp tại các địa bàn, phòng kế hoạch công ty giao nhiệm vụ cho các xí nghiệp thi công công trình hay hạng mục công trình. Các xí nghiệp cũng có thể tự chủ tìm kiếm thông tin thị trường đặc biệt tại các địa bàn truyền thống sau đó thông qua công ty để tham gia dự thầu. Đối với các công trình có quy mô nhỏ do xí nghiệp tự tìm kiếm, Tổng Giám đốc Công ty có thể ủy quyền cho Xí nghiệp tham gia đấu thầu, ký hợp đồng, thi công và thanh quyết toán công trình. Đối với các công trình xí nghiệp tự tìm kiếm công ty giao khoán cho xí nghiệp theo chế độ ưu đãi hơn đối với các công trình khác. Theo cách giao khoán của Công ty, khi nhận hợp đồng thầu mới, tuỳ theo từng loại công trình, Công ty giao khoán cho xí nghiệp xây lắp từ 75% đến 95% tổng chi phí hợp đồng. Phần kinh phí Công ty giữ lại để trang trải chi phí quản lý và thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước. Xí nghiệp có nhiệm vụ tổ chức thi công các công trình theo đúng tiến độ, yêu cầu kỹ thuật và đảm bảo chất lượng công trình, khối lượng công việc đã ký trong hợp đồng. Như vậy, tổ chức sản xuất kinh doanh của Công ty theo phương thức khoán không phải “khoán trắng” mà là “khoán quản”. Cách tổ chức giao khoán như trên góp phần nâng cao tính tự chủ, mang tính hiệu quả kinh tế cao trong quá trình sản xuất kinh doanh. Sản phẩm của Công ty là các công trình có quy mô từ vài chục triệu đồng cho đến vài tỷ đồng, sản phẩm mang tính đơn chiếc, thời gian thi công công trình có thể kéo dài một vài năm, chủng loại yếu tố đầu vào đa dạng và đòi hỏi phải có nguồn vốn đầu tư lớn. Có thể tóm tắt quy trình sản xuất sản phẩm của Công ty như sau : + Đối với công trình dạng cáp : Sơ đồ 1 - Công trình dạng cáp + Đối với công trình dạng cột anten : Sơ đồ 2 - Công trình dạng cột anten Một số chỉ tiêu kinh tế của Công ty trong những năm gần đây: Đơn vị : Triệu đồng Chỉ tiêu  Năm 2004  Năm 2005  Năm 2006  Năm 2007 (3 quý đầu năm)   1. Doanh thu thuần  126.687  166.255  153.281  95.000   2. Vốn kinh doanh  28.983  45.132  50.000  50.000   3. Nộp ngân sách  7.707  13.177  12.502  9.012   4. Lãi sau thuế  6.913  8.393  14.134    5. Thu nhập bình quân  2,9  3,3  3,8  3,8   Biểu 1 - Quá trình tăng trưởng qua các năm tại Công ty 3. Đặc điểm tổ chức hệ thống quản lý công ty Công tác tổ chức, điều hành SXKD của Công ty được thể hiện qua sơ đồ sau : Sơ đồ 3 - Mô hình tổ chức và hoạt động Công ty Cổ phần Phát triển Công trình Viễn Thông  Đại hội đồng cổ đông là hình thức trực tiếp để cổ đông tham gia quản lý Công ty, bao gồm các cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của Công ty. Hội đồng quản trị gồm có 05 thành viên, do Đại hội cổ đông bầu. Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý Công ty, có quyền nhân danh Công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của Công ty, trừ những vấn đề thuộc Đại hội đồng cổ đông. Ban kiểm soát có 03 người do Đại hội đồng cổ đông bầu ra. Ban kiểm soát là cơ quan thay mặt cổ đông để kiểm tra, giám sát hoạt động điều hành của Tổng Giám đốc trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, chấp hành pháp luật, Điều lệ của Công ty và các Nghị quyết, quyết định của Đại hội đồng cổ đông và Hội đồng quản trị. Tổng Giám đốc là người điều hành hoạt động hàng ngày của Công ty, chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và trước pháp luật về các quyền và nhiệm vụ được giao. Các Phó tổng giám đốc là người giúp việc Tổng Giám đốc về các lĩnh vực và những nhiệm vụ theo sự phân công của Tổng Giám đốc, chịu trách nhiệm trước Tổng Giám đốc và trước Pháp luật về các quyền và nhiệm vụ được giao. Kế toán trưởng chịu trách nhiệm trước Tổng Giám đốc và trước pháp luật về lĩnh vực tài chính, kế toán của Công ty. Các phòng chuyên môn nghiệp vụ bao gồm: Phòng Tổ chức Hành chính, Phòng Kế hoạch Kinh doanh, Phòng Tài chính Kế toán hoạt động theo điều lệ tổ chức hoạt động và các quy định khác của Công ty. Phòng Kế hoạch kinh doanh: + Lập kế hoạch sản xuất kinh doanh toàn công ty; + Tìm kiếm thông tin thị trường, lập hồ sơ dự thầu các công trình; + Kiểm tra đôn đốc các xí nghiệp trong quá trình thi công công trình; + Hoàn thiện hồ sơ xác nhận khối lượng hoàn thành giai đoạn và quyết toán công trình. Phòng Tổ chức lao động - Hành chính: + Chịu trách nhiệm về công tác nhân sự, chế độ tiền lương; + Công tác hành chính, quản trị; Chi nhánh miền Nam: Do một Phó Tổng giám đốc kiêm nhiệm phụ trách, thay mặt Tổng Giám đốc trực tiếp chỉ đạo thi công, cấp phát kinh phí và thu hồi vốn các công trình khu vực phía Nam. Các xí nghiệp thành viên: Công ty có 7 xí nghiệp xây lắp chịu trách nhiệm thi công công trình theo nhiệm vụ công ty giao đảm bảo chất lượng và tiến độ các công trình. Xí nghiệp tư vấn thiết kế hoạt động chuyên trách về tư vấn thiết kế, khảo sát lập dự án, dự toán các công trình. II. ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN CỦA CÔNG TY 1. Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán Chức năng: Bộ máy kế toán có chức năng thu thập, phân loại, xử lý, tổng hợp số liệu, thông tin về sản xuất kinh doanh, lập báo cáo tài chính sau đó cung cấp các thông tin về tài chính, kết quả sản xuất kinh doanh phục vụ công tác quản lý. Nhiệm vụ: Cung cấp đầy đủ, kịp thời và chính xác các tài liệu, số liệu về tình hình cung ứng, dự trữ, sử dụng các loại tài sản (Tài sản lưu động, tài sản cố định…), giám sát tình hình tập hợp chi phí của các xí nghiệp trực thuộc, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh, hiệu quả cấp phát vốn… trên cơ sở pháp luật và chế độ hiện hành. Bộ máy kế toán của công ty được tổ chức theo hình thức tập trung. Sơ đồ bộ máy kế toán công ty như sau: Sơ đồ 4 - Bộ máy kế toán của Công ty  Trong đó : * Kế toán trưởng: có nhiệm vụ chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra toàn bộ công tác tài chính kế toán trong Công ty. Chịu trách nhiệm trước Tổng Giám đốc và cơ quan cấp trên về các vấn đề liên quan đến tài chính doanh nghiệp, chỉ đạo chuyên môn giúp Tổng giám đốc nghiên cứu cải tiến quản lý hoạt động tổ chức kinh doanh. * Phó phòng TCKT: là người giúp Kế toán trưởng trong công tác quản lý và điều hành Phòng Tài chính kế toán hoàn thành nhiệm vụ Giám đốc công ty giao. Kiểm tra đôn đốc nhân viên trong phòng hoàn thành nhiệm vụ của từng người và nhận sự uỷ nhiệm của Kế toán trưởng trong các trường hợp cần thiết. * Kế toán tổng hợp (01 người): có nhiệm vụ quản lý toàn bộ dữ liệu kế toán. Luôn kiểm tra sổ chi tiết với cân đối sổ tổng hợp đảm bảo tính phù hợp và độ chính xác. Lập báo cáo tài chính của công ty vào cuối năm tài chính và cùng lãnh đạo phòng giải trình các số liệu trên các chứng từ cũng như báo cáo tài chính khi có yêu cầu của các cơ quan thuế, kiểm toán, cơ quan quản lý cấp trên và các cơ quan pháp luật khác. * Kế toán lương và BHXH (01 người): có nhiệm vụ tổng hợp bảng lương và bảng thanh toán tiền lương cho khối văn phòng công ty. Tiến hành trích BHXH, BHYT, KPCĐ theo quy định. * Kế toán thanh toán (02 người): Trên cơ sở các lệnh thu, chi tiền và các hoá đơn mua, bán hàng kế toán thanh toán lập phiếu thu, chi tiền và có nhiệm vụ lưu giữ các chứng từ đó sau quá trình luân chuyển. * Kế toán TSCĐ kiêm kế toán ngân hàng (01 người): theo dõi, đánh giá biến động về tài sản cố định. Căn cứ tỉ lệ trích khấu hao đã đăng ký với từng loại TSCĐ để tiến hành trích khấu hao, ngoài ra còn theo dõi các khoản vay nợ với ngân hàng, các khoản thu chi TGNH. * Kế toán công nợ (02 người): theo dõi các khoản tạm ứng, cho vay, thanh toán với khách hàng và nhà cung cấp. * Kế toán thuế (01 người): có nhiệm vụ theo dõi các khoản nộp ngân sách và tập hợp kê khai khấu trừ thuế toàn công ty. * Thủ quỹ (01 người): giữ tiền mặt Công ty, căn cứ vào phiếu thu, chi kèm theo các chứng từ hợp lệ để thu hoặc chi tiền mặt, chi trả lương cho công nhân viên. * Tại các xí nghiệp trực thuộc trong công ty đều có bộ máy kế toán riêng từ 2 đến 4 người chịu trách nhiệm hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại xí nghiệp. Ngoài ra các nhân viên phòng Tài chính kế toán được phân công chuyên quản, chuyên đôn đốc thanh toán chứng từ và theo dõi công nợ nội bộ với các xí nghiệp. 2. Hệ thống chứng từ kế toán Công ty sử dụng hai loại hình chứng từ: chứng từ bắt buộc và chứng từ không bắt buộc. Chứng từ bắt buộc: Là các mẫu chứng từ do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành và bắt buộc sử dụng khi có phát sinh. Chứng từ không bắt buộc : Là các mẫu chứng từ do Tập đoàn, công ty ban hành, quy định áp dụng thống nhất toàn công ty. Bảng 1 - Hệ thống chứng từ áp dụng tại Công ty TT  Tên chứng từ  Số hiệu  Phạm vi áp dụng   A  Vật liệu     1  Hoá đơn (GTGT)  01GTKT-3LL  Bắt buộc   2  Hoá đơn (GTGT)  01GTKT-2LN  Bắt buộc   3  Hoá đơn bán hàng  02GTTT-3LL  Bắt buộc   4  Hoá đơn bán hàng  02GTTT-2LN  Bắt buộc   5  Các hoá đơn tự in   Bắt buộc   6  Phiếu kê mua hàng  13-BH  Bắt buộc   7  Phiếu xuất kho kiêm v/c nội bộ  03 VT  Bắt buộc   8  Hợp đồng mua bán vật tư   Hướng dẫn   9  Biên bản giao nhận vật tư   Hướng dẫn   10  Biên bản TLHĐ mua bán vật tư   Hướng dẫn   11  Thẻ kho  06-VT  Bắt buộc   12  Biên bản kiểm kê kho vật tư  08-VT  Bắt buộc   B  Nhân công     1  Bảng chấm công  01-LĐTL  Bắt buộc   2  Bảng thanh toán tiền lương  02-LĐTL  Bắt buộc   3  Phiếu nghỉ hưởng bảo hiểm xã hội  03-LĐTL  Bắt buộc   4  Bảng thanh toán BHXH  04-LĐTL  Bắt buộc   5  Bảng thanh toán tiền thưởng  05-LĐTL  Bắt buộc   6  Hợp đồng lao động ngắn hạn   Hướng dẫn   7  Giấy ủy quyền ký hợp đồng khoán   Hướng dẫn   8  Hợp đồng thuê khoán nhân công  08-LĐTL  Hướng dẫn   9  Biên bản nghiệm thu KL công việc   Hướng dẫn   10  BB th
Luận văn liên quan