Khóa luận Giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng

Việt Nam với những bước phát triển của nền kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các thành phần kinh tế được tự do và bình đẳng trong kinh doanh. Trong điều kiện như vậy, tranh chấp xảy ra không những là vấn đề khó tránh khỏi mà ngày càng trở nên phức tạp. Để đảm bảo quyền tự do cho các chủ thể kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, thì việc tạo dựng một cơ chế giải quyết tranh chấp thỏa đáng và hiệu quả góp phần tạo ra môi trường đầu tư, kinh doanh hấp dẫn để thúc đẩy kinh tế phát triển, giữ vững trật tự và ổn định xã hội là đặc biệt quan trọng. Thực tế cho thấy Thương lượng là phương thức khá phổ biến để giải quyết các tranh chấp trong đời sống kinh tế - xã hội nói chung và trong tranh chấp thương mại nói riêng. Đây là phương thức thường được giới kinh doanh nghĩ đến đầu tiên khi có tranh chấp xảy ra bởi những tính ưu việt của nó: Đơn giản của phương thức thực hiện; ít tốn kém; kông bị ràng buộc bởi các thủ tục pháp lý phức tạp; uy tín cũng như bí mật kinh doanh được bảo đảm tối đa, tăng cường sự hiểu biết và hợp tác giữa các bên; tiết kiệm được thời gian, công sức của các bên. Nhà nước ta đã cố gắng cải thiện, đổi mới hệ thống pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại nhằm tạo ra nhiều phương thức giải quyết tranh chấp thương mại khác nhau phù hợp với thông lệ và tập quán quốc tế để các nhà kinh doanh có cơ hội lựa chọn giải pháp cho họ. Sự đổi mới này diễn ra trong cả lý luận và thực tiễn, trong luật nội dung cũng như luật tố tụng và luật về tổ chức bộ máy. Tuy niên, phải thừa nhận một thực tế là hoạt động thương mại đang ngày càng phát triển nhanh chóng và nảy sinh nhiều vấn đề mà hệ thống pháp luật đôi khi không kịp điều chỉnh và dẫn đến hậu quả có những bất cập. Thương lượng là một phương thức giải quyết tranh chấp thương mại với những ưu việt của nó, nhưng trong các văn bản pháp luật thì thương lượng chỉ dừng lại ở việc quy định đó là một phương thức giải quyết tranh chấp cho nên trong thực tiễn áp dụng, phương thức này chưa bộc lộ hết ưu điểm vốn có của mình, đặc biệt là vấn đề thực thi khi thương lượng giữa các bên được hoàn thành đang bị bỏ ngỏ. Vì thế, phương thức không những không phát huy được ưu việt của nó mà đôi khi còn trở thành vướng mắc trong quá trình giải quyết gây thiệt hại cho các bên trong quan hệ tranh chấp, đặc biệt là thiệt hại cho những nhà kinh doanh nhỏ, thiếu kinh nghiệm. Vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu và vận dụng đúng phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng chắc chắn sẽ hỗ trợ không chỉ trong những tranh chấp thương mại nói riêng mà còn trong các tranh chấp của đời sống xã hội nói chung. Mặt khác, việc tìm ra các biện pháp để đưa phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng trở nên phổ biến và ngày càng được giới kinh doanh lựa chọn là một trong những công việc rất quan trọng và cấp bách hiện nay . Trong bối cảnh như vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng” có một ý nghĩa to lớn cả về lý luận và thực tiễn.

doc88 trang | Chia sẻ: ngtr9097 | Ngày: 24/05/2013 | Lượt xem: 1922 | Lượt tải: 15download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Khóa luận Giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT -----˜&™----- NGÔ THẾ LẬP GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG THƯƠNG LƯỢNG KHãA LUËN TèT NGHIÖP luËt häc Chuyªn ngµnh: LuËt Kinh tÕ - Lao ®éng GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TS. NGÔ HUY CƯƠNG HÀ NỘI – 2009 LỜI CẢM ƠN Tôi xin chân thành cảm ơn TS Ngô Huy Cương, người đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này. Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa luật đại học quốc gia Hà Nội , đã dạy bảo và đào tạo tôi trong suốt bốn năm học tại khoa luật đại học quốc gia Hà Nội. Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè luôn ủng hộ và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp. MỤC LỤC Trang PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam với những bước phát triển của nền kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các thành phần kinh tế được tự do và bình đẳng trong kinh doanh. Trong điều kiện như vậy, tranh chấp xảy ra không những là vấn đề khó tránh khỏi mà ngày càng trở nên phức tạp. Để đảm bảo quyền tự do cho các chủ thể kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, thì việc tạo dựng một cơ chế giải quyết tranh chấp thỏa đáng và hiệu quả góp phần tạo ra môi trường đầu tư, kinh doanh hấp dẫn để thúc đẩy kinh tế phát triển, giữ vững trật tự và ổn định xã hội là đặc biệt quan trọng. Thực tế cho thấy Thương lượng là phương thức khá phổ biến để giải quyết các tranh chấp trong đời sống kinh tế - xã hội nói chung và trong tranh chấp thương mại nói riêng. Đây là phương thức thường được giới kinh doanh nghĩ đến đầu tiên khi có tranh chấp xảy ra bởi những tính ưu việt của nó: Đơn giản của phương thức thực hiện; ít tốn kém; kông bị ràng buộc bởi các thủ tục pháp lý phức tạp; uy tín cũng như bí mật kinh doanh được bảo đảm tối đa, tăng cường sự hiểu biết và hợp tác giữa các bên; tiết kiệm được thời gian, công sức của các bên. Nhà nước ta đã cố gắng cải thiện, đổi mới hệ thống pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại nhằm tạo ra nhiều phương thức giải quyết tranh chấp thương mại khác nhau phù hợp với thông lệ và tập quán quốc tế để các nhà kinh doanh có cơ hội lựa chọn giải pháp cho họ. Sự đổi mới này diễn ra trong cả lý luận và thực tiễn, trong luật nội dung cũng như luật tố tụng và luật về tổ chức bộ máy. Tuy niên, phải thừa nhận một thực tế là hoạt động thương mại đang ngày càng phát triển nhanh chóng và nảy sinh nhiều vấn đề mà hệ thống pháp luật đôi khi không kịp điều chỉnh và dẫn đến hậu quả có những bất cập. Thương lượng là một phương thức giải quyết tranh chấp thương mại với những ưu việt của nó, nhưng trong các văn bản pháp luật thì thương lượng chỉ dừng lại ở việc quy định đó là một phương thức giải quyết tranh chấp cho nên trong thực tiễn áp dụng, phương thức này chưa bộc lộ hết ưu điểm vốn có của mình, đặc biệt là vấn đề thực thi khi thương lượng giữa các bên được hoàn thành đang bị bỏ ngỏ. Vì thế, phương thức không những không phát huy được ưu việt của nó mà đôi khi còn trở thành vướng mắc trong quá trình giải quyết gây thiệt hại cho các bên trong quan hệ tranh chấp, đặc biệt là thiệt hại cho những nhà kinh doanh nhỏ, thiếu kinh nghiệm. Vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu và vận dụng đúng phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng chắc chắn sẽ hỗ trợ không chỉ trong những tranh chấp thương mại nói riêng mà còn trong các tranh chấp của đời sống xã hội nói chung. Mặt khác, việc tìm ra các biện pháp để đưa phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng trở nên phổ biến và ngày càng được giới kinh doanh lựa chọn là một trong những công việc rất quan trọng và cấp bách hiện nay . Trong bối cảnh như vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng” có một ý nghĩa to lớn cả về lý luận và thực tiễn. 1.2 Tình hình nghiên cứu Giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng đang là vấn đề không chỉ nhận được sự quan tâm của giới kinh doanh mà còn là vấn đề quan tâm của các nhà khoa học pháp lý nhằm tạo dựng một cơ chế giải quyết tranh chấp thươg mại hiệu quả, góp phần tạo ra một môi trường thuận lợi, thúc đẩy cho hoạt động thương mại phát triển. Chính vì vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau về những vấn đề liên quan đến giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng. Đến nay đã có một số công trình và bài viết nghiên cứu sau: “ Thương lượng, hòa giải – lựa chọn biện pháp giải quyết tranh chấp kinh doanh” của PGS. TS Trần Đình Hảo; “Tranh chấp hợp đồng và các phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng” của TS Phan Chí Hiếu; “Các phương thức giải quyết tranh chấp chủ yếu tại Việt Nam trong lĩnh vực kinh tế và đầu tư nước ngoài” của TS Hoàng Thế Liên; “ Về vấn đề giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế và đầu tư nước ngoài tại Việt Nam” của TS Hoàng Phước Hiệp; “Về cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta trong giai đoạn hiện nay” của TS Phạm Hữu Nghị…Và nhiều các công trình nghiên cứu Luận án tiến sĩ, Luận văn thạc sĩ và Khóa luận tốt nghiệp khác nghiên cứu các đề tài liên quan đến vấn đề này. Tuy vậy, cho đến nay, chưa có công trình, bài viết nghiên cứu nào đề cập trực tiếp đến vấn đề giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng tại Việt Nam. Vì vậy, đề tài khóa luận tốt nghiệp này về cơ bản là mới, chưa được nghiên cứu tổng thể, toàn diện. Đề tài được thực hiện trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc và kế thừa các kết quả nghiên cứu của các công trình đã được ra nghiên cứu một cách tổng thể, toàn diện vấn đề này trong lý luận và thực tiễn. 1.3 Mục tiêu của Luận văn Việc Nghiên cứu đề tài nhằm đạt được mục tiêu tổng quát là tìm ra được các luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng. Để đạt được mục tiêu tổng quát này, khóa luận cần đạt được những mục tiêu cụ thể sau: Thứ nhất, nghiên cứu khái quát vấn đề lý luận về tranh chấp thương mại, trên cơ sở đó làm rõ các vấn đề lý luận mới, các yêu cầu mới liên quan đến giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng. Thứ hai, nghiên cứu, phân tích đánh giá thực trạng hệ thống pháp luật hiện hành và các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại đặc biệt là phương thức thương lượng từ đó làm rõ những mặt được, mặt còn hạn chế, bất hợp lý, bất cập trong pháp luật cũng như thực tiễn hoạt động giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng. Thứ ba, Đưa ra một số kiến nghị và đề xuất hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lựơng phù hợp với tình hình mới, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả đáp ứng được các yêu cầu mới trong nền kinh tế. 1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đề tài nghiên cứu chủ yếu những vấn đề về lý luận, thực tiễn pháp luật và cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, xu hướng vận động của chúng trong thời gian tới, những vấn đề đặt ra đối với pháp luật và cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng. Trên cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại nói chung và giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng nói riêng. Tranh chấp thương mại là một vấn đề khá rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, trong khuôn khổ đề tài khóa luận tốt nghiệp và điền kiện có hạn nên đề tài chỉ giới hạn vấn đề nghiên cứu trong phạm vi giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng trên cơ sở lý luận và thực tiễn theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam. Giới hạn này cho phép đảm bảo. 1.5 Phương pháp nghiên cứu Để hoàn thành các mục tiêu của đề tài, trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu, vận dụng khóa luận đã được thực hiện trên cơ sở của phương pháp duy vật biện chứng, kết hợp với việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh. Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. 1.6 Cơ cấu của khóa luận Cơ cấu của khóa luận bao gồm: Phần mở đầu Phần nội dung gồm 03 chương: Chương 1: Những vấn đề lý luận căn bản về giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng. Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng. Chương 3: Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng. Phần kết luận CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CĂN BẢN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG THƯƠNG LƯỢNG 1.1 Khái quát chung về tranh chấp kinh doanh thương mại và các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại 1.1.1 Khái quát chung về tranh chấp kinh doanh thương mại Tranh chấp là một hiện tượng khách quan trong xã hội. Từ khi hàng hóa xuất hiện thì cũng diễn ra các hoạt động thương mại, con người bắt đầu tiến hành các trao đổi hàng hóa để thỏa mãn nhu cầu của mình. Những mâu thuẫn xuất phát từ việc sản xuất, trao đổi và thông thương hàng hóa cũng bắt đầu xuất hiện, đó là tranh chấp thương mại. Trong nền kinh tế thị trường các quan hệ kinh tế càng phát triển, tranh chấp chấp càng trở nên đa dạng và phức tạp. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, dưới sự tác động của quy luật cạnh tranh, những bất đồng, xung đột xảy ra giữa các chủ thể kinh doanh là điều khó tránh khỏi, tranh chấp đã trở thành một hện tượng bình thường đối với mọi nền kinh tế. Giải quyết được các mâu thuẫn, tranh chấp này sẽ góp phần thúc đẩy các quan hệ kinh tế phát triển. Tranh chấp thương mại hay tranh chấp kinh doanh là thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến trong đời sống kinh tế xã hội ở các nước trên thế giới. Thuật ngữ này mới được sử dụng rộng rãi và phổ biến ở Việt Nam mấy năm gần đây. Trước đây trong cơ chế kế hoặch hóa thuật ngữ tranh chấp chấp kinh tế là thuật ngữ quen thuộc đã ăn sâu trong tiềm thức và tư duy pháp lý của người Việt Nam. Với ý nghĩa là tất cả các hoạt động kinh tế thực hiện theo mô hình kế hoạch hóa tập trung trên cơ sở chỉ tiêu, kế hoạch của nhà nước. Nguyên nhân là trong thời kì đó, chúng ta chịu ảnh hưởng của nền Luật học Xô viết cùng với sự tồn tại của một ngành Luật độc lập là ngành luật kinh tế. Trong thời kì mà hoạt động kinh tế chủ yếu là kế hoạch hóa tập trung với sự thống trị của khu vực kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể sử dụng mệnh lệnh hành chính thì mọi hoạt động kinh tế chủ yếu do nhà nước thực hiện và chi phối. Kinh tế tư nhân, tư bản không có điều kiện phát triển. Các đơn vị kinh tế đều hoạt động thông qua kế hoạch và sử dụng hợp đồng kinh tế làm công cụ thực hiện kế hoạch được giao. Do đó, các tranh chấp kinh tế trong thời kì kế hoạch hóa tập trung đôi khi đồng nghĩa với tranh chấp hợp đồng kinh tế. Khái niệm “Tranh chấp kinh tế” là một khái niệm có nội hàm rộng, bao gồm tất cả các tranh chấp có nội dung kinh tế. Trong các văn bản Pháp lý trước đây như Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế ngày 16/3/1994 và theo Nghị định số 116/NĐ-CP của chính phủ ngày 5/9/1994 đã liệt kê các tranh chấp được coi là tranh chấp kinh tế bao gồm: Các tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa pháp nhân với cá nhân có đăng kí kinh doanh; Các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty; Các tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu; các tranh chấp khác theo quy định pháp luật. Với một khái niệm có nội hàm rộng và việc pháp luật chúng ta gắn cho các tranh chấp điển hình có nội dung kinh tế trên đã tạo ra sự không tương thích và không phù hợp với các hoạt động thương mại nữa. Thuật ngữ “tranh chấp kinh tế” ít được sử dụng trong các văn bản Pháp lý quốc tế mà thay vào đó là thuật ngữ “tranh chấp thương mại” (commerce dispute) hay thuật ngữ “tranh chấp kinh doanh” (business dispute). Ví dụ, như trong bản Quy tắc hòa giải không bắt buộc và Quy tắc trọng tài của Phòng thương mại quốc tế (ICC) đều sử dụng thuật ngữ tranh chấp kinh doanh. Điều 1 bản Quy tắc hòa giải không bắt buộc quy định “Tất cả các tranh chấp kinh doanh có đặc điểm quốc tế có thể được đưa ra hòa giải bởi một hòa giải viên duy nhất do Phòng thương mại quốc tế chỉ định”. Trong Luật mẫu của UNCITRAL về trọng tài thương mại quốc tế cũng sử dụng thuật ngữ “thương mại”. Trên thực tế, khái niệm tranh chấp thương mại được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau và có nhiều tên gọi khác nhau: Tranh chấp kinh tế, tranh chấp thương mại, tranh chấp kinh doanh, tranh chấp về kinh doanh, thương mại. Các nhà nghiên cứu luôn cố gắng phân biệt sự khác nhau giữa tranh chấp kinh tế và tranh chấp kinh doanh. TS Nguyền Thị Kim Vinh Xác định “Trong các loại hình tranh chấp kinh tế, tranh chấp trong kinh doanh là loại hình tranh chấp phổ biến nhất và do đó một số trường hợp khái niệm tranh chấp trong kinh doanh và khái niệm tranh chấp kinh tế được sử dụng với ý nghĩa tương đương với nhau”. Có ý kiến lại cho rằng: “Tranh chấp trong kinh doanh là một dạng của tranh chấp kinh tế, biểu hiện những mâu thuẫn hay xung đột về quyền, nghĩa vụ giữa các nhà đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời”. Ở Việt Nam, Khái niệm tranh chấp thương mại lần đầu tiên được đề cập trong Luật thương mại ngày 10/5/1997 song, theo điều 238, Luật thương mại 1997 có quy định: Tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại. Ngoài ra, khái niệm “Hoạt động thương mại” theo quy định của Luật thương mại năm 1997 lại có nội hàm rất hẹp so với quan niệm phổ biến của các nước trên thế giới về thương mại. Theo Điều 1 của Luật mẫu UNICTRAL về trọng tài thương mại được Ủy ban Liên hợp quốc về Luật thương mại quốc tế thông qua ngày 21/6/1958 có quy định các mối quan hệ mang tính chất thương mại, bao gồm, nhưng không giới hạn, các giao dịch sau đây: Mọi giao dịch thương mại về việc cung cấp hay trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thỏa thuận về phân phối; Đại diện thương mại; hóa đơn chứng từ; bán – cho thuê; Xây dựng nhà máy; Dịch vụ tư vấn; Đề án thiết kế tổng hợp; Giấy phép; Đầu tư; Cấp chi phí; Giao dịch ngân hàng; Bảo hiểm; Các thỏa thuận về khai thác hay chuyển nhượng; Hợp tác giữa các xí nghiệp và các hình thức về hợp tác công nghiệp hay thương mại; Vận chuyển hành khách hay hàng hóa bằng đường không, đường biển, đường sắt, đường bộ. Như vậy, những tranh chấp thương mại theo Luật mẫu là rất rộng. Bao gồm các tranh chấp phát sinh từ mọi quan hệ mang tính chất thương mại theo hợp đồng hay không theo hợp đồng. Trong Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) khái niệm thương mại cũng được hiểu rất rộng. Đều 2 của Hiệp định này nêu rõ WTO sẽ đảm bảo khung định chế chung cho việc thực hiện các quan hệ thương mại giữa các thành viên về những vấn đề liên quan đến các Hiệp định trong Phụ lục. Trong khi đó, Phụ lục vốn được coi là các văn bản cấu thành khung pháp lý của WTO bao trùm rất nhiều lĩnh vực không chỉ là thương mại hàng hóa mà cả thương mại dịch vụ, đầu tư và sở hữu trí tuệ. Tất cả các tranh chấp có liên quan đến thương mại đều được giải quyết theo thủ tục mới được quy định tại các Hiệp định kí tại vòng đàm phán Uruguay. Cho nên, có thể nhận thấy Quan niệm về tranh chấp thương mại và hoạt động thương mại theo Luật thương mại năm 1997 đã loại bỏ nhiều tranh chấp không được coi là tranh chấp thương mại, mặc dù xét về bản chất hoàn toàn có thể coi là các tranh chấp thương mại. Điều này đã tạo ra những xung đột pháp luật, giữa luật quốc gia với luật quốc tế, trong đó có cả những công ước quan trọng mà Việt Nam đã là thành viên (Công ước New York năm 1958), gây không ít trở ngại, rắc rối trong thực tiễn áp dụng và chính sách hội nhập. Sau khi Việt Nam kí kết hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ ngày 13/7/2000 và được Quốc hội phê chuẩn ngày 28/11/2001, quan niệm về thương mại và tranh chấp thương mại của chúng ta đã được mở rộng và mang bản chất của thương mại. Khái niệm thương mại bao gồm thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ và đầu tư. Còn tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh giữa các bên trong giao dịch thương mại (Điều 9.4 Chương I). Ngoài ra Hiệp định thương mại Vệt Nam – Hoa Kỳ còn phân biệt thêm về thương mại nhà nước. Đây là cơ sở quan trọng để Việt Nam sửa đổi và ban hành hàng loạt các văn bản quan trọng sau này về thương mại và giải quyết tranh chấp thương mại. Các quan niệm về thương mại như trong Hiệp định Việt Nam – Hoa Kỳ tiếp tục được thể hiện trong Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 và Luật thương mại năm 2005. Ngày 25/2/2003 Pháp lệnh trọng tài thương mại ra đời mặc dù không đưa ra được khái niệm về tranh chấp thương mại mà đưa ra khái niệm “Hoạt động thương mại” theo đó Hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý thương mại; ký gửi; thuê, cho thuê; thuê mua; xây dựng; tư vấn; kỹ thuật; li - xăng; đầu tư; tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác; vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật. Khái niệm này đã tạo ra được sự tương đồng trong quan niệm về “Thương mại” và “Tranh chấp thương mại” của Pháp luật Việt Nam với chuẩn mực chung của pháp luật và thông lệ quốc tế. Là tiền đề cho việc ra đời các văn bản Pháp luật tiếp theo trong lĩnh vực thương mại. Theo Điều 29, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 có liệt kê các tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, gồm có: Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận bao gồm: Mua bán hàng hoá; Cung ứng dịch vụ; Phân phối; Đại diện, đại lý; Ký gửi; Thuê, cho thuê, thuê mua; Xây dựng; Tư vấn, kỹ thuật; Vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thuỷ nội địa; Vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển; Mua bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác; Đầu tư, tài chính, ngân hàng; Bảo hiểm; Thăm dò, khai thác; Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty; Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định. Tiếp theo là sự ra đời của Luật Thương mại năm 2005. Luật thương mại năm 2005 cũng không đưa ra khái niệm tranh chấp thương mại mà theo khoản 1, điều 3 đưa ra khái niệm: Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lời, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Như vậy, khái niệm Hoạt động thương mại của Luật thương mại năm 2005 đã được mở rộng nó là mọi hoạt động có mục đích sinh lời. Hướng tiếp cận này tạo ra sự tương đồng với khái niệm kinh doanh trong Luật Doanh nghiệp năm 2005. Khoản 2, điều 4 Luật doanh nghiệp quy định kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Các khái niệm về thương mại này đã loại bỏ yếu tố “chính sách kinh tế - xã hội so với quy định trong Luật thương mại năm 1997 và không bó hẹp phạm vi chủ thể là thương nhân, đồng thời gần hơn với quan niệm về hoạt động thương mại của WTO và Luật mẫu UNCITRAL. Đặc biệt, lần đầu tiên, khái niệm thương mại được xác định nằm trong khái niệm dân sự theo nghĩa rộng. Theo Điều 1 Bộ luật dân sự năm 2005 có xác định các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động được gọi chung là quan hệ dân sự. So với trước đây, khi xác định tranh chấp kinh tế hay tranh chấp thương mại, nhiều người mong muốn phâ