Khóa luận Xây dựng công cụ biên soạn bài giảng ba chiều tăng cường

Trong những năm gần đây, e-Learning đang phát triển nhanh chóng. E-Learing là một hình thức học tập điện tử, đang đựơc nhiều cá nhân cũng như nhiều tổ chức quan tâm xây dựng và phát triển do những ưu điểm nổi bật của nó so với đào tạo truyền thống. Một xu hướng phát triển e-Learning hiện nay đó là xây dựng các nội dung học tập có thể tái sử dụng, bền vững với sự phát triển của công nghệ, khả chuyển giữa các hệ thống khác nhau và tăng hiệu quả kinh tế. Để đạt được những yêu cầu đó, các chuẩn và các đặc tả đã ra đời. SCORM là một chuẩn đang được chú ý nhiều nhất và có khả nhiều sản phẩm ứng dụng nó. Bài giảng điện tử có dữ liệu ba chiều và đa phương tiện đang được quan tâm nghiên cứu trong thời gian gần đây [1]. Với đặc tính nổi bật về khả năng biểu diễn những nội dung học phức tạp (đặc biệt liên quan đến không gian), khả năng truyền đạt kiến thức sinh động, hấp dẫn, trực quan và đầy đủ, những bài giảng dạng này đang thể hiện rõ ưu thế trong một số môn học như địa lý, lịch sử, hoá học Trên cơ sở nghiên cứu về chuẩn SCORM và các bài giảng ba chiều đươc tăng cường bởi dữ liệu đa phương tiện, chúng tôi đề xuất xây dựng một công cụ biên soạn bài giảng dạng này. Công cụ hỗ trợ người giáo viên trong việc tạo và đóng gói tài nguyên và nội dung bài giảng một cách dễ dàng, tạo khả năng tích hợp các bài giảng vào những hệ thống e learning đã có.

doc108 trang | Chia sẻ: tuandn | Ngày: 20/05/2013 | Lượt xem: 1610 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Khóa luận Xây dựng công cụ biên soạn bài giảng ba chiều tăng cường, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ Nguyễn Tiến Dũng XÂY DỰNG CÔNG CỤ BIÊN SOẠN BÀI GIẢNG BA CHIỀU TĂNG CƯỜNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC HỆ CHÍNH QUY Ngành: Mạng máy tính và truyền thông HÀ NỘI – 2006 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ Nguyễn Tiến Dũng XÂY DỰNG CÔNG CỤ BIÊN SOẠN BÀI GIẢNG BA CHIỀU TĂNG CƯỜNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC HỆ CHÍNH QUY Ngành: Mạng máy tính và truyền thông Cán bộ hướng dẫn: Ths. Nguyễn Thị Nhật Thanh HÀ NỘI - 2006 Lời cảm ơn Sau 4 năm học tập và rèn luyện tại Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội, đến nay chúng em đã hoàn thành chương trình học và luận văn tốt nghiệp. Em xin cảm ơn sâu sắc tới ThS.Nguyễn Thị Nhật Thanh, người thầy đã giúp đỡ em hoàn thành khoá luận này. Em xin cảm ơn trường Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội cùng toàn thể các thầy cô giáo đã dạy dỗ và tạo điều kiện học tập cho em trong những năm học đại học vừa qua. Em xin cảm ơn gia đình, bạn bè, các anh chị sinh viên khoá trước đã động viên, giúp đỡ, góp ý tạo điều kiện tốt nhất cho em. Hà Nội, Ngày 25 tháng 05 năm 2006 Sinh viên: Nguyễn Tiến Dũng Tóm tắt Trong những năm gần đây, e-Learning đang phát triển nhanh chóng. E-Learing là một hình thức học tập điện tử, đang đựơc nhiều cá nhân cũng như nhiều tổ chức quan tâm xây dựng và phát triển do những ưu điểm nổi bật của nó so với đào tạo truyền thống. Một xu hướng phát triển e-Learning hiện nay đó là xây dựng các nội dung học tập có thể tái sử dụng, bền vững với sự phát triển của công nghệ, khả chuyển giữa các hệ thống khác nhau và tăng hiệu quả kinh tế. Để đạt được những yêu cầu đó, các chuẩn và các đặc tả đã ra đời. SCORM là một chuẩn đang được chú ý nhiều nhất và có khả nhiều sản phẩm ứng dụng nó. Bài giảng điện tử có dữ liệu ba chiều và đa phương tiện đang được quan tâm nghiên cứu trong thời gian gần đây [1]. Với đặc tính nổi bật về khả năng biểu diễn những nội dung học phức tạp (đặc biệt liên quan đến không gian), khả năng truyền đạt kiến thức sinh động, hấp dẫn, trực quan và đầy đủ, những bài giảng dạng này đang thể hiện rõ ưu thế trong một số môn học như địa lý, lịch sử, hoá học … Trên cơ sở nghiên cứu về chuẩn SCORM và các bài giảng ba chiều đươc tăng cường bởi dữ liệu đa phương tiện, chúng tôi đề xuất xây dựng một công cụ biên soạn bài giảng dạng này. Công cụ hỗ trợ người giáo viên trong việc tạo và đóng gói tài nguyên và nội dung bài giảng một cách dễ dàng, tạo khả năng tích hợp các bài giảng vào những hệ thống e learning đã có. Mục lục MỞ ĐẦU Trong xu hướng phát triển hiện nay, hệ thống đào tạo theo phương thức truyền thống ngày càng gặp nhiều khó khăn như nội dung các giáo trình, sách giáo khoa thường xuyên bị lạc hậu, hình thức bài giảng không tạo nên được sự hứng thú học tập cho học viên, việc tra cứu tại chỗ các tài liệu tham khảo rất hạn chế và mất nhiều thời gian, việc học bị hạn chế bởi không gian và thời gian ... tất cả những khó khăn trên khiến cho việc truyền đạt nội dung kiến thức bị ảnh hưởng rất nhiều, hiệu quả không cao. Nhận thức được những vấn đề khó khăn trên, công tác giáo dục đào tạo đã có nhiều thay đổi cải tiến với các hình thức học tập mới, khắc phục những nhược điểm của phương pháp học tập truyền thống. E-Learning với sự trợ giúp của các công nghệ mới nhất hứa hẹn sẽ khắc phục tốt những nhược điểm của phương pháp học tập truyền thống. E-Learning đang từng bước hoàn chỉnh ở nhiều nơi trên thế giới. Tuy nhiên các hệ thống này còn thiếu sự đồng bộ, tự đặt ra mô hình đào tạo riêng, việc chia sẻ nội dung giữa các hệ thống trở nên khó khăn và phức tạp. Các tổ chức IEEE, IMS, AICC, ADL ... đã xây dựng và cung cấp rất nhiều chuẩn chung giữa các hệ thống. Trong số đó, SCORM (chuẩn do ADL cung cấp) đang được đánh giá rất cao và có khá nhiều sản phẩm tuân theo nó. Bài giảng điện tử có dữ liệu ba chiều và đa phương tiện là một dạng bài giảng mới, đang được sử dụng hiệu quả trong một số môn học trong e learning [1]. Tuy nhiên, do một số đặc tính khác với bài giảng điện tử thông thường (có dữ liệu ba chiều, có sự kết hợp giữa các dạng dữ liệu), việc xây dựng, đóng gói và sử dụng rộng rãi những bài giảng dạng này trong các hệ thống e learing còn gặp nhiều khó khăn. Bởi vậy, trong khoá luận này, chúng tôi tiến hành xây dựng một bộ công cụ hỗ trợ biên soạn các bài giảng dạng này và đóng gói chúng theo chuẩn SCORM. Bước đầu, bộ công cụ sẽ giúp giáo viên tạo và sửa đổi bài giảng dễ dàng và góp phần tích hợp bài giảng ba chiều tăng cường vào các hệ thống e learning sẵn có Cấu trúc của Khoá luận: “Xây dựng công cụ biên soạn bài giảng ba chiều tăng cường tuân theo chuẩn SCORM” như sau: Chương 1: Tổng quan về e-Learning: Chương này sẽ trình bày những kiến thức tổng quát về e-Learning, các thành phần tham gia vào hệ thống e-Learning, những ưu điểm so với đào tạo điện tử truyền thống và sự phát triển của e-Learning. Chương 2: Đóng gói bài giảng trong e-Learning: Giới thiệu về chuẩn SCORM, ngôn ngữ đánh dấu mở rộng XML và việc ứng dụng XML vào việc xây đóng gói bài giảng theo SCORM. Chương 3: Bài giảng điện tử ba chiều tăng cường: Tìm hiểu về bài giảng điện tử nói chung và bài giảng điện tử ba chiều tăng cường (định nghĩa, tiền đề, thành phần, kiểu kết hợp, mô hình). Chương 4: Bộ công cụ biên soạn và đóng gói bài giảng điện tử ba chiều tăng cường: Tìm hiểu bộ công cụ trình diễn bài giảng ba chiều tăng cường và một số bộ công cụ biên soạn và đóng gói bài giảng sẵn có. Dựa trên những tìm hiểu này, chúng tôi tiến hành xây dựng một bộ công cụ biên soạn và đóng gói bài giảng ba chiều tăng cường tuân theo chuẩn SCORM và sử dụng công cụ này để đóng gói một bài giảng ba chiều tăng cường có nội dung về lịch sử thế giới. Đề tài được thực hiện bởi một nhóm có hai thành viên: Nguyễn Tiến Dũng, Nguyễn Tuấn Phương. Phân công công việc cụ thể như sau: Nguyễn Tiến Dũng: Phụ trách về chuẩn SCORM, phân tích và đặc tả, đóng gói nôi dung, xây dựng module đặc tả tài nguyên và đặc tả nội dung bài giảng. Nguyễn Tuấn Phương: Phụ trách về e-Learning, ngôn ngữ XML, xây dựng module phân tích file imsmanifest.xml Các phần còn lại chúng tôi cùng xây dựng và thực hiện chung. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ E-LEARNING 1.1 Giới thiệu về e-Learning: 1.1.1 E-Learning là gì? Sau đây là một số định nghĩa được đưa ra bởi các công ty, tổ chức tham gia nghiên cứu và phát triển e-Learning. E-Learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông (Compare Infobase Inc). E-Learning nghĩa là việc học tập hay đào tạo được chuẩn bị, phân phối hoặc quản lí sử dụng nhiều công cụ của công nghệ thông tin, truyền thông khác nhau và được thực hiện ở mức cục bộ hay toàn cục (MASIE Center). Việc học tập được phân phối hay hỗ trợ qua công nghệ điện tử. Việc phân phối qua nhiều kĩ thuật khác nhau như Internet, video tape, qua các hệ thống giảng dạy thông minh, và việc đào tạo dựa trên máy tính (CBT) (Sun Microsystems, Inc). Qua đó, ta có thể hiểu một cách đơn giản nhất, e-Learning là việc phân phối đào tạo và các tài liệu giáo dục thông qua phương tiện điện tử kết hợp với các ứng dụng công nghệ. Các phương tiện điện tử được sử dụng gồm băng audio và video, vệ tinh quảng bá, truyền hình tương tác, CD-ROM và các loại học liệu điện tử khác. Công nghệ cốt lõi tham gia vào hệ thống e-Learning là mạng Internet và công nghệ Web. Trong tương lai, nhờ sự phát triển mạnh mẽ của khoa học-kĩ thuật, e-Learning cũng có thể bao gồm việc đào tạo được phân phối trên các máy PDA (Personal Digital Assistant) (ví dụ như Palm top) thậm chí có thể thông qua việc sử dụng công nghệ không dây. Các chuyên gia tiên đoán rằng, e-Learning sẽ phát triển thành m-Learning (mobile Learning) - một hình thức di động của giáo dục. Hình 1.1 mô tả một cách tổng quát khái niệm e-Learning.Trong mô hình này, hệ thống đào tạo bao gồm 4 thành phần. Toàn bộ hoặc một phần của những thành phần chuyển tải tới người học thông qua các phương tiện truyền thông điện tử. Hình 1.1 Mô hình E-Learning. Nội dung: Các nội dung đào tạo, bài giảng được thể hiện dưới dạng các phương tiện truyền thông điện tử, đa phương tiện. Ví dụ các bài giảng CBT viết bằng toolbook II… Phân phối: Việc phân phối các nội dung đào tạo được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử. Ví dụ tài liệu được gửi cho học viên bằng e-mail, học viên học trên website, học qua đĩa CD-Rom multimedia… Quản lý: Quá trình quản lý đào tạo được thực hiện hoàn toàn nhờ phương tiện truyền thông điện tử. Ví dụ như việc đăng ký học qua mạng, bằng bản tin nhắn SMS (Short Message Service), việc theo dõi tiến độ học tập (điểm danh) được thực hiện qua mạng Internet... Hợp tác: Sự hợp tác, trao đổi của người học trong quá trình học tập cũng được thông qua phương tiện truyền thông điện tử. Ví dụ như việc trao đổi thảo luận thông qua chat, forum trên mạng… 1.1.2 Khác biệt của e-Learning so với đào tạo truyền thống Giúp cho việc học ở mọi nơi, mọi lúc. Người học có thể tận dụng tối đa các cơ hội học tập E-Learning tạo ra một môi trường học mới mẻ, mềm dẻo và thân thiện. Nó mở ra cơ hội học tập đối với tất cả mọi người. E-Learning góp phần xóa bỏ sự phân biệt tuổi tác, tôn giáo, nghề nghiệp, đưa người khuyết tật hòa nhập với cộng đồng. Với hình thức giáo dục truyền thống, những người đang đi làm, nếu muốn học thêm thì họ phải rất khó khăn mới bố trí được thời gian để đi học. Nếu khóa học được tổ chức ở xa, những người không có điều kiện về thời gian, chi phí hay do hoàn cảnh cá nhân cũng đành phải từ bỏ ý định. Ngược lại, với mô hình e-Learning, mỗi cá nhân đều có thể lựa chọn cho mình một hình thức học tập phù hợp nhất không bị hạn chế bởi thời gian hay không gian. Nhờ sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, e-Learning có mặt ở khắp nơi, một khoá học e-Learning được chuyển tải qua một máy tính tới cho người học, điều này cho phép các học viên có thể linh hoạt lựa chọn khoá học từ một máy tính để bàn hoặc từ một máy tính xách tay với một modem di động chạy pin trên một bãi biển. Do đó, “thời gian chết” của con người khi di chuyển trên xe buýt, tàu hỏa hay máy bay… có thể được sử dụng một cách hữu ích vào mục đích học tập. E-Learning cũng hỗ trợ việc học được nhúng trong các tiến trình sản xuất.Trong quá trình sản xuất, nếu hệ thống gặp sự cố thì người công nhân có thể nhanh chóng tra cứu thông tin về sự cố trên mạng, tìm kiếm thông tin, đọc tài liệu hay trao đổi với đồng nghiệp thay vì phải mò mẫm hàng giờ hoặc phải đọc sách tra cứu hàng trăm trang. Làm cho người học chủ động, tích cực hơn trong học tập, hỗ trợ việc học thông qua phản hồi và thảo luận Các bài giảng được hỗ trợ các file âm thanh, hình ảnh, các trò chơi. Một vài môn học được thực hành trực tiếp. Ví dụ như khi học nguyên lí máy in, bạn có thể thực hành luôn thao tác in. Do đó, việc học trở nên lôi cuốn, hấp dẫn, làm cho học viên nhanh chóng nắm bắt kiến thức, dễ hiểu bài, dễ nhớ. Nhờ sử dụng mạng và cộng đồng trực tuyến, người học có thể trao đổi, học hỏi, chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm. Hình thức này khuyến khích khả năng độc lập tư duy, mạnh dạn bày tỏ ý kiến cá nhân của mỗi học viên. E-Learning cung cấp nhiều tùy chọn cho việc học như: đọc, xem, tìm hiểu, tìm kiếm, thảo luận, diễn đàn chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm. Qua đó, người học có thể chọn cho mình một hình thức học phù hợp nhất hoặc có thể kết hợp giữa các hình thức đó. Đạt được tính dễ dàng truy cập E-Learning thường được dùng để hỗ trợ cho giảng dạy bằng việc cung cấp các thông tin về bài giảng, tạo ra việc truy cập tới các tài nguyên học một cách dễ dàng, thiết lập cộng đồng giao tiếp trong lớp học, hỗ trợ làm việc theo nhóm và cung cấp các bài test có đánh giá phản hồi. Thông tin về bài giảng bao gồm mục đích và mục tiêu của bài giảng, chương trình học, phương pháp giảng dạy, thời gian biểu, danh sách các tài liệu tham khảo… Người học có thể lấy các bản in trên giấy từ lớp học thật, mặt khác họ có thể tra cứu, tham khảo, download một cách dễ dàng từ Internet. Nếu bản giấy bị mất, họ có thể in lại chúng. Người học được cung cấp một nguồn rộng lớn các tài nguyên học và họ có thể truy cập tới nó một cách dễ dàng. Tài nguyên ở đây có thể là các file tiếng, file hình,các bài giảng, các slide, các tài liệu tham khảo, các câu hỏi thường gặp và cả những trang web cung cấp kiến thức khác. Với e-Learning, người học có thể trao đổi và chia sẻ kiến thức cũng như kinh nghiệm của họ một cách cởi mở, tương trợ lẫn nhau. Đôi khi, họ cũng có thể tự tìm thấy câu trả lời cho những thắc mắc của bản thân ngay chính trong câu hỏi của người khác trong nhóm thảo luận. Mỗi nhóm con trong lớp cũng được hỗ trợ một tài khoản riêng. Nhờ đó, họ có thể thảo luận riêng, và lưu trữ các tài liệu cũng như ghi lại các ý kiến riêng của các thành viên trong nhóm. Qua đó, góp phần tăng khả năng làm việc theo nhóm của các học viên. Sau mỗi bài giảng, mỗi chương, mỗi học phần, học viên có thể tự ôn luyện kiến thức, rèn luyện kĩ năng cho bản thân thông qua các bài test có phản hồi. Các bài test này bao gồm các câu hỏi được chọn ngẫu nhiên trong cơ sở dữ liệu câu hỏi. Có nhiều hình thức câu hỏi như: multiple-choice, multiple-answer, fill-in the blank, matching list, ordering list… Các câu hỏi có thể bao gồm cả hình ảnh và âm thanh minh họa, sống động. Học viên có thể nhận được đáp án và đánh giá ngay lập tức. Qua các bài test, học viên có thể tự mình kiểm tra kiến thức của bản thân, giảng viên có thể nhận thấy học viên cần giúp đỡ ở những điểm gì. Với những ưu điểm nổi trội so với các hình thức giáo dục truyền thống, e- Learning được các chuyên gia đánh giá đó là một phương pháp giáo dục đào tạo mới, là một cuộc cách mạng trong giáo dục thế kỉ 21. 1.1.3 Chuẩn hóa e-Learning: Cùng với sự phát triển của e-Learning, số lượng tài liệu ngày càng tăng với các công cụ chế bản, công cụ truyền tải và quản lý nội dung. Mới đầu, WWW được xem công cụ tương đối chuẩn và phổ biến để truyền tải nội dung học nhưng trên thực tế việc truyền tải nội dung trên web chưa theo một tiểu chuẩn cụ thể nào. Trong khi đó, “những thay đổi có tính cách mạng chỉ có được với sự thừa nhận các tiểu chuẩn”. Ví dụ điển hình là Internet phát triển mạnh khi có những chuẩn như TCP/IP, HTTP, HTML. Với E-Learning, các chuẩn chung là chuẩn về siêu dữ liệu (meta-data), đối tượng đào tạo (learning object), kiến trúc đào tạo (learning architecture). Chuẩn E-Learning hướng tới việc tái sử dụng và thao tác giữa các thành phần nội dung. Nội dung học có thể sử dụng lại bởi người khác. Siêu dữ liệu thường được dùng để mô tả các cấu trúc và nội dung. Nhờ đó nội dung có thể lưu giữ trong kho nội dung và người dùng có thể tìm kiếm tài nguyên cần sử dụng. Mặt khác, nếu muốn nội dung kết hợp được với các tài nguyên khác thì nội dung đó phải được biểu diễn theo một chuẩn chung để hệ thống khác có thể hiểu được. Với mỗi người tham gia vào môi trường E-Learning, các tiêu chuẩn đều mang lại cho họ những ý nghĩa riêng. Ví dụ: Nhà cung cấp hệ thống LMS: Việc tuân thủ các tiêu chuẩn mang lại uy tín về chất lượng cho sản phẩm của họ. Bằng cách mở rộng sản phẩm của mình cho phép tương tác được với các công cụ khác, họ có thể tăng cường chức năng cho sản phẩm của mình một cách hiệu quả. Giảng viên và người lập chính sách: Việc quản lý và phân phối có thể kết hợp với nhau, công tác quản trị có thể tổ chức hợp lý hơn và giảm tông chi phí. Nội dung/kiến trúc tuân theo các chuẩn sẽ có vòng đời dài hơn và giảm chi phí một cách hiệu quả. Người phát triển nội dung và nhà sản xuất: Họ có được thị trường rộng hơn khi một sản phẩm chỉ phải làm một lần nhưng sử dụng lại được nhiều lần. Tác giả và nhà cung cấp có thể gửi bài giảng của họ vào các kho nội dung và những bài giảng này có thể dễ dàng truy xuất được. Học viên: Họ có thêm lựa chọn để hoàn thành mục tiêu học của mình. Hệ thống tuân theo các chuẩn giúp học viên không chỉ trông chờ vào một nhà cung cấp. Thay vì tham gia học theo một nơi duy nhất, với lịch học cứng nhắc, việc học có thể thực hiện trong thời gian dài, tùy thuộc vào thời gian chủ động của học viên, và phù hợp với trình độ học viên. Chúng ta đang ở giai đoạn phát triển từ các đặc tả tiến tới các tiêu chuẩn cho E-Learning. Quá trình phát triển từ đặc tả thành tiêu chuẩn đánh dấu thay đổi trong nhận thức cảu cộng đồng. Chuẩn cho E-Learning đang dần được hoàn thiện và ngày càng được chấp nhận rộng rãi hơn. Người dùng bắt đầu tin tưởng vào các chuẩn và nhìn thấy hiệu quả mang lại từ việc tuân thủ các chuẩn mới đưa ra. Sự phát triển tiến tới xây dựng chuẩn E-Learning đánh dấu bước trưởng thành trong công nghệ E-Learning. 1.2 Các thành phần của hệ thống E-Learning 1.2.1 LMS (Learning Management System) Hệ quản trị học làm nhiệm vụ quản lý đào tạo một cách tự động. Hệ quản trị học cung cấp những năng chính sau: Quản lý hồ sơ học viên Quản lý phân nhóm Lập kế hoạch học tập Đăng ký học Kết nối qua môi trường phân phối để chuyển nội dung học tới học viên Theo dõi sự tham gia của học viên, sự phân phối nội dung học Theo dõi các hoạt động đánh giá và kiểm tra Tích hợp nội dung. Hình 1.2. Hệ thống LMS Một hệ LMS tốt là một hệ có khả năng lập kế hoạch, phân phát và quản lý các chương trình học dưới bất kỳ khuôn dạng nào. Hệ LMS này có thể tích hợp dễ dàng với các với các hệ LCMS khác qua các đặc tả, các chuẩn kỹ thuật và cả chức năng quản lý nội dung học. 1.2.2 LCMS (Learning Content Management System) Một hệ quản trị nội dung học LCMS là một môi trường đa người dùng cho phép mọi người phát triển nội dung tạo ra, lưu trữ, sử dụng, sử dụng lại, quản lý và phân phát nội dung học từ kho chứa nội dung trung tâm. Tron gkhi hệ LMS chỉ quản lý những vấn đề xung quanh việc học, LCMS quản lý quá trình tạo ra và phân phối nội dung học. Một hệ LCMS có những đặc tính sau: Tích hợp nội dung Quản lý nội dung Quản lý kho chứa nội dung (bao gồm những thiết bị lưu trữ với chức năng quản lý nội dung và phân nhóm). Hệ thống phân phối nội dung học cho phép LCMS xác định, lấy các đối tượng học phù hợp chuyển tới học viên. Một hệ LCMS cho phép tạo ra và sử dụng lại những đơn vị nội dung học nhỏ. Điều này có một ý nghĩa rất lớn. Chức năng quản lý và sử dụng lại các đối tượng học được cung cấp bởi một LCMS sẽ giảm thời gian và chi phí so với việc tạo ra một nội dung mới. Loại bỏ sự dư thừa các đối tượng học bằng việc sử dụng lại cũng làm cho việc cập nhật những thông tin mới cho đối tượng này trở nên dễ dàng và ít tốn kém hơn. Để thực hiện được những điều này, cần định dạng nội dung học theo chuẩn và cần quan tâm tới quá trình nhập đối tượng học đó. Hiện nay, các hệ LCMS mới thường được thiết kế phù hợp với chuẩn về định dạng nội dung, bao gói nội dung và thông tin với nội dung để dễ dàng tương tác với các hệ thống khác. Hình 1.3. Hệ thống LCMS 1.2.3 So sánh LMS và LCMS Việc xác nhận giá trị của một hệ LMS nằm ở sự quản trị đào tạo có mang lại lợi nhuận. Một hệ LMS tạo ra một hướng tiếp cận tập trung hóa, mang tính tổ chức tới việc học theo đó nó lập bảng biểu và ghi lại các học viên trong cả khóa học trực tuyến hay ngoại tuyến, khởi chạy các khóa học e-Learning, và theo dõi tiến trình của học viên qua các khóa học đó. Sự thành công của người sử dụng được xác định bởi một phương pháp tuyến tính, tuần tự thông qua nội dung và sự đánh giá khóa học. Nó cũng cung cấp cho những người quản trị học khả năng theo dõi các tài nguyên dựa trên lớp học (ví dụ như việc đảm bảo rằng trang thiết bị thích hợp phải có đủ cho một lớp học quản lý qua mạng). Các hệ LMS phức tạp hơn cho phép sự ánh xạ khả năng. Điều đó có nghĩa là, một hệ LMS đánh giá mức độ năng lực của cá nhân thông qua các bài kiểm tra đánh giá kỹ năng và sau đó hướng dẫn người dùng sử dụng khóa học phù hợp nhất để lấp những lỗ hổng về kỹ năng. Theo cách này, một hệ LMS tự động xử lý quá trình đòi hỏi nhiều thời gian và nhiều nhân công truyền thống trong công việc thủ công của các cá nhân, và nó thậm chí có thể cung cấp định hướng nghề nghiệp xác thực, toàn diện cho các thành viên của tổ chức đó. Trong khi các hệ LCMS đưa ra cho các tổ chức một vài danh mục cơ bản và các chức năng đăng ký, thì những chức năng này cũng không mạnh như được

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docNguyen_Tien_Dung_k47cc .doc
  • pdfNguyen_Tien_Dung_k47cc.pdf
Luận văn liên quan