Kiến thức - Thái độ - Thực hành về sức khoẻ sinh sản và một số yếu tố liên quan của học sinh trường trung học phổ thông Hoài Đức A tỉnh Hà Tây năm 2006

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WH O), vị thành niên (VTN) là những người ở độ tuổi 10-19 tuổi. Tuổi VTN là một thời kỳ phát triển đặc biệt quan trọng của đời người vì đây là giai đoạn để cho một đứa trẻ phát triển đầy đủ và trở thành một người trưởng thành. Trong giai đoạn này VTN cần được giúp đỡ để có những kiến thức và hành vi lành mạnh, an toàn, tránh những hậu quả không mong muốn như lạm dụng tình dục, mang thai ngoài ý muốn, nạo phá thai không an toàn, nhiễm các bệnh lây truyền đường tình dục và H IV/AIDS.

pdf58 trang | Chia sẻ: khactoan_hl | Ngày: 19/05/2015 | Lượt xem: 2535 | Lượt tải: 24download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Kiến thức - Thái độ - Thực hành về sức khoẻ sinh sản và một số yếu tố liên quan của học sinh trường trung học phổ thông Hoài Đức A tỉnh Hà Tây năm 2006, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔN G CỘNG =====  ===== VŨ THỊ MAI ANH LƯƠNG THỊ TÂM KIẾN THỨC-THÁI ĐỘ-THỰC HÀNH VỀ SỨC KHOẺ SINH SẢN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HOÀI ĐỨC A TỈNH HÀ TÂY NĂM 2006 ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU BÀI TẬP 1 Hà Nội, 2006 - 1 - BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔN G CỘNG =====  ===== VŨ THỊ MAI ANH LƯƠNG THỊ TÂM KIẾN THỨC-THÁI ĐỘ-THỰC HÀNH VỀ SỨC KHOẺ SINH SẢN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HOÀI ĐỨC A TỈNH HÀ TÂY NĂM 2006 ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU BÀI TẬP 1 Hướng dẫn khoa học: Th.s Lê Minh Thi Hà Nội, 2006 - 2 - DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT AIDS Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (Acquired Immuno Deficiency Syndrome) BLTQĐTD Bệnh lây truyền qua đường tình dục BPSD Bộ phận sinh dục BPTT Biện pháp tránh thai CBL Câu lạc bộ CBYT Cán bộ y tế CQSD Cơ quan sinh dục ĐHYTCC Đại học y tế công cộng HIV Virus gây suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (Human Immuno Deficiency Virus) HS Học sinh KAP Kiến thức, thái độ, thực hành (Knowledge, Attitude, Practice) QHTD Quan hệ tình dục SAVY Điều tra Quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam (Survey Assessment of Vietnamese Youth) SKSS Sức khỏe sinh sản SKSSVTN Sức khoẻ sinh sản vị thành niên TĐHV Trình độ học vấn TH Tiểu học THCS Trung học cơ sở THPT Trung học phổ thông TTYTDP Trung tâm y tế dự phòng TV Truyền hình VS Vệ sinh VTN Vị thành niên YTCC Y tế công cộng - 3 - TÓM TẮT ĐỀ CƯƠNG Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), vị thành niên (VTN) là những người ở độ tuổi 10-19 tuổi. Tuổi VTN là một thời kỳ phát triển đặc biệt quan trọng của đời người vì đây là giai đoạn để cho một đứa trẻ phát triển đầy đủ và trở thành một người trưởng thành. Trong giai đoạn này VTN cần được giúp đỡ để có những kiến thức và hành vi lành mạnh, an toàn, tránh những hậu quả không mong muốn như lạm dụng tình dục, mang thai ngoài ý muốn, nạo phá thai không an toàn, nhiễm các bệnh lây truyền đường tình dục và H IV/AIDS. Tại Việt Nam, kết quả khảo sát “Tuổi VTN với vấn đề tình dục và biện pháp tránh thai (BPTT)” cho thấy có khoảng 26% VTN đang học phổ thông đã và đang yêu, đối với VTN thôi học tỷ lệ này là 39,7%, có 1,4% VTN cho rằng có thể QHTD ở tuổi 15, 2,4% ở tuổi 16, ở tuổi 17 là 9,5% và ở tuổi 18 là 27,7%. Đáng chú ý là có 29,8% trong số VTN đã yêu nhận là đã có QHTD. Hiểu biết về BPTT của VTN từ 10,2-14,8% đối với các biện pháp BCS, tính chu kỳ kinh và xuất tinh ngoài âm đạo. Các biện pháp khác chiếm khoảng 0,4-4,3%. Trường Trung học phổ thông (THPT) Hoài Đức A đóng trên địa bàn huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây. Theo Ban Giám hiệu và Bí thư Đoàn thanh niên nhà trường, hiện nay nhà trường chưa có chương trình chính thức hay hoạt động ngoại khoá nào cho học sinh về SKSSVTN nên có thể kiến thức liên quan đến SKSSVTN của các em chưa cao. Mặt khác, do trường gần với một số trường Đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, các em học sinh dễ kết bạn, giao lưu với các sinh viên của những trường này và dễ nảy sinh những mối quan hệ nam - nữ, có thể ảnh hưởng đến việc học tập và thậm chí mang lại hậu quả không mong muốn. Cho đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu nào tìm hiểu về vấn đề Sức khoẻ sinh sản trên địa bàn huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây. Câu hỏi đặt ra là kiến thức, thái độ, thực hành về SKSS VTN của học sinh các trường THPT huyện Hoài Đức như thế nào? Sự hiểu biết của các em về các BLTQĐTD, các biện pháp tránh thai, thái độ về vấn đề QHTD ra sao? Nhu cầu của các em học sinh về thông tin, giáo dục Giới tính và SKSSVTN như thế nào? Có những yếu tố nào liên quan đến SKSSVTN ở huyện Hoài Đức? Vì những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Kiến thức, thái độ, thực hành về sức khoẻ sinh sản và một số yếu tố liên quan của học sinh trường Trung học phổ thông Hoài Đức A, tỉnh Hà Tây năm 2006” Mục tiêu chung của nghiên cứu là mô tả kiến thức, thái độ, thực hành về sức khoẻ sinh sản vị thành niên của học sinh và phân tích một số yếu tố liên quan tại trường THPT Hoài Đức A, tỉnh Hà Tây năm 2006; trên cơ sở kết quả nghiên cứu đề xuất những kiến nghị phù hợp nhằm nâng cao kiến thức, thái độ, thực hành đúng về sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh. Phương pháp nghiên cứu là mô tả cắt ngang, định lượng kết hợp định tính, sử dụng bảng hỏi cấu trúc tự điền, khuyết danh và thảo luận nhóm trọng tâm. Chọn mẫu định lượng theo phương pháp chọn mẫu cụm 2 giai đoạn, mẫu định tính chọn - 4 - có chủ đích. Đối tượng nghiên cứu là học sinh THPT, ban Giám hiệu, giáo viên, cha mẹ học sinh. Thời gian nghiên cứu bắt đầu từ tháng 09/2006 đến tháng 02/2007. MỤC LỤC I. ĐẶT VẤN ĐỀ 5 II. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 8 III. ĐỐI TƯỢN G VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8 3.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................................. 9 3.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu ........................................................................ 9 3.3. Thiết kế nghiên cứu ................................................................................................ 9 3.4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu.................................................................... 10 3.5. Phương pháp thu thập số liệu .............................................................................. 11 3.6. Các biến số nghiên cứu ........................................................................................ 12 3.7. M ột số khái niệm/qui ước dùng trong nghiên cứu ........................................... 17 3.8. Phương pháp phân tích số liệu ............................................................................ 19 3.9. Vấn đề đạo đức của nghiên cứu .......................................................................... 19 3.10............................Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số 19 IV. KẾ HOẠCH VÀ DỰ TRÙ KINH PHÍ 21 4.1. Kế hoạch nghiên cứu............................................................................................ 21 4.2. Dự trù kinh phí nghiên cứu ................................................................................. 22 V. DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 23 5.1. Dự kiến kết quả nghiên cứu................................................................................. 23 5.2. Dự kiến bàn luận................................................................................................... 38 5.3. Dự kiến kết luận và khuyến nghị ........................................................................ 39 TÀI LIỆU THAM KHẢO 40 PHỤ LỤC 41 - 5 - I. ĐẶT VẤN ĐỀ Năm 1994, Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển đã định nghĩa: Sức khoẻ sinh sản (SKSS) là trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội của tất cả những gì có liên quan tới hoạt động và chức năng của bộ máy sinh sản chứ không phải là không có bệnh hay khuyết tật của bộ máy đó. Chăm sóc sức khoẻ sinh sản là một trong những vấn đề y tế công cộng được Đảng và N hà nước hết sức quan tâm. Ngày 28/11/2000, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Chiến lược quốc gia về chăm sóc sức khoẻ sinh sản giai đoạn 2001-2010” với mục tiêu chung nhằm đảm bảo đến năm 2010 tình trạng sức khoẻ sinh sản được cải thiện rõ rệt [4]. Sức khoẻ sinh sản vị thành niên (SKSSVTN) là những nội dung nói chung của SKSS nhưng được ứng dụng phù hợp cho lứa tuổi vị thành niên (VTN). Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), VTN là những người ở độ tuổi 10-19 và được chia làm 3 thời kỳ: VTN sớm (10-13 tuổi); VTN giữa (14-16 tuổi) và VTN muộn (17-19 tuổi) [7]. Tuổi VTN là một thời kỳ phát triển đặc biệt quan trọng của đời người bởi vì đây là giai đoạn để cho một đứa trẻ phát triển đầy đủ và trở thành một người trưởng thành [13]. Những phát triển về tính dục và cảm xúc yêu đương cũng dần dần phát triển. Trong giai đoạn này VTN cần được giúp đỡ để có những kiến thức và hành vi lành mạnh, an toàn, tránh những hậu quả không mong muốn như lạm dụng tình dục, mang thai ngoài ý muốn, nạo phá thai không an toàn, nhiễm các bệnh lây truyền đường tình dục và HIV/AIDS [12]. Trên thế giới, phần lớn mọi người bắt đầu có quan hệ tình dục (QHTD) ở tuổi VTN, tỷ lệ này cao nhất ở vùng cận Sahara thuộc châu Phi với 50% VTN trong độ tuổi từ 15-19 đã từng có quan hệ tình dục. Tuổi bắt đầu có QHTD chịu ảnh hưởng của yếu tố văn hoá và có sự khác biệt giữa nam và nữ. Nhìn chung, nam VTN có QHTD nhiều hơn và ở lứa tuổi sớm hơn so với nữ VTN. Có 24-75% nam VTN châu Á có QHTD trước 18 tuổi và ở nữ là 2-11%; 44-66% nam ở vùng châu Mỹ La tinh có QHTD trước 16 tuổi, so với nữ là 12-44%. Tại châu Phi, 1/3 số VTN sinh con ở lứa tuổi 15-19 là chưa có gia đình [15]. Tỷ lệ nạo hút thai cao, mỗi năm gần 1/4 triệu lượt phá thai trong đó có 300.000 thanh niên chưa kết hôn, 50% người nhiễm HIV là thanh thiếu niên, trong đó 14% là trẻ dưới 15 tuổi [13]. Tại Việt Nam, kết quả khảo sát “tuổi VTN với vấn đề tình dục và biện pháp tránh thai (BPTT)” cho thấy có khoảng 26% VTN đang học phổ thông đã và đang yêu, đối với VTN thôi học tỷ lệ này là 39,7%, có 1,4% VTN cho rằng có thể QHTD ở tuổi 15, 2,4% ở tuổi 16, ở tuổi 17 là 9,5% và ở tuổi 18 là 27,7%. Đáng chú ý là có 29,8% trong số VTN đã yêu nhận là đã có QHTD. Hiểu biết về BPTT của VTN từ 10,2-14,8% đối với các biện pháp BCS, tính chu kỳ kinh và xuất tinh ngoài âm đạo. Các biện pháp khác chiếm khoảng 0,4-4,3% [6]. Điều tra Quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam (SAVY) năm 2003 cho kết quả các nguồn thông tin chính về SKSS là thông tin đại chúng, cán bộ chuyên môn (trong đó giáo viên: 67,8%, nhân viên y tế: 47,6%, cộng tác viên dân số: 42,3%) [3]. Hoài Đức là một huyện ngay sát Thủ đô Hà N ội, đang trong quá trình đô thị hoá với tốc độ rất nhanh. Báo cáo công tác Chăm sóc sức khoẻ sinh sản 6 tháng đầu - 6 - năm 2006 của Bệnh viện huyện Hoài Đức cho thấy: tổng số lần khám phụ khoa là 10053 lần, tổng số người chữa phụ khoa là 4056 người, tổng số người hút thai là 395 người, không có trường hợp nạo hút thai nào dưới 18 tuổi, không có trường hợp sinh con dưới 18 tuổi tại Bệnh viện huyện Hoài Đức [1]. Tuy nhiên con số này không phản ánh đầy đủ thực trạng nạo phá thai của VTN trên địa bàn huyện do Hoài Đức là một huyện thuận lợi về giao thông với các cơ sở y tế khác nên có thể các VTN sẽ đi nơi khác để nạo phá thai, mặt khác nạo phá thai VTN là vấn đề nhạy cảm và thường bị giấu diếm nên rất khó thống kê. Trường trung học phổ thông (THPT) Hoài Đức A đóng trên địa bàn huyện được thành lập từ cách đây 40 năm. Năm học 2005-2006, trường có tổng số là 2.912 em học sinh (HS) với 56 lớp, trong đó khối lớp 10 có 15 lớp, khối lớp 11 có 21 lớp và khối lớp 12 có 20 lớp. Qua phỏng vấn Ban giám hiệu và Bí thư Đoàn thanh niên trường THPT Hoài Đức A, do điều kiện vị trí của trường rất gần với một số trường đại học (Đại học công nghiệp Hà Nội, Đại học thương mại) và cao đẳng, trung học chuyên nghiệp nên HS dễ kết bạn, giao lưu với các sinh viên và nảy sinh những mối quan hệ nam - nữ. Thêm vào đó điều kiện giao thông rất thuận lợi và ảnh hưởng bởi tốc độ đô thị hoá nhanh, các em học sinh dễ tiếp cận với những trào lưu mới, có thể ảnh hưởng đến việc học tập và thậm chí mang lại hậu quả không mong muốn. Cách đây 3 năm, đã có học sinh nữ bỏ học để lấy chồng. Năm 2005 có trường hợp học sinh nữ mang thai to vẫn đến trường học. Kết quả đánh giá nhanh các em học sinh lớp 12A5, trường THPT Hoài Đức A qua trả lời phiếu câu hỏi tự điền được thiết kế sẵn cho thấy sự hiểu biết về giới tính ở tuổi dậy thì, kiến thức chăm sóc SKSS còn thấp, chỉ 56,2% số học sinh có điểm kiến thức chung đạt. Về những bệnh lây truyền qua đường tình dục (BLTQĐTD), các em chỉ biết 3 bệnh chủ yếu là HIV/AIDS (39/49 HS), giang mai (28/49 HS), lậu (21/49 HS). Có 59,2% (29/49 HS) không biết thời điểm bạn nữ có thể có thai khi QHTD so với kỳ kinh nguyệt, gần 20% (9/49 HS) không biết đến bất kỳ một BPTT nào, 40,8% (20/49 HS) không biết cách xử trí khi một bạn gái mang thai và 32,65% (16/49 HS) không biết đến hậu quả của việc nạo phá thai. Tìm hiểu về thái độ của các em với vấn đề QHTD trước hôn nhân, 10/49 em đồng ý có thể QHTD trước hôn nhân nếu hai người tự nguyện, 16/49 em đồng ý có thể QHTD trước hôn nhân nếu biết giữ cho bạn gái không có thai... Nguồn thông tin chủ yếu về SKSS mà các em có được là từ sách báo, tạp chí (29/49 HS). Đã có những nghiên cứu về SKSSVTN ở những địa bàn khác nhưng trên địa bàn huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây cho đến nay chưa có một nghiên cứu nào về vấn đề này. Câu hỏi đặt ra là kiến thức, thái độ, thực hành về SKSS VTN của học sinh các trường THPT huyện Hoài Đức như thế nào? Sự hiểu biết của các em về các BLTQĐTD, các biện pháp tránh thai, thái độ về vấn đề QHTD ra sao? Nhu cầu của các em học sinh về thông tin, giáo dục Giới tính và SKSSVTN như thế nào? Có những yếu tố nào liên quan đến SKSSVTN ở huyện Hoài Đức? Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Kiến thức, thái độ, thực hành về sức khoẻ sinh sản và một số yếu tố liên quan của học sinh trường Trung học phổ thông Hoài Đức A, tỉnh Hà Tây năm 2006” - 7 - CÂY VẤN ĐỀ Không quan tâm Tỷ lệ học sinh THPT có KAP đúng về SKSSVTN thấp Kiến thức về SKSSVTN thấp Thái độ về SKSSVTN chưa đúng Thực hành về SKSSVTN chưa đúng Ảnh hưởng bởi trào lưu mới/ văn hoá ngoại lai Không sẵn có các dịch vụ Áp lực nhóm, theo bạn bè, bị ép buộc Bố mẹ chưa hướng dẫn/ nhắc nhở Nhà trường chưa hướng dẫn Không có điều kiện kinh tế Các HĐ truyền thông trong trường học ít Thiếu truyền thông đại chúng Gia đình chưa quan tâm Thiếu tư vấn hỗ trợ từ y tế Thiếu thông tin Có TT nhưng không tiếp cận Hình thức truyền thông chưa phù hợp Ảnh hưởng từ quan niệm của cộng đồng Nghề nghiệp, học vấn, tình trạng hôn nhân của bố mẹ Không có thời gian Không có TV, sách báo tạp chí - 8 - II. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2.1. Mục tiêu chung Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành về sức khoẻ sinh sản vị thành niên của học sinh và phân tích một số yếu tố liên quan tại trường Trung học phổ thông Hoài Đức A, tỉnh Hà Tây năm 2006. 2.2. Mục tiêu cụ thể 2.2.1 Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành về sức khoẻ sinh sản vị thành niên của học sinh trường Trung học phổ thông Hoài Đức A, tỉnh Hà Tây năm 2006. 2.2.2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành về sức khoẻ sinh sản vị thành niên của các em học sinh trường Trung học phổ thông Hoài Đức A, tỉnh Hà Tây năm 2006. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đề xuất những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao kiến thức, thái độ, thực hành về sức khoẻ sinh sản vị thành niên cho học sinh. - 9 - III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1. Đối tượng nghiên cứu - Các em học sinh lớp 10, 11, 12, tương đương với độ tuổi từ 16-19 tuổi - Ban giám hiệu và giáo viên chủ nhiệm, giáo viên giảng dạy các môn liên quan đến giáo dục giới tính cho học sinh - Bố mẹ các em học sinh (8-10 người) 3.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu Thời gian bắt đầu: Tháng 9 năm 2006 Thời gian kết thúc: Tháng 2 năm 2007 Địa điểm nghiên cứu: Trường THPT Hoài Đức A, tỉnh Hà Tây 3.3. Thiết kế nghiên cứu Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính. 3.3.1 Nghiên cứu định lượng Điều tra KAP của học sinh theo bộ câu hỏi cấu trúc tự điền. Kết quả của phần nghiên cứu này chủ yếu trả lời cho mục tiêu: Mô tả kiến thức thái độ và thực hành về SKSSVTN và phân tích một số yếu tố liên quan nội tại của bản thân HS như liên quan giữa kiến thức và thái độ, kiến thức và thực hành, thái độ và thực hành và hành vi không an toàn với những hậu quả đã từng xảy ra… 3.3.2 Nghiên cứu định tính Do đặc điểm cần khai thác các thông tin nhạy cảm liên quan đến SKSSVTN của nghiên cứu và bổ sung cho việc phân tích một số mối liên quan mà bộ câu h ỏi cấu trúc tự điền không thể kh ai thác hết được, cũng như để kiểm tra chéo các thông tin, chúng tôi tiến hành thu thập thông tin của các nhóm đối tượng khác nhau, bao gồm:  Thảo luận nhóm học sinh: Dự kiến tiến hành 2 cuộc thảo luận nhóm nam và nữ riêng biệt để thuận lợi cho HS thảo luận các chủ đề liên quan đến giới tính và so sánh ý kiến của 2 nhóm. Nội dung thảo luận nhằm thu thập những ý kiến chung của nhóm về những nội dung SKSS mà học sinh quan tâm, ý kiến của HS về giới tính, tình bạn, tình yêu và tình dục an toàn… Cuộc thảo luận nhóm sẽ được sử dụng những hình ảnh và tình huống phù hợp để HS cùng phân tích và cho các ý kiến về giải pháp.  Thảo luận nhóm giáo viên dạy các môn học có liên quan: Dự kiến tiến hành 1 cuộc thảo luận nhằm thu thập các ý kiến của giáo viên về những nội dung SKSSVTN cần thiết được giảng dạy trong nhà trường, cách thức giảng dạy, - 10 - những ý kiến của giáo viên về tình hình SKSSVTN tại địa phương cũng như giải pháp từ phía nhà trường để nâng cao KAP về SKSSVTN cho học sinh.  Thảo luận nhóm bố mẹ học sinh: Dự kiến tiến hành 1 cuộc thảo luận nhóm nhằm thu thập ý kiến, quan điểm của cha mẹ HS về những nội dung SKSSVTN, thái độ ứng xử của cha mẹ trước những băn khoăn về các vấn đề liên quan đến SKSS của học sinh. Giải pháp cha mẹ học sinh đề ra để nâng cao KAP về SKSSVTN cho HS. Phân tích những quan niệm cuả cộng đồng ảnh hưởng đến thái độ về SKSS của VTN, ý kiến về những thay đổi quan niệm và kiến thức so với trước đây về QHTD trước hôn nhân, mang thai ngoài ý muốn, nạo phá thai và nguyên nhân của những hiện tượng này. 3.4. Cỡ m ẫu và phương pháp chọn mẫu 3.4.1. Cỡ mẫu Mẫu định lư ợng: Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng được tính theo công thức: 2d pp Zn )1(2 2/1     n: Là cỡ mẫu số học sinh cần điều tra Z: Hệ số tin cậy. Với độ tin cậy 95% thì giá trị của Z = 1,96 p: Dựa trên kết quả đánh giá nhanh kiến thức của HS THPT Hoài Đức A khi thực hiện xác định vấn đề nghiên cứu là 56,2% kiến thức đạt. Chúng tôi lấy p=0,56 d: Sai số ước lượng tự định trước, d = 0,07 Để tăng giá trị của cỡ mẫu (do chọn mẫu cụm), nhân hệ số thiết kế = 2 Ta có n =386. Cộng thêm 10% bỏ cuộc do đó cỡ mẫu đảm bảo yêu cầu là n = 425 học sinh. Mẫu định tính: Chọn mẫu có chủ đích  Thảo luận nhóm trọng tâm:  1 nhóm giáo viên và đại diện Ban giám hiệu  2 nhóm học sinh phân theo giới tính (1 nhóm nam, 1 nhóm nữ)  1 nhóm bố mẹ học sinh 3.4.2. Kỹ thuật chọn mẫu Chọn mẫu định lượng - Chọn các đối tượng nghiên cứu theo phương pháp chọn mẫu cụm. Toàn trường có 56 lớp. Khối 10 có 15 lớp, khối 11 có 21 lớp và khối 12 có 20 lớp (trừ một lớp đã thực hiện đánh giá nhanh còn 19 lớp), mỗi lớp có khoảng 50 học sinh. Như vậy, với n=425 học sinh tương đương với số lớp lấy tròn số là 9 lớp. - 11 - - Đánh thứ tự các lớp theo khối, chọn số lớp của mỗi khối theo tỷ lệ lớp, sử dụng phương pháp chọn ngẫu nhiên. Khối 10 sẽ chọn 2 lớp, khối 11 chọn 4 lớp và khối 12 chọn 3 lớp. Chọn mẫu định tính  Chọn 7-10 giáo viên giảng dạy các môn học có liên quan: Sinh học, Giáo dục công dân, 1 đại diện ban giám hiệu, 1 cán bộ đoàn, 2 giáo viên chủ nhiệm  Chọn 15-20 học sinh tự nguyện tham gia thảo luận nhóm để thu thập thông tin về hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản, chia thành 2 cuộc thảo luận riêng theo giới (7-10 học sinh nam và 7-10 học sinh nữ).  Chọn một nhóm phụ huynh học sinh (7-10 người) đại diện để thảo luận về những yếu tố liên quan đến SKSS VTN. 3.5. Phương pháp thu thập số liệu 3.5.1. Kỹ thuật thu thập thông tin  Nghiên