Luận án Hoàn thiện kế toán định giá doanh nghiệp trong bối cảnh tái cấu trúc doanh nghiệp tại các doanh nghiệp nhà nước Việt Nam

Định giá doanh nghiệp (ĐGDN) hay còn gọi là "Xác định giá trị doanh nghiệp" (XĐGTDN) là việc làm tất yếu trong công cuộc TCT nền kinh tế nói chung, TCT doanh nghiệp (TCTDN) nói riêng để nhằm trợ giúp cho quá trình chuyển đổi cơ cấu về vốn chủ sở hữu, giúp chuẩn bị cho việc phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu (IPO), giúp cải thiện tình hình hoạt động của công ty sau thời gian hoạt động kém hiệu quả. Quá trình ĐGDN sẽ đánh giá một cách khách quan các điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp (DN) giúp công ty đánh giá một cách khách quan hoặc “mở khoá” các cơ hội (tiềm năng) và gia tăng giá trị cổ phiếu cho các cổ đông hiện tại và tương lai.

pdf170 trang | Chia sẻ: lecuong1825 | Ngày: 14/07/2016 | Lượt xem: 1095 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận án Hoàn thiện kế toán định giá doanh nghiệp trong bối cảnh tái cấu trúc doanh nghiệp tại các doanh nghiệp nhà nước Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
1 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP KHI TÁI CẤU TRÚC DOANH NGHIỆP 1.1. Tổng quan về định giá doanh nghiệp. Định giá doanh nghiệp (ĐGDN) hay còn gọi là "Xác định giá trị doanh nghiệp" (XĐGTDN) là việc làm tất yếu trong công cuộc TCT nền kinh tế nói chung, TCT doanh nghiệp (TCTDN) nói riêng để nhằm trợ giúp cho quá trình chuyển đổi cơ cấu về vốn chủ sở hữu, giúp chuẩn bị cho việc phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu (IPO), giúp cải thiện tình hình hoạt động của công ty sau thời gian hoạt động kém hiệu quả. Quá trình ĐGDN sẽ đánh giá một cách khách quan các điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp (DN) giúp công ty đánh giá một cách khách quan hoặc “mở khoá” các cơ hội (tiềm năng) và gia tăng giá trị cổ phiếu cho các cổ đông hiện tại và tương lai. 1.1.1. Khái niệm về định giá doanh nghiệp. 1.1.1.1. Giá trị doanh nghiệp. Giá trị doanh nghiệp (GTDN) là biểu hiện bằng tiền về các khoản thu nhập mà doanh nghiệp mang lại cho nhà đầu tư trong quá trình kinh doanh. Để hiểu rõ khái niệm về GTDN ở trên ta xét từ các khía cạnh sau: Thứ nhất: DN là một tổ chức, một đơn vị kinh tế chứ không giống như những “tài sản” thông thường. Nó là một thực thể hoạt động, thông qua sự hoạt động mà người ta nhận dạng ra DN, DN không phải là một tập hợp các loại tài sản vào với nhau. Khi thực hiện phá sản, DN không còn tồn tại với tư cách của một tổ chức kinh doanh nữa. Khi đó, nó chỉ đơn giản là một sự hỗn hợp các loại tài sản đơn lẻ, rời rạc mà người ta có thể thanh lý, phát mãi từng thứ riêng biệt như những hàng hóa thông thường – nó không còn đầy đủ ý nghĩa của một DN. Do vậy, GTDN là một khái niệm chỉ được dùng cho những DN đang còn hoạt động và sẵn sàng hoạt động. Thứ hai: DN là một tổ chức, một đơn vị kinh doanh, nhưng đồng thời cũng là một hàng hóa. Chúng có thể được trao đổi, mua bán như những hàng hóa thông thường khác. Khái niệm “DN” cũng như khái niệm về “giá trị doanh nghiệp” là những khái niệm thuộc phạm trù của kinh tế thị trường. Và vì vậy, quan niệm về giá 2 trị, cũng như các tiêu chuẩn để nhận biết giá trị như đã nêu ở phần trên, hoàn toàn có thể sử dụng được để ĐGDN. Thứ ba: DN là một tổ chức, một đơn vị, một hệ thống và đồng thời cũng là một phần tử trong hệ thống lớn – nền kinh tế. Do đó, sự tồn tại của DN là ở mối quan hệ của nó với các phần tử khác của hệ thống, tức mối quan hệ với các đơn vị, thể nhân và pháp nhân kinh tế khác. Sự tồn tại của DN không chỉ được quyết định bởi các mối quan hệ bên trong DN mà còn bởi mối quan hệ với các yếu tố bên ngoài, như: Khách hàng, người cung cấp, người cho vay Sự phát triển của DN ở mức độ nào, là tùy thuộc vào mức độ bền chặt của các mối quan hệ đó với môi trường xung quanh, DN có đạt được mục tiêu lợi nhuận của mình hay không sẽ phụ thuộc có tính quyết định ở các mối quan hệ đó, chính vì vậy, sự đánh giá về DN đòi hỏi phải xem xét tất cả các mối quan hệ nói trên. Tức là, đánh giá về DN không chỉ đơn thuần bao gồm nội dung đánh giá về những tài sản trong DN mà điều quan trọng hơn là phải đánh giá nó về mặt tổ chức. Thứ tư: Các nhà đầu tư thành lập ra DN không nhằm vào việc sở hữu các tài sản cố định (TSCĐ), tài sản lưu động (TSLĐ) hay sở hữu một bộ máy kinh doanh năng động mà nhằm vào mục tiêu chủ yếu là tìm kiếm lợi nhuận, tìm kiếm thu nhập. Tiêu chuẩn để họ đánh giá hiệu quả hoạt động – lợi ích của DN đối với các nhà đầu tư ở các khoản thu nhập từ hoạt động SXKD. Vì vậy, tại các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, GTDN được xác định là các khoản thu nhập trong quá trình SXKD, độ lớn của GTDN. Theo đó, được đo bằng lượng thu nhập mà DN có thể mang lại cho các nhà đầu tư. Trong nền kinh tế thị trường, cũng như các hàng hóa khác, sự hoạt động của DN mang lại lợi ích cho nhà đầu tư. DN là một loại tài sản đặc biệt, lại như một cỗ máy sinh lời và có thể hợp nhất, sáp nhập, mua bán, chia tách Khi thực hiện các giao dịch này, giá cả và giá trị của loại hàng hóa DN cũng không nằm ngoài các quy luật giá trị, cung cầu và cạnh tranh. Theo từ điển của Oxford thì giá trị được định nghĩa là: : “Thước đo bằng hiện vật hoặc tiền tệ của một vật mà tại đó mới có thể được trao đổ hoặc giao dịch” ¾ Một số khái niệm về GTDN liên quan tới kế toán ĐGDN Giá trị doanh nghiệp theo sổ kế toán: Là tổng giá trị tài sản thể hiện trong 3 Bảng cân đối kế toán của DN theo chuẩn mực kế toán hiện hành. Giá trị thực tế của doanh nghiệp: (giá trị thị trường của DN) là tổng giá trị thực tế của tài sản (hữu hình và vô hình) thuộc quyền sở hữu của DN tính theo giá thị trường tại thời điểm xác định GTDN. Được xác định trên cơ sở kết quả kiểm kê, phân loại và đánh giá xác định giá trị thực tế của toàn bộ tài sản của DN theo giá thị trường tại thời điểm định giá. Giá trị hợp lý: Theo IFRS 13, "giá trị hợp lý là giá có thể nhận được khi bán tài sản hoặc phải trả khi chuyển giao một khoản công nợ trong một giao dịch bình thường giữa các bên tham gia thị trường tại ngày xác định giá trị giao dịch." Bản chất của GTHL là một phương pháp bổ sung cho giá gốc và tập trung vào việc định giá sau ghi nhận ban đầu trên cơ sở giá thị trường và các thông tin có được từ thị trường. Giá trị hợp lý còn được sử dụng cho đánh giá ban đầu của tài sản khi không có giá gốc ở một số trường hợp cụ thể. Giá trị hoạt động liên tục: Là giá trị của một DN, hay một lợi ích trong đó được xem xét theo giả thiết DN hoạt động liên tục. Giá trị phần vốn chủ sở hữu tại DN theo sổ kế toán: Là phần còn lại khi lấy GTDN theo sổ kế toán trừ đi các khoản nợ phải trả, số dư quỹ phúc lợi, khen thưởng và số dư nguồn kinh phí sự nghiệp (nếu có). Giá trị thực tế phần vốn chủ sở hữu tại DN: Là phần còn lại khi lấy tổng giá trị thực tế của DN trừ đi các khoản nợ thực tế phải trả và số dư nguồn kinh phí sự nghiệp (Nếu có). Trong đó, nợ thực tế phải trả là tổng giá trị các khoản nợ phải trả của DN trừ (-) các khoản nợ không phải thanh toán. Giá trị của DN để TCT DN: Là giá cả của DN khi được chuyển, bán cho chủ sở hữu khác, nó được xác định trên cơ sở giá trị thị trường và giữa giá trị xác định của DN và giá bán trên thị trường có thể xảy ra các trường hợp sau: - Giá trị của DN trên thị trường bằng với giá trị xác định. Điều này chứng tỏ DN được người đầu tư chấp nhận về mọi mặt vì DN phản ánh được mức độ đáp ứng của mình về mọi mặt trên thị trường. Đây là một trường hợp lý tưởng nhất đối với một DN khi định giá (điều này lại khó xảy ra trong thực tế). - Giá trị của DN trên thị trường lớn hơn giá trị xác định. Điều này chứng tỏ giá trị vô hình của DN lớn, có nhiều triển vọng trong tương lai, khả năng sinh lời cao nên 4 được nhiều nhà đầu tư quan tâm. Giá trị lợi thế thương mại (theo VAS 11-Lợi thế kinh doanh của DN): Là những lợi ích kinh tế trong tương lai phát sinh từ các tài sản không xác định được và không ghi nhận được một cách riêng biệt. - Theo IFRS 3 giá trị về lợi thế thương mại (Goodwill) thu được hoặc giảm trừ được yêu cầu ghi nhận kết quả lợi thế thương mại từ giao dịch Hợp nhất kinh doanh như là tài sản của bên bị mua. Sau khi ghi nhận ban đầu, lợi thế thương mại sẽ không được thực hiện vốn hóa đối với khoản lợi nhuận hoặc lỗ theo phương pháp đường thẳng hoặc phương pháp cơ bản khác. Nó sẽ ghi nhận bằng giá phí Hợp nhất kinh doanh trừ đi các khoản làm giảm lũy kế. Lợi thế thương mại sẽ được kiểm tra theo như quy định của IAS 36 - sửa chữa tài sản. Mặc dù ghi nhận một tài sản, nhưng lợi thế thương mại không nên được đánh giá lại. Lợi thế thương mại âm được sử dụng để phản ánh phần vượt quá phần tài sản thuần có thể xác định được trong giao dịch Hợp nhất kinh doanh (HNKD) thông qua quá trình chuyển giao và lợi ích không kiểm soát của bên mua. 1.1.1.2. Định giá doanh nghiệp. Định giá là "xác định giá trị bằng tiền tệ cho các đối tượng hoặc sự kiện liên quan đến DN"1. ĐGDN là quá trình xác định thước đo bằng tiền tệ của DN, thông qua định giá, giá trị của các đối tượng kế toán của DN được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ, xác định được giá trị tài sản, nguồn vốn cũng như kết quả hoạt động kinh doanh của DN. Đây là quá trình đánh giá nhằm đưa ra ý kiến về GTDN chứ không phải là việc tính toán các công thức toán học thuần túy, xác định GTDN là công việc chứa đựng nhiều ước tính chủ quan. Trên thực tế sẽ không thể có được một phương pháp định giá duy nhất đúng và có thể áp dụng trong mọi điều kiện, hoàn cảnh. ĐGDN luôn đòi hỏi phương pháp luận lô-gic và việc vận dụng phù hợp, thận trọng các nguyên lý định giá cơ bản và thông lệ chung. Việc XĐGT và mua bán một DN khác với việc XĐGT và mua bán các hàng hóa thông thường do trong số các yếu tố cấu thành giá trị và giá cả DN có nhiều yếu tố khác với các yếu tố cấu thành giá trị và giá cả các hàng hóa thông thường. GTDN bao gồm cả giá trị tài sản hữu hình và giá trị tài sản vô hình, cụ thể: Giá trị tài sản 1 Eldon S. Hendriksen, Accounting theory, xuất bản lần thứ tư, trang 75 5 hữu hình là giá trị những tài sản có hình thái vật chất do DN nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với tính chất ghi nhận Bảng cân đối kế toán (BCĐKT) của DN bao gồm giá trị thực tế của DN (toàn bộ tài sản của DN sử dụng cho HĐKD). Là những yếu tố tạo ra lợi nhuận của DN. Nguồn gốc của giá trị tài sản hữu hình là tài sản có tính vật chất của DN nên phần giá trị này có tính ổn định hơn so với phần giá trị tài sản vô hình. Giá trị tài sản vô hình là giá trị các tài sản có tác dụng làm tăng hiệu quả kinh tế trong hoạt động SXKD của DN, do đó làm gia tăng giá trị của DN như trình độ tổ chức quản lý: Trình độ chuyên môn kỹ năng của người lao động tại DN, vị trí địa lý, uy tín, thương hiệu và xu hướng phát triển của DN trong tương laiThực tiễn đã chứng minh, giá trị vô hình của DN là một đại lượng có thật, có thể xác định được, trong nhiều trường hợp nó có giá trị lớn, thậm chí lớn hơn rất nhiều so với giá trị hữu hình của DN. Theo số liệu của Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC), năm 1998 khoảng 50-90% giá trị của một công ty tạo ra (tùy thuộc vào từng loại hình công ty) là nhờ vào việc quản trị các tài sản vô hình. Do vậy, các tài sản hữu hình được tạo ra chiếm 10-50% giá trị của công ty. Hay như công ty Microsoft tại thời điểm năm 1996 tổng giá trị của công ty là 86 tỷ USD, trong đó toàn bộ giá trị những tài sản hữu hình (bao gồm bất động sản, máy móc, thiết bị) chỉ chiếm 1 tỷ USD, phần còn lại 85 tỷ USD là giá trị của những tài sản vô hình (điển hình là bản quyền của phần mềm hệ điều hành Windows). Như vậy, đối với công ty Micrsoft, toàn bộ giá trị của công ty phụ thuộc vào tên tuổi và sự tài giỏi trong việc khai thác và quản trị các tài sản vô hình, hơn là số tài sản hữu hình. Sự chênh lệch này sẽ tiếp tục tăng lên khi nền kinh tế tri thức ngày càng trở thành một thực tế khách quan. Nếu trong những năm 70 của thế kỷ XX tương quan giữa giá trị sổ sách (căn cứ vào Bảng cân đối tài sản) và giá trị thị trường (căn cứ vào giá cổ phiếu) của một công ty là 1/1, thì hiện nay tương quan đó lại là 1/6. Do giá trị tài sản vô hình chịu sự tác động trực tiếp của việc đánh giá trên thị trường nên giá trị tài sản vô hình của DN biến động thường xuyên hơn so với giá trị tài sản hữu hình. Chính vì thế thách thức đặt ra cho các DN là rất lớn nếu các DN không biết xây dựng một chiến lược để phát triển và quản trị tài sản vô hình, xây dựng thương hiệu thì sẽ phải đối mặt với rủi ro lớn trên thương trường. Điều này đã được thực tế của VN trong thời gian gần đây chứng minh rõ nét qua việc xuất khẩu nông sản, thủy sản 6 Đối với một DN khi XĐDN với bất cứ lý do nào đều được hiểu nếu tại thời điểm đó đem ra bán trên thị trường là việc chuyển giao toàn bộ tài sản hiện có với việc kế thừa các nguồn “nội lực” vốn có của DN, nên mục tiêu trọng tâm của XĐGTDN là XĐGT tương lai của DN mà các bên có quyền lợi đối với DN đều quan tâm (người bán, người mua DN, chủ nợ). Do vậy, trong nền kinh tế thị trường, việc mua bán DN giữa các nhà đầu tư với nhau được tuân thủ theo quan hệ thị trường, là chịu sự chi phối của các quy luật trên thị trường (quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh) TS của DN không chỉ được xem xét thuần túy dưới dạng các khối hiện vật hoặc một DN cụ thể mà được giá trị hóa trong thị trường. Để XĐGTDN, xét về mặt nguyên lý, chỉ có thể tồn tại 2 cách tiếp cận, đó là: Trực tiếp đánh giá giá trị của các tài sản trong DN và đánh giá giá trị của yếu tố tổ chức. Hoặc bằng một kỹ thuật nào đó để lượng hóa các khoản thu nhập mà DN có thể mang lại cho nhà đầu tư và về lượng GTDN được đo lường trên hai phương diện: Giá trị thị trường và giá trị kế toán. Vì vậy, một phương pháp XĐGTDN được gọi là cơ bản và khoa học, trước hết nó phải thuộc vào một trong hai cách tiếp cận nói trên. Như vậy: Định giá doanh nghiệp (ĐGDN) chính là gắn cho nó một giá trị mà một nhà đầu tư nào đó mua toàn bộ về mặt lý thuyết. Là giá trị lý thuyết phản ánh một giao dịch mua tiềm năng chứ không phải giá một giao dịch thực. Theo giáo sư W.Seabroke và N.Walker,viện đại học Portsmouth, vương quốc Anh: “Định giá được hiểu là sự ước tính về giá trị của các quyền sở hữu tài sản cụ thể bằng hình thái tiền tệ cho một mục đích đã được xác định rõ”.[38] Còn theo giáo sư Lim Lan Yuan, trường xây dựng và bất động sản, đại học quốc gia Singapore thì: “Định giá được quan niệm là một nghệ thuật hay khoa học về ước tính giá trị cho một mục đích cụ thể của một tài sản tại một thời điểm, có cân nhắc đến tất cả các đặc điểm của tài sản và cũng như xem xét đến tất cả các yếu tố kinh tế căn bản của thị trường bao gồm các loại đầu tư lựa chọn”. Vậy với các quan điểm trên ta có thể hiểu ĐGDN theo hai cách như sau: Thứ nhất, ĐGDN là sự ước tính về giá trị của các quyền sở hữu tài sản cụ thể bằng hình thái tiền tệ cho một mục đích đã được xác định rõ, đó là để đưa DN ra mua bán, hoặc để đầu tư vào DN 7 Thứ hai, ĐGDN là một nghệ thuật hay khoa học về ước tính giá trị cho một mục đích cụ thể của một DN tại một thời điểm đó là thời điểm định giá, mà có cân nhắc đến tất cả các đặc điểm của DN và cũng như xem xét đến tất cả các yếu tố kinh tế căn bản của thị trường. Quá trình XĐGTDN là tính toán, xác định sự thay đổi về mặt giá trị của DN tại một thời điểm nhất định. Thông thường đây cũng là quá trình ước tính các khoản tiền mà người mua có thể trả để họ có được DN, và ngược lại là sự ước tính khoản tiền thu được của người bán khi bán DN của mình. XĐGTDN là một hoạt động khoa học có tính tổng hợp và khả năng dự đoán cao, vì quá trình XĐGTDN không chỉ căn cứ vào các thông tin hiện có của DN mà còn phải dựa vào các thông tin khác như: Chiến lược phát triển kinh doanh của DN, cung cầu sản phẩm của DN trên thị trường, lợi thế kinh doanh (nếu có), trị giá các tài sản tương đương với tài sản của DN, nhu cầu mua sắm, bán loại hình DN đang định giá... Do đó, XĐGTDN là một quá trình phức tạp, có tính nghệ thuật và chuyên môn cao. Chính vì vậy đòi hỏi các chuyên gia XĐGTDN phải nắm chắc đươc kỹ thuật định giá, hiểu biết và tinh thông về thị trường và ngành nghề đặc biệt là khả năng dự đoán nghiệp vụ giỏi. Ngoài ra còn là cơ sở cho việc quyết định về quản trị kinh doanh, đưa ra các quyết định về đầu tư, tài trợ, quản lý kinh tế vĩ mô. Vì vậy, ĐGDN đem lại rất nhiều lợi ích cho các chủ thể như: Qui trình “Xác định giá trị doanh nghiệp” thể hiện khả năng tổng hợp, đánh giá, phân tích và khớp lại các dữ liệu quá quá khứ và triển vọng phát triển trong tương lai của DN trong một bản báo cáo chính xác và toàn diện và được thể hiện bằng việc xác định các điểm mạnh, điểm yếu và các giá trị cốt lõi của công ty. ĐGDN trở thành một công cụ hữu hiệu giúp công ty hiện thực hoá được cơ hội và gia tăng giá trị cho các cổ đông hoặc nhà đầu tư tương lai. Trong các trường hợp cần thiết, sẽ vạch ra các kế hoạch và các kiến nghị chuẩn bị cho các hoạt động tiền và hậu của Bản cáo bạch (IPO) tại thời điểm XĐGTDN. Qua kết quả của ĐGDN sẽ chỉ ra những thay đổi cần thiết về hệ thống tài chính, cơ cấu thành phần cổ đông hoặc cấu trúc DN bởi qui trình này sẽ tạo ra một diễn đàn mở để công ty có thể thảo luận một cách sâu rộng và xem xét xem những cơ cấu này có đồng nhất và có lợi cho tương lai của công ty hay không? Ngoài ra sẽ hỗ 8 trợ Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc đưa ra những quyết định khó khăn như các hoạt động bán hàng hoặc loại bỏ các hoạt động làm ăn không có lãi hoặc không mang tính mấu chốt, để tập trung vào những hoạt động mang lại giá trị cao và đưa ra những phân tích về hệ thống quản trị và điều hành công ty, đồng thời cung cấp những đánh giá về năng lực đối với một số các vị trí nhân lực chủ chốt. Một dự án “Xác định giá trị doanh nghiệp” toàn diện và thành công sẽ đem lại những hiệu quả tích cực do đội ngũ chuyên gia tư vấn sẽ phát hiện ra những khu vực làm ăn hiệu quả của công ty, từ đó sẽ đưa ra được những giải pháp phát huy tối đa hiệu quả điểm mạnh đó để gia tăng giá trị cho các cổ đông và chủ DN. ĐGDN là quá trình XĐGT thực tế của một DN tại một thời điểm nhất định trên cơ sở thị trường nhằm tạo lập cơ sở để các bên tham gia giao dịch mua bán DN. Đồng thời XĐGTDN là một hoạt động không thể thiếu được trong nền kinh tế thị trường. Đặc biệt trong quá trình đổi mới và sắp xếp lại DNNN ở Việt Nam, ĐGDN là cơ sở để kế toán căn cứ ghi nhận, xử lý kế toán hoàn thiện quá trình TCTDN. Có thể nói rằng, những khái niệm và quan niệm trên đây về GTDN và ĐGDN là một quan niệm hết sức cơ bản. Nó được coi là phương châm chi phối, xuyên suốt các phương pháp XĐGTDN sau này, là nền tảng cơ sở lý luận đối với tất cả các phương pháp ĐGDN trong nền kinh tế thị trường và là tiền đề cho kế toán ĐGDN. Dưới góc độ của đề tài, tác giả muốn nhấn mạnh việc ĐGDN là tiền đề cho mục đích TCT các DN. 1.1.2. Một số phương pháp định giá doanh nghiệp. Để tiến hành ĐGDN, các DN và tổ chức định giá cần phải sử dụng phương pháp ĐGDN phù hợp với mô hình kinh doanh của DN, việc lựa chọn phương pháp định giá có ảnh hưởng trực tiếp tới GTDN. Trong thực tế hiện nay trên thế giới có rất nhiều phương pháp ĐGDN được áp dụng phổ biến trên thế giới và cũng có thể phù hợp với thực tiễn TCT DNNN ở VN, việc xác định giá trị dựa trên 3 phương pháp, các phương pháp được tổng hợp và nhóm lại thành 3 nhóm phương pháp chính như: - Phương pháp tài sản; Phương pháp thu nhập; Phương pháp thị trường; Trong 3 phương pháp trên thì phương pháp mà các DN sử dụng rộng rãi đó là “Phương pháp thu nhập”. Phương pháp tài sản thường được sử dụng nhằm đánh giá giá trị thay thế tài sản của DN còn phương pháp giá thị trường còn được gọi là 9 phương pháp định giá so sánh. Phương pháp này đánh giá giá trị của DN so với các DN khác hoạt động trong cùng lĩnh vực hoặc nghành nghề kinh doanh. 1.1.2.1. Phương pháp tài sản Theo phương pháp này thì giá trị của một DN bằng tổng các giá trị của từng loại tài sản riêng biệt trừ đi các khoản nợ phải trả của DN đó trên cơ sở xác định giá trị của từng tài sản riêng biệt. Giá trị của một tài sản được xác định trên cơ sở xem xét các chi phí phải bỏ ra để có được một tài sản thay thế tương đương về năng lực sản xuất (Dòng tiền phải chi để mua, sản xuất tài sản). Phương pháp chi phí thường không xem xét điều kiện thị trường nên thường không được sử dụng trong thực tế, ngoại trừ để xác định GTHL của một phần máy móc thiết bị hoặc giá trị các công trình xây dựng cơ bản. Căn cứ để xác định GTDN là các chứng từ, sổ sách kế toán; BCTC của DN những năm gần nhất; báo cáo kiểm kê tài sản, vật tư hàng hóa, tiền vốn và biên bản đối chiếu công nợ 1.1.2.2. Phương pháp thu nhập Phương pháp thu nhập sử dụng nguyên tắc hoạt động liên tục và đánh giá mức độ thu hồi vốn đầu tư cùng với các rủi ro đầu tư liên quan. Phương pháp thu nhập bao gồm các phương pháp dùng lợi tức tương lai là
Luận văn liên quan