Luận văn Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách marketing - mix tại công ty TNHH thương mại dịch vụ và xuất nhập khẩu Nhất Việt

Việt Nam gia nhập WTO đã đang và sẽ tiếp tục tạo điều kiện và mở ra những cơ hội mới cho nền kinh tế nước nhà hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới, mở cánh cửa hội nhập cho Việt Nam ra thế giới cũng như mở rộng vòng tay chào đón các doanh nghiệp nước ngoài bước vào thị trường Việt Nam. Thống kê cho thấy ngày càng có nhiều doanh nghiệp nước ngoài mạnh dạn đầu tư và hoạt động trực tiếp tại Việt Nam, đặc biệt là tại các tỉnh thành có nền kinh tế trọng điểm, trong đó có thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương và Đồng Nai. Trong bối cảnh nền kinh tế - chính trị - xã hội ngày càng được củng cố mạnh mẽ, phát triển và tiến bộ hơn với các chính sách cải thiện và đơn giản hóa các quy định, thủ tục về hành chính, ngày càng có nhiều doanh nghiệp nước ngoài tham gia trực tiếp vào nền kinh tế Việt Nam. Với các chính sách về “tạm nhập, tái xuất”, các doanh nghiệp nước ngoài khi bước chân vào đất nước Việt Nam để tổ chức hoạt động kinh doanh theo đúng pháp luật Việt Nam hoàn toàn có thể tạm nhập những công cụ dụng cụ phục vụ cho nhu cầu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt là các phương tiện vận chuyển phục vu nhu cầu hoạt động của doanh nghiệp như xe ô tô các loại. Tuy nhiên, xét đến góc độ thuận tiện và hiệu quả kinh tế, nhằm tiết giảm chi phí và nhằm đạt được sự thuận tiện cao nhất trong công việc thì các doanh nghiệp nước ngoài, đặc biệt là các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ với lực lượng nhân sự không nhiều thường có xu hướng sử dụng dịch vụ cho thuê xe được cung cấp bởi chính các doanh nghiệp tại Việt Nam. Đứng trước cơ hội đó, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã nhanh chóng nắm bắt thời cơ nhằm đáp ứng nhu cầu về dịch vụ thuê xe này của khách hàng và như vậy Công ty TNHH TM DV & XNK Nhất Việt đã ra đời, phục vụ chủ yếu cho nhu cầu thuê xe ô tô của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đang hoạt động tại thành phố Hồ Chí Minh và các vùng lân cận. Qua thời gian làm việc, tìm hiểu về hoạt động kinh doanh của Công ty Nhất Việt, tôi nhận thấy hoạt động kinh doanh dịch vụ cho thuê xe ô tô của Công ty là rất cần thiết đối với nhu cầu của khách hàng, của các doanh nghiệp nói chung và của các doanh nghiệp nước ngoài tại thành phố Hồ Chí Minh là rất lớn. Để có thể hiểu sâu hơn về hoạt động kinh doanh dịch vụ cho thuê xe ô tô của Công ty Nhất Việt, em xin được chọn đề tài “ Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách marketing – mix ở công ty TNHH TM DV XNK NHẤT VIỆT ” làm đề tài cho bài luận văn tốt nghiệp của mình. Bằng những kiến thức mà em đã tiếp thu trong quá trình học tập tại trường Đại học kỹ thuật Công nghệ TP.HCM cùng với những kiến thức thực tế khi làm việc tại Công ty Nhất Việt, em xin được đi vào phân tích hiện trạng của hoạt động marketing dịch vụ cho thuê xe ô tô - những hiệu quả đạt được từ hoạt động marketing dịch vụ của Công ty Nhất Việt và đưa ra những giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ của Công ty Nhất Việt. Để hoàn thành bài luận văn này, em xin chân thành cảm ơn các anh, chị làm việc tại Công ty Nhất Việt, đặc biệt là các anh, chị Bộ phận Điều hành xe, Bộ phận Kinh Doanh và Bộ phận Tài Chính - Kế Toán của công ty đã tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ em rất nhiều trong quá trình thực tập và hoàn thiện bài luận văn này. Bên cạnh đó, em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Cô Nguyễn thị Lệ Hằng đã trực tiếp tận tình hướng dẫn em trong suốt thời gian làm bài luận văn này. -Mụch đích nghiên cứu Trên cơ sở nhận thức tổng hợp, lý luận chuyên ngành marketing dịch vụ và các thông tin thực tế, bài viết sẽ phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động marketing và việc tổ chức, thực hiện marketing – mix cuả công ty nhằm đưa ra các giải pháp cụ thể hoàn thiện các chính sách đó góp phần thúc đẩy công ty kinh doanh ngày càng pháp triển hơn. -Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Bài viết đi sâu vào nghiên cứu hoạt động marketing, đặc biệt là tổ chức, chính sách hoạt động marketing - mix ở công ty trong thời gian qua. Trên cơ sở hệ thống lý luận về marketing hỗn hợp trong kinh doanh dịch vụ nhằm đánh giá được cơ hội và thách thức trong kinh doanh, cũng như đánh giá ưu nhược điểm của công ty. Trên cơ sở đó đề ra những giải pháp hoàn thiện các chính sách marketing hỗn hợp cho công ty trong thời gian tới . -Phương pháp nghiên cứu Trong quá trình thực hiện đề tài này, em đã tìm hiểu lý thuyết và thực tế quá trình tổ chức, hoạt động marketing – mix của Cty Nhất Việt. Đồng thời kết hợp với các phương pháp phân tích kinh tế, phân tích có sử dụng thêm hình ảnh và sơ đồ dựa trên các số liệu hoạt động kinh doanh của Cty . Kết cấu của luận văn bao gồm 3 chương Chương 1: Cơ sở lý luận TỔNG QUAN VỀ MARKETING DỊCH VỤ VÀ THỊ TRƯỜNG KINH DOANH DICH VỤ . Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI CÁC CÔNG CỤ MARKETING – MIX CỦA CÔNG TY TNHH TM DV XNK NHẤT VIỆT. Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC CÔNG CỤ MARKETING – MIX TẠI CÔNG TY TNHH TM DV XNK NHẤT VIỆT

doc62 trang | Chia sẻ: tuandn | Ngày: 23/02/2013 | Lượt xem: 2009 | Lượt tải: 18download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách marketing - mix tại công ty TNHH thương mại dịch vụ và xuất nhập khẩu Nhất Việt, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI MỞ ĐẦU Việt Nam gia nhập WTO đã đang và sẽ tiếp tục tạo điều kiện và mở ra những cơ hội mới cho nền kinh tế nước nhà hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới, mở cánh cửa hội nhập cho Việt Nam ra thế giới cũng như mở rộng vòng tay chào đón các doanh nghiệp nước ngoài bước vào thị trường Việt Nam. Thống kê cho thấy ngày càng có nhiều doanh nghiệp nước ngoài mạnh dạn đầu tư và hoạt động trực tiếp tại Việt Nam, đặc biệt là tại các tỉnh thành có nền kinh tế trọng điểm, trong đó có thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương và Đồng Nai. Trong bối cảnh nền kinh tế - chính trị - xã hội ngày càng được củng cố mạnh mẽ, phát triển và tiến bộ hơn với các chính sách cải thiện và đơn giản hóa các quy định, thủ tục về hành chính, ngày càng có nhiều doanh nghiệp nước ngoài tham gia trực tiếp vào nền kinh tế Việt Nam. Với các chính sách về “tạm nhập, tái xuất”, các doanh nghiệp nước ngoài khi bước chân vào đất nước Việt Nam để tổ chức hoạt động kinh doanh theo đúng pháp luật Việt Nam hoàn toàn có thể tạm nhập những công cụ dụng cụ phục vụ cho nhu cầu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt là các phương tiện vận chuyển phục vu nhu cầu hoạt động của doanh nghiệp như xe ô tô các loại. Tuy nhiên, xét đến góc độ thuận tiện và hiệu quả kinh tế, nhằm tiết giảm chi phí và nhằm đạt được sự thuận tiện cao nhất trong công việc thì các doanh nghiệp nước ngoài, đặc biệt là các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ với lực lượng nhân sự không nhiều thường có xu hướng sử dụng dịch vụ cho thuê xe được cung cấp bởi chính các doanh nghiệp tại Việt Nam. Đứng trước cơ hội đó, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã nhanh chóng nắm bắt thời cơ nhằm đáp ứng nhu cầu về dịch vụ thuê xe này của khách hàng và như vậy Công ty TNHH TM DV & XNK Nhất Việt đã ra đời, phục vụ chủ yếu cho nhu cầu thuê xe ô tô của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đang hoạt động tại thành phố Hồ Chí Minh và các vùng lân cận. Qua thời gian làm việc, tìm hiểu về hoạt động kinh doanh của Công ty Nhất Việt, tôi nhận thấy hoạt động kinh doanh dịch vụ cho thuê xe ô tô của Công ty là rất cần thiết đối với nhu cầu của khách hàng, của các doanh nghiệp nói chung và của các doanh nghiệp nước ngoài tại thành phố Hồ Chí Minh là rất lớn. Để có thể hiểu sâu hơn về hoạt động kinh doanh dịch vụ cho thuê xe ô tô của Công ty Nhất Việt, em xin được chọn đề tài “ Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách marketing – mix ở công ty TNHH TM DV XNK NHẤT VIỆT ” làm đề tài cho bài luận văn tốt nghiệp của mình. Bằng những kiến thức mà em đã tiếp thu trong quá trình học tập tại trường Đại học kỹ thuật Công nghệ TP.HCM cùng với những kiến thức thực tế khi làm việc tại Công ty Nhất Việt, em xin được đi vào phân tích hiện trạng của hoạt động marketing dịch vụ cho thuê xe ô tô - những hiệu quả đạt được từ hoạt động marketing dịch vụ của Công ty Nhất Việt và đưa ra những giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ của Công ty Nhất Việt. Để hoàn thành bài luận văn này, em xin chân thành cảm ơn các anh, chị làm việc tại Công ty Nhất Việt, đặc biệt là các anh, chị Bộ phận Điều hành xe, Bộ phận Kinh Doanh và Bộ phận Tài Chính - Kế Toán của công ty đã tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ em rất nhiều trong quá trình thực tập và hoàn thiện bài luận văn này. Bên cạnh đó, em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Cô Nguyễn thị Lệ Hằng đã trực tiếp tận tình hướng dẫn em trong suốt thời gian làm bài luận văn này. -Mụch đích nghiên cứu Trên cơ sở nhận thức tổng hợp, lý luận chuyên ngành marketing dịch vụ và các thông tin thực tế, bài viết sẽ phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động marketing và việc tổ chức, thực hiện marketing – mix cuả công ty nhằm đưa ra các giải pháp cụ thể hoàn thiện các chính sách đó góp phần thúc đẩy công ty kinh doanh ngày càng pháp triển hơn. -Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Bài viết đi sâu vào nghiên cứu hoạt động marketing, đặc biệt là tổ chức, chính sách hoạt động marketing - mix ở công ty trong thời gian qua. Trên cơ sở hệ thống lý luận về marketing hỗn hợp trong kinh doanh dịch vụ nhằm đánh giá được cơ hội và thách thức trong kinh doanh, cũng như đánh giá ưu nhược điểm của công ty. Trên cơ sở đó đề ra những giải pháp hoàn thiện các chính sách marketing hỗn hợp cho công ty trong thời gian tới . -Phương pháp nghiên cứu Trong quá trình thực hiện đề tài này, em đã tìm hiểu lý thuyết và thực tế quá trình tổ chức, hoạt động marketing – mix của Cty Nhất Việt. Đồng thời kết hợp với các phương pháp phân tích kinh tế, phân tích có sử dụng thêm hình ảnh và sơ đồ dựa trên các số liệu hoạt động kinh doanh của Cty . Kết cấu của luận văn bao gồm 3 chương Chương 1: Cơ sở lý luận TỔNG QUAN VỀ MARKETING DỊCH VỤ VÀ THỊ TRƯỜNG KINH DOANH DICH VỤ . Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI CÁC CÔNG CỤ MARKETING – MIX CỦA CÔNG TY TNHH TM DV XNK NHẤT VIỆT. Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC CÔNG CỤ MARKETING – MIX TẠI CÔNG TY TNHH TM DV XNK NHẤT VIỆT CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.TỔNG QUAN VỀ MARKETING DỊCH VỤ VÀ THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ 1.1 TỔNG QUAN VỀ MARKETING DỊCH VỤ Dịch vụ đã có từ lâu và giữ một vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội. Kinh tế càng phát triển dịch vụ càng giữ vị trí quan trọng. ở các nước phát triển dịch vụ ngày càng mang lại thu nhập cao và chiếm đại bộ phận trong cơ cấu GDP, Việt Nam, những năm gần đây từ khi gia nhập WTO các ngành dịch vụ phát triển rất nhanh chóng, chiếm khoảng xấp sỉ 40% trong cơ cấu GDP. Để hoạt động kinh doanh dịch vụ tốt trên thị trường trong và ngoài nước, chúng ta cần phải nghiên cứu để có nhận thức thấu đáo, sâu sắc về bản chất dịch vụ và marketing dịch vụ. 1.1.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN Khái niệm dịch vụ: Dịch vụ là những hoạt động và kết quả mà một bên (người bán) có thể cung cấp cho bên kia (người mua) và chủ yếu là vô hình không mang tính sở hữu. Dịch vụ có thể gắn liền hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất.     Marketing dịch vụ: Marketing dịch vụ là sự thích nghi lý thuyết hệ thống vào thị trường dịch vụ, bao gồm quá trình thu nhận, tìm hiểu, đánh giá và thỏa mãn nhu cầu của thị trường phát triển bằng hệ thống các chính sách, các biện pháp tác động vào toàn bộ quá trình tổ chức sản xuất, cung ứng và tiêu dùng dịch vụ thông qua phân bố các nguồn lực của tổ chức. Marketing được duy trì trong sự năng động qua lại giữa sản phẩm dịch vụ và nhu cầu của người tiêu dùng và những hoạt động của đối thủ cạnh tranh trên nền tảng cân bằng lợi ích giữa doanh nghiệp,người tiêu dùng và xã hội. Các vấn đề cơ bản của marketing dịch vụ đó là Nghiên cứu nhu cầu, đặc điểm nhu cầu của thị trường mục tiêu và những yếu tố chi phối thị trường mục tiêu. Thỏa mãn nhu cầu có hiệu quả hơn các đối thủ cạnh tranh trên cơ sở khai thác và huy động tất cả các nguồn lực của tổ chức. Thực hiện cân bằng động các mối quan hệ sản phẩm dịch vụ (loại hình, số lượng, chất lượng) với sự thay đổi nhu cầu của khách hàng. Cân bằng ba lợi ích: lợi ích của doanh nghiệp, của người tiêu dùng và của xã hội trong sự phát triển bền vững. 1.1.2 Đặc điểm của marketing dịch vụ Như vậy chúng ta đã biết, dịch vụ là một hàng hóa đặc biệt, nó có những nét nổi bật riêng mà hàng hóa hữu hình không có. Dịch vụ có các đặc điểm nổi bật đó là. Dịch vụ có đặc tính không hiện hữu Đây là đặc điểm cơ bản của dịch vụ. Với đặc điểm này cho thấy dịch vụ là vô hình, không tồn tại dưới dạng vật thể. Tuy vậy sản phẩm dịch vụ vẫn mang nặng tính vật chất. Dịch vụ có tính không đồng nhất: Sản phẩm dịch vụ không tiêu chuẩn hóa được. Trước hết do hoạt động cung ứng, các nhân viên cung cấp không thể tạo ra được các dịch vụ như nhau trong những thời gian làm việc khác nhau. Hơn nữa khách hàng tiêu dùng là người quyết định chất lượng dịch vụ dựa vào những cảm nhận của họ trong những thời gian khác nhau, sự cảm nhận cũng khác nhau, những khách hàng khác nhau có sự cảm nhận khác nhau. Sản phẩm dịch vụ có giá trị khi thỏa mãn nhu cầu riêng biệt của khách hàng. Dịch vụ vô hình ở đầu ra nên không thể đo lường và quy chuẩn được. Dịch vụ có đặc tính không tách rời: Sản phẩm dịch vụ gắn liền với hoạt động cung cấp dịch vụ. Các sản phẩm dịch vụ có thể là không đồng nhất mang tính hệ thống, đều từ cấu trúc của dịch vụ cơ bản phát triển thành. Quá trình sản xuất gắn liền với tiêu dùng dịch vụ. Người tiêu dùng cũng tham gia hoạt động sản xuất cung cấp dịch vụ cho mình. Như vậy việc sản xuất dịch vụ phải thận trọng, phải có khách hàng, có nhu cầu thì quá trình sản xuất mới có thể tiến hành được. Sản phẩm dịch vụ mau hỏng: Dịch vụ không thể tồn kho, không cất trữ và không thể vận chuyển từ khu vực này tới khu vực khác. Do vậy việc tiêu dùng dịch vụ bị hạn chế bởi thời gian. Cũng từ đặc điểm này mà làm mất cân bằng cân đối quan hệ cung cầu cục bộ giữa thời điểm khác nhau trong cùng một thời gian. Với những đặc điểm rất khác biệt của dịch vụ so với hàng hóa hữu hình đã quy định những đặc điểm khác biệt của marketing dịch vụ. Phạm vi hoạt động của marketing dịch vụ rộng lớn hơn nhiều so với marketing hàng hóa hữu hình. Marketing dịch vụ đòi hỏi sự đổi mới, mở rộng giới hạn trong các suy nghĩ và phương thức hoạt động của marketing. Marketing dịch vụ nhất thiết phải để cập đến những nguyên lý mới, những nguyên lý, công cụ để quản lý các ý tưởng mới với một cấu trúc tổ chức marketing mới. 1.2 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ 1.2.1 Thị trường hoạt động marketing dịch vụ Chúng ta cần phải mở rộng quan niệm thị trường trong marketing dịch vụ để có được phương pháp nghiên cứu đúng đắn mang lại hiệu quả và có những chính sách, giải pháp marketing thích hợp. Ta thấy rằng các thị trường có mối quan hệ hữu cơ với nhau đòi hỏi phải thiết lập các mối quan hệ nhằm thực hiện tốt việc triển khai thực hiện tốt các chương trình dịch vụ của doanh nghiệp thông qua marketing bao gồm . Thị trường khách hàng: Doanh nghiệp trước hết phải tập trung marketing vào thị trường khách hàng dịch vụ. Đó là nhu cầu của người mua đối với loại sản phẩm dịch vụ nào đó. Đó là việc xây dựng các mối quan hệ lâu dài với khách hàng và thu hút khách hàng mới. Thông qua marketing giao dịch hoặc marketing quan hệ.Marketing giao dịch thường tập trung vào lực lượng bán, mở rộng nhận thức, khái niệm dịch vụ trong khách hàng, quan tâm tới tiêu thụ trong thời hạn ngắn, nhấn mạnh vào dịch vụ khách hàng và cam kết có giới hạn với khách hàng, chất lượng dịch vụ được coi trọng hàng đầu. Thị trường chuyển giao: Xuất hiện giữa các bộ phận của doanh nghiệp trước khi dịch vụ đến các khách hàng của mình. Thị trường này được hình thành từ nội tại giữa các dịch vụ thành phần, các dịch vụ phụ của hệ thống quá trình dịch vụ do nhiều thành viên tham gia cung ứng. Nó phụ thuộc vào nhau, cung cấp dịch vụ cho nhau và cho khách hàng. Sự trung thành và thỏa mãn của họ là rất quan trọng. Không phải chỉ khách hàng mới là nguồn của sự chuyển giao. Do vậy thị trường chuyển giao còn gọi là thị trường trung gian, thị trường tổ chức. Thị trường cung cấp: Thị trường này ngày càng tăng, có nhiều biến đổi và trở nên rất quan trọng với các dịch vụ và sản phẩm hữu hình. Hoạt động quan trọng của marketing trên thị trường này là tổ chức cung cấp nguồn lực. Đó là việc hình thành một số trung gian quan trọng, phát triển các mối quan hệ với những nguồn lực cả hiện tại và tương lai. Triển khai kế hoạch marketing để phối hợp nguồn lực cho các thị trường động thời các doanh nghiệp phải có kế hoạch phát triển nguồn lực thị trường cơ bản phải đạt tới là hợp tác chặt chẽ lâu dài,giữa các doanh nghiệp và nhà cung cấp. Thị trường tuyển dụng: Nguồn lao động có năng lực luôn cần thiết và bức xúc trong chuyển giao dịch vụ. Thị trường tuyển dụng chịu sự chi phối của nhiều yếu tố. Quan hệ cung cầu trong thị trường này diễn ra rất phức tạp và biến động. Do yêu cầu chất lượng dịch vụ cao,nhu cầu lại năng động nên đòi hỏi lao động vừa có kỹ năng chuyên sâu cao, vừa đa dạng hóa ở một số ngành. Cần nghiên cứu kỹ quan hệ cung cầu trong từng thời kỳ mà có chiến lược marketing khai thác hoặc làm giàu nguồn tài nguyên lao động. Thị trường uy lực: Đây là thị trường thích hợp cho marketing quan hệ bằng các giải pháp,chiến lược marketing, các doanh nghiệp dịch vụ tập trung nguồn lực thiết lập các mối quan hệ của mình với các nhóm uy lực của thị trường dịch vụ nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các tập đoàn uy lực trên thị trường bao gồm:Tập đoàn tài chính – ngân hàng.Những tập đoàn kinh tế có thế lực và uy tín.Các lực lượng chính trị. Các lực lượng thị trường Thị trường bên trong: Đó là thị trường nội bộ trong công ty, bao gồm toàn bộ công nhân viên chức, nhà cung cấp và khách hàng nội bộ. Họ cũng có những nhu cầu được thỏa mãn và chỉ khi nào nhu cầu được thỏa mãn tốt thì nhu cầu mới được giải phóng và phát huy hết khả năng trí tụê, sáng tạo của mình đó một cách tốt nhất. 1.2.2 Mô hình quá trình marketing dịch vụ Muốn bắt đầu hoạt động sản xuất vật chất,kinh doanh nhà quản trị marketing cần phải vạch ra một kế hoạch và một quy trình cụ thể.Quy trình đó bao gồm những bước sau: Nghiên cứu thị trường dịch vụ: Nghiên cứu thị trường là một quá trình thu thập ghi chép và phân tích một cách có hệ thống các dữ liệu để cung cấp thông tin có ích cho các nhà quản trị marketing ra quyết định. Hoạch định chiến lược marketing dịch vụ: Sau khi đã nghiên cứu thị trường, công ty có thể lựa chọn cho mình một chiến lược phù hợp nhất. Theo Michelk porter có ba chiến lược chủ đạo là: Chiến lược đầu tư về chi phí. Tức là doanh nghiệp tìm cách để sản xuất và cung cấp cho thị trường dịch vụ với giá thấp nhất trên thị trường. Thông thường chiến lược này được áp dụng ở nhiều thị trường có tốc độ phát triển cao và thường có hiệu quả nhất ở các giai đoạn đầu của chu kỳ sống. Chiến lược khác biệt hóa: Công ty cố găng taọ ra những sản phẩm hoặc dịch vụ đặc điểm, tính năng mà khách hàng tiêu dùng nhận biết được đó là sản phẩm khác với những sản phẩm khác,cty khác. Chiến lược tập trung: Đây thực sự là trường hợp đặc biệt của chiến lược khác biệt. Với chiến lược này công ty nên tập trung vào một số đoạn thị trường nhất đinh, phân đoạn sản phẩm hoặc khu vực địa lý nhất định. Quản trị nỗ lực marketing Trong điều kiện toàn cầu hóa cạnh tranh trên thị trường rất khốc liệt, đòi hỏi các doanh nghiệp phải có những nỗ lực hết mình vào trong sản xuất kinh doanh nhất là hoạt động marketing. Quản trị marketing chủ yếu xoay quanh các chính sách marketing – mix. Đó là sản phẩm, giá cả, phân phối, cổ động, con người, quá trình dịch vụ, dịch vụ khách hàng 1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MARKETING DỊCH VỤ 1.3.1 Môi trường vĩ mô Môi trường vĩ mô là những lực lượng trên bình diện xã hội rộng lớn hơn, có ảnh hưởng đến môi trường vi mô, như các yếu tố nhân khẩu, kinh tế, tự nhiên, kỹ thuật, chính trị và văn hóa. Môi trường nhân khẩu Lực lượng đầu tiên của môi trường cần theo dõi là dân số, bởi vì con người tạo nên thị trường. Những người làm Marketing quan tâm sâu sắc đến quy mô và tỷ lệ tăng dân số ở các thành phố, khu vực và quốc gia khác nhau, sự phân bố tuổi tác và cơ cấu dân tộc, trình độ học vấn, mẫu hình hộ gia đình, cũng như các đặc điểm và phong trào của khu vực. Môi trường kinh tế Bao gồm các nhân tố tác động đến sức mua khách hàng.Thị trường cần có sức mua và cũng như người mua. Sức mua hiện có trong một nền kinh tế phụ thuộc vào thu nhập hiện có, giá cả, lượng tiền tiết kiệm, nợ nần và khả năng có thể vay tiền. Những người làm Marketing phải theo dõi chặt chẽ những xu hướng chủ yếu trong thu nhập và các kiểu chi tiêu của người tiêu dùng. Môi trường tự nhiên Trong những năm thập niên 90 điều kiện của môi trường tự nhiên ngày càng xấu đi thảm họa thiên nhiên ngày càng tăng đã trở thành một trong những thách thức quan trọng đặt ra trước các doanh nghiệp và công chúng. Ở nhiều thành phố trên thế giới tình trạng ô nhiễm không khí và nước đã đạt tới mức độ nguy hiểm. Những người làm Marketing cần nhạy bén với những mối đe dọa và cơ hội gắn liền với môi trường tự nhiên. Môi trường công nghệ Một lực lượng quan trọng nhất, định hình cuộc sống của con người là công nghệ. Công nghệ đã tạo ra những điều kỳ diệu như penicillin, mổ tim mở, và thuốc tránh thai. Nó cũng đã gây ra những nỗi kinh hoàng như bom khinh khí, khí độc đối với hệ thần kinh và vũ khí ngày càng tinh vi. Nó đã đem lại cho ta những thứ vừa lợi vừa hại, ví dụ như phân bón vừa là sản phẩm có ích nhưng cũng vừa là nguyên liệu để chế tạo bom, tên lửa phương tiện mở cánh cửa vũ trụ bao la cho nhân loại cũng là thứ vũ khí giết người hàng loạt kinh khủng nhất ,trò chơi video vừa là phương tiện giải trí nhưng cũng là phương tiện huấn luyện chiến tranh cho binh sĩ ..v..v đối với công nghệ tuỳ thuộc vào chỗ người đó nghĩ nhiều đễn những điều kỳ diệu hay những điều kinh hoàng mà nó đem lại. Môi trường chính trị và pháp luật Những quyết định Marketing chịu tác động mạnh mẽ của những diễn biến trong môi trường chính trị. Môi trường này gồm có luật pháp, các cơ quan nhà nước và những nhóm gây sức ép có ảnh hưởng và hạn chế các tổ chức và cá nhân khác nhau trong xã hội. Hiện nay có khá nhiều đạo luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh, gây cản trở đến hoạt động kinh doanh. Luật kinh doanh có một số mục đích. Thứ nhất là bảo vệ các công ty trong quan hệ với nhau,thứ hai là bảo vệ tiêu dùng trước tình trạng gian lận trong kinh doanh,thứ ba bảo vệ lợi ích của xã hội chống lại những hành vi bừa bãi trong kinh doanh. Mục đích chính của những đạo luật mới hay việc cưỡng chế thi hành là nhằm buộc các doanh nghiệp phải gánh vác những chi phí xã hội do quá trình sản xuất hay sản phẩm của họ gây ra. Nói chung, các công ty đều xây dựng những thủ tục xem xét tính hợp pháp và ban hành những tiêu chuẩn đạo đức để hướng dẫn những nhà quản trị Marketing của mình. Môi trường văn hóa Xã hội mà con người lớn lên trong đó đã định hình niềm tin cơ bản, giá trị và các chuẩn mực của họ. Con người hấp thụ, hầu như một cách không có ý thức, một thế giới quan xác định mối quan hệ của họ với chính bản thân mình, với người khác, với tự nhiên và với vũ trụ. Phải đặc biệt chú ý những giá trị văn hóa cốt lõi bền vững,những người sống trong một xã hội cụ thể có rất nhiều niềm tin và ý thức gìn giữ những giá trị văn hóa cốt lõi có khuynh hướng tồn tại lâu bền. Những niềm tin và giá trị cốt lõi được truyền từ bố mẹ sang con cái và được các định chế xã hội, như nhà trường, nhà thờ, doanh nghiệp, nhà nước, củng cố thêm. 1.3.2 Môi trường vi mô Doanh nghiệp Phân tích doanh nghiệp với tư cách là một tác nhân của môi trường vi mô, nhà quản trị marketing sẽ xem xét vai trò của bộ phận marketing trong doanh nghiệp, mối quan hệ và tác động hỗ trợ của các bộ phận sản xuất,tài chính ,nhân sự đối với bộ phận marketing. Bộ phận marketing của doanh nghiệp có trách nhiệm hoạch định và triển khai các chiến lược ,các kế hoạch chính sách ,các chương trình marketing thông qua các hoạt động như nghiên cứu marketing,quản trị nhãn hiệu ,quản trị lực lượng bán Ngoài ra cần phải đánh giá khả năng marketing ,những điểm mạnh điểm yếu của hoạt động marketing của doanh nghiệp so với đố thủ cạnh tranh để lựa chọn chiến lược cạnh tranh và thiết kế các chính sách marketing cho phù hợp Những người cung ứng Những người cung ứng là những công ty kinh doanh và những người cá thể cung cấp cho công ty và các đối thủ cạnh tranh và các nguồn vật tư cần thiết để sản xuất ra những mặt hàng cụ thể hay dịch vụ nhất định. Ví dụ, để sản xuất xe hơi, công ty này phải mua thép, nhôm, vỏ xe,các linh kiện điện,điện tử, đệm và các vật tư khác. Ngoài ra, công ty còn phải mua sức lao động, thiết bị, nhiên liệu, điện năng, máy tính… cần thiết để cho nó hoạt động. Những sự kiện xảy ra trong môi trường “người cung ứng” có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động marketing của công ty. Những người quản trị marketing phải chú ý theo dõi giá cả các mặt hàng cung ứng, bởi vì việc tăng giá các vật tư mua về có thể buộc phải nâng giá xe. Những người trung gian marketing Nh

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docLUAN VAN188455.doc
  • docDANH MUC VIET TAT.doc
  • docDANH MUC CAC BANG.doc
  • docLICMON~1.DOC
  • docLOI NHAN XET.doc
  • docMUC LUC.doc
  • docNHNXÉT~1.DOC
  • docTRANG BIA.doc
Luận văn liên quan