Luận văn Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với đạo Công giáo trên địa bàn tỉnh Ninh Bình

1. Lý do chọn đề tài Tôn giáo là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử. Nó xuất hiện từ khi có xã loài người, trong tương lai tôn giáo vẫn tiếp tục phát triển và sẽ còn tồn tại lâu dài. Trong quá trình tồn tại và phát triển, tôn giáo không chỉ liên quan đến tư tưởng, tình cảm, đạo đức, văn hóa, mà còn là vấn đề chính trị – xã hội nhạy cảm, có liên quan chặt chẽ đến con người, gia đình, dân tộc, giai cấp. Do vậy, tìm hiểu tín ngưỡng, tôn giáo không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa chính trị xã hội sâu sắc. Nước ta là một quốc gia đa tôn giáo, các tôn giáo cùng tồn tại và chung sống bên nhau một cách hoà bình, hữu hảo và cùng với tín ngưỡng dân gian đã tạo nên những nét văn hoá rất riêng của người Việt. Tuy nhiên, hoạt động tôn giáo ở nước ta hiện nay, có lúc, có nơi còn bị lợi dụng để hoạt động chính trị của. Vì vậy Đảng và Nhà nước ta luôn xác định công tác tôn giáo là vấn đề chiến lược có ý nghĩa quan trọng. Đặc biệt, trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay tôn giáo đang là vấn đề lớn liên quan đến chính sách đối nội, đối ngoại của Đảng và Nhà nước thu hút sự quan tâm của các cấp, các ngành, của cả hệ thống chính trị. Đạo Công giáo là một trong 6 tôn giáo lớn ở Việt Nam, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, hệ thống thứ bậc rõ ràng. Từ khi được truyền vào Việt Nam đến nay đạo Công giáo đã không ngừng phát triển cả về tín đồ, chức sắc, chức việc, về các dòng tu Do sự tác động, chi phối rất lớn của đạo Công giáo nên các thế lực phản động thường triệt để lợi dụng tôn giáo nói chung, đạo Công giáo nói riêng để thực hiện âm mưu của chúng đối với các quốc gia, dân tộc. Khi xâm lược vào nước ta thực dân Pháp và sau này là đế quốc Mỹ đã tìm mọi cách khai thác lợi dụng đạo Công giáo để phục vụ cho những mưu đồ chính trị của họ. Ninh Bình là tỉnh có khá đông đồng bào theo đạo Công giáo (chiếm 16,1% dân số), trên địa bàn có Toà giám mục Phát Diệm, là một trung tâm Công giáo lớn của cả nước, được Toà thánh Vatican đặc biệt chú trọng và coi Phát Diệm là “thủ đô Công giáo của Việt Nam” Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Toà giám mục Phát Diệm được coi là trung tâm tập hợp các lực lượng phản động đội lốt tôn giáo để chống phá cách mạng. Chúng đã lập ra khu “Công giáo Phát Diệm tự trị”, biến các nhà thờ thành đồn bốt để càn quét, bắt giữ cán bộ Hiện nay, thực hiện chính sách tự do tín ngưỡng tôn giáo và tự do không tín ngưỡng tôn giáo của Nhà nước, hoạt động của đạo Công giáo ở Ninh Bình có những thay đổi mạnh mẽ về phương thức hoạt động, cả về số lượng tín đồ và chức sắc, chức việc tôn giáo, tập trung sửa chữa nâng cấp các cơ sở tôn giáo Tình hình quản lý Nhà nước về đạo Công giáo của tỉnh Ninh Bình trong những năm qua đã đạt được nhiều kết quả, góp phần quan trọng trong việc ổn định chính trị và phát triển địa phương. Tuy nhiên, trên lĩnh vực quản lý này vẫn còn những hạn chế nhất định. Chẳng hạn, một số cấp uỷ, chính quyền địa phương có thái độ chủ quan, nóng vội trong giải quyết các vấn đề liên quan đến tôn giáo; có nơi lại hữu khuynh, thụ động, buông lỏng quản lý, đơn giản trong việc giải quyết, không kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tôn giáo, gắn với vấn đề dân tộc gây “điểm nóng” để bên ngoài lợi dụng, kích động xuyên tạc, vu cáo Đảng và Nhà nước ta vi phạm nhân quyền và tự do tôn giáo. Từ những lý do nêu trên tác giả chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối với đạo Công giáo trên địa bàn tỉnh Ninh Bình” cho bài luận văn tốt nghiệp của mình. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu. - Mục đích: Trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo; khảo sát đánh giá đặc điểm, thực trạng hoạt động của đạo Công giáo trên địa bàn tỉnh Ninh Bình; đánh giá thực trạng công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động của đạo Công giáo trên địa bàn tỉnh; từ đó đề ra phương hướng, giải pháp và các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động của đạo Công giáo trên địa bàn tỉnh theo các quy định của pháp luật, góp phần giữ vững ổn định chính trị xã hội của địa phương. - Nhiệm vụ: + Khảo sát, đánh giá đặc điểm tình hình kinh tế – xã hội; đặc điểm tôn giáo, tín ngưỡng và thực trạng hoạt động của đạo Công giáo trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. + Đánh giá thực trạng quá trình thực hiện quản lý Nhà nước đối với hoạt động của đạo Công giáo trên địa bàn tỉnh; những kết qủa đạt được và hạn chế cần khắc phục. + Đề ra phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động của đạo Công giáo trên địa bàn tỉnh. 3. Phạm vi nghiên cứu. Đề tài tập trung nghiên cứu về công tác quản lý Nhà nước đối với đạo Công giáo ở tỉnh Ninh Bình từ năm 2002 đến nay. 4. Phương pháp nghiên cứu: Đề tài này được nghiên cứu dựa trên các phương pháp chủ yếu sau: Phương pháp khảo sát thực tế, thống kê, phân tích, tổng hợp, gắn lý luận với thực tiễn, đồng thời vận dụng phương pháp logic kết hợp với quan điểm lịch sử, khách quan, biện chứng 5. Kết cấu của luận văn. Ngoài phần lời mở đầu, kết luận, danh mục Tài liệu tham khảo nội dung chính của luận văn gồm 3 chương: Chương 1, Một số vấn đề lý luận chung. Chương 2, Thực trạng hoạt động của đạo Công giáo và quản lý Nhà nước đối với hoạt động của đạo Công giáo tại tỉnh Ninh Bình. Chương 3, Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động của đạo Công giáo tại tỉnh Ninh Bình.

doc108 trang | Chia sẻ: tuandn | Ngày: 15/04/2013 | Lượt xem: 6817 | Lượt tải: 95download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với đạo Công giáo trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Tôn giáo là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử. Nó xuất hiện từ khi có xã loài người, trong tương lai tôn giáo vẫn tiếp tục phát triển và sẽ còn tồn tại lâu dài. Trong quá trình tồn tại và phát triển, tôn giáo không chỉ liên quan đến tư tưởng, tình cảm, đạo đức, văn hóa,… mà còn là vấn đề chính trị – xã hội nhạy cảm, có liên quan chặt chẽ đến con người, gia đình, dân tộc, giai cấp. Do vậy, tìm hiểu tín ngưỡng, tôn giáo không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa chính trị xã hội sâu sắc. Nước ta là một quốc gia đa tôn giáo, các tôn giáo cùng tồn tại và chung sống bên nhau một cách hoà bình, hữu hảo và cùng với tín ngưỡng dân gian đã tạo nên những nét văn hoá rất riêng của người Việt. Tuy nhiên, hoạt động tôn giáo ở nước ta hiện nay, có lúc, có nơi còn bị lợi dụng để hoạt động chính trị của. Vì vậy Đảng và Nhà nước ta luôn xác định công tác tôn giáo là vấn đề chiến lược có ý nghĩa quan trọng. Đặc biệt, trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay tôn giáo đang là vấn đề lớn liên quan đến chính sách đối nội, đối ngoại của Đảng và Nhà nước thu hút sự quan tâm của các cấp, các ngành, của cả hệ thống chính trị. Đạo Công giáo là một trong 6 tôn giáo lớn ở Việt Nam, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, hệ thống thứ bậc rõ ràng. Từ khi được truyền vào Việt Nam đến nay đạo Công giáo đã không ngừng phát triển cả về tín đồ, chức sắc, chức việc, về các dòng tu… Do sự tác động, chi phối rất lớn của đạo Công giáo nên các thế lực phản động thường triệt để lợi dụng tôn giáo nói chung, đạo Công giáo nói riêng để thực hiện âm mưu của chúng đối với các quốc gia, dân tộc. Khi xâm lược vào nước ta thực dân Pháp và sau này là đế quốc Mỹ đã tìm mọi cách khai thác lợi dụng đạo Công giáo để phục vụ cho những mưu đồ chính trị của họ. Ninh Bình là tỉnh có khá đông đồng bào theo đạo Công giáo (chiếm 16,1% dân số), trên địa bàn có Toà giám mục Phát Diệm, là một trung tâm Công giáo lớn của cả nước, được Toà thánh Vatican đặc biệt chú trọng và coi Phát Diệm là “thủ đô Công giáo của Việt Nam” Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Toà giám mục Phát Diệm được coi là trung tâm tập hợp các lực lượng phản động đội lốt tôn giáo để chống phá cách mạng. Chúng đã lập ra khu “Công giáo Phát Diệm tự trị”, biến các nhà thờ thành đồn bốt để càn quét, bắt giữ cán bộ… Hiện nay, thực hiện chính sách tự do tín ngưỡng tôn giáo và tự do không tín ngưỡng tôn giáo của Nhà nước, hoạt động của đạo Công giáo ở Ninh Bình có những thay đổi mạnh mẽ về phương thức hoạt động, cả về số lượng tín đồ và chức sắc, chức việc tôn giáo, tập trung sửa chữa nâng cấp các cơ sở tôn giáo… Tình hình quản lý Nhà nước về đạo Công giáo của tỉnh Ninh Bình trong những năm qua đã đạt được nhiều kết quả, góp phần quan trọng trong việc ổn định chính trị và phát triển địa phương. Tuy nhiên, trên lĩnh vực quản lý này vẫn còn những hạn chế nhất định. Chẳng hạn, một số cấp uỷ, chính quyền địa phương có thái độ chủ quan, nóng vội trong giải quyết các vấn đề liên quan đến tôn giáo; có nơi lại hữu khuynh, thụ động, buông lỏng quản lý, đơn giản trong việc giải quyết, không kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tôn giáo, gắn với vấn đề dân tộc gây “điểm nóng” để bên ngoài lợi dụng, kích động xuyên tạc, vu cáo Đảng và Nhà nước ta vi phạm nhân quyền và tự do tôn giáo. Từ những lý do nêu trên tác giả chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối với đạo Công giáo trên địa bàn tỉnh Ninh Bình” cho bài luận văn tốt nghiệp của mình. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu. - Mục đích: Trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo; khảo sát đánh giá đặc điểm, thực trạng hoạt động của đạo Công giáo trên địa bàn tỉnh Ninh Bình; đánh giá thực trạng công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động của đạo Công giáo trên địa bàn tỉnh; từ đó đề ra phương hướng, giải pháp và các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động của đạo Công giáo trên địa bàn tỉnh theo các quy định của pháp luật, góp phần giữ vững ổn định chính trị xã hội của địa phương. - Nhiệm vụ: + Khảo sát, đánh giá đặc điểm tình hình kinh tế – xã hội; đặc điểm tôn giáo, tín ngưỡng và thực trạng hoạt động của đạo Công giáo trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. + Đánh giá thực trạng quá trình thực hiện quản lý Nhà nước đối với hoạt động của đạo Công giáo trên địa bàn tỉnh; những kết qủa đạt được và hạn chế cần khắc phục. + Đề ra phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động của đạo Công giáo trên địa bàn tỉnh. 3. Phạm vi nghiên cứu. Đề tài tập trung nghiên cứu về công tác quản lý Nhà nước đối với đạo Công giáo ở tỉnh Ninh Bình từ năm 2002 đến nay. 4. Phương pháp nghiên cứu: Đề tài này được nghiên cứu dựa trên các phương pháp chủ yếu sau: Phương pháp khảo sát thực tế, thống kê, phân tích, tổng hợp, gắn lý luận với thực tiễn, đồng thời vận dụng phương pháp logic kết hợp với quan điểm lịch sử, khách quan, biện chứng 5. Kết cấu của luận văn. Ngoài phần lời mở đầu, kết luận, danh mục Tài liệu tham khảo nội dung chính của luận văn gồm 3 chương: Chương 1, Một số vấn đề lý luận chung. Chương 2, Thực trạng hoạt động của đạo Công giáo và quản lý Nhà nước đối với hoạt động của đạo Công giáo tại tỉnh Ninh Bình. Chương 3, Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động của đạo Công giáo tại tỉnh Ninh Bình. Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÔN GIÁO VÀ CÁC QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VỀ TÔN GIÁO 1. Khái quát chung về tôn giáo 1.1. Khái niệm và nguồn gốc tôn giáo Tôn giáo, tín ngưỡng là hiện tượng đã có từ lâu trong đời sống tinh thần của con người, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa nào hoàn chỉnh. Trước hết là vì xuất phát từ những trường phái triết học khác nhau, người ta có những khái niệm và những luận cứ khác nhau về tín ngưỡng, tôn giáo. Tôn giáo là một phạm trù của ý thức, nhưng là phạm trù rất đặc biệt, bởi vì nó còn có một yếu tố xã hội, yếu tố văn hoá, có tính không gian, thời gian và quần chúng đông đảo. Trong cộng đồng một tôn giáo cụ thể, tín đồ của tôn giáo đó có thành phần giai cấp, tầng lớp xã hội, tộc người, ngôn ngữ khác nhau tham gia. Chính sách tôn giáo là thái độ ứng xử của Nhà nước đối với tôn giáo. Trong lịch sử, Nhà nước nào cũng có các chính sách tôn giáo, Nhà nước trong xã hội do giai cấp bóc lột thống trị thường liên kết với các giáo hội, các tổ chức tôn giáo và lợi dụng nó như một công cụ trong quản lý Nhà nước. Ngược lại các tổ chức tôn giáo cũng lợi dụng mọi thời cơ, dựa vào Nhà nước và quyền lực Nhà nước để mở rộng ảnh hưởng của mình trong xã hội. Tuỳ theo phong tục, tập quán, lối sống của mỗi cộng đồng dân cư, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia, mỗi khu vực… hình thức biểu hiện của tôn giáo rất đa dạng, phong phú… Hiện nay, trên thế giới có hàng trăm tôn giáo, hình thức biểu hiện không giống nhau, rất phức tạp và đa dạng phù hợp với tâm thức cho từng cộng đồng, cho dù cộng đồng đó có cùng phương thức sản xuất. Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng tôn giáo ra đời từ những nguồn gốc cơ bản như: nguồn gốc kinh tế – xã hội, nguồn gốc nhận thức, nguồn gốc tâm lý tình cảm. Tôn giáo đồng nghĩa với sự sùng đạo, tôn thờ đấng được sùng bái. Trong các từ điển thông dụng, thường quan niệm tôn giáo là sự sùng bái và thờ phụng của con người đối với thần linh hoặc các mối quan hệ của con người đối với thần linh. Tín ngưỡng đồng nghĩa với niềm tin, sự tin tưởng, niềm tin đó là niềm tin đặc biệt. Tín ngưỡng là gốc của tôn giáo. Mọi tín ngưỡng, tôn giáo đều có một cái chung là “thế giới bên kia” khác với thế giới hiện thực mà con người đang sống. Cần phân biệt tín ngưỡng với mê tín, dị đoan; mê tín, dị đoan là chỉ một niềm tin mù quáng như: bói toán, đồng cốt, gọi hồn… là những hiện tượng xã hội tiêu cực, khác với các chuẩn mực xã hội; là những gì trái với lợi ích của xã hội, nó gây thiệt hại cho chính những người tin theo mê muội. Trong quản lý Nhà nước về các hoạt động tôn giáo, chúng ta đặc biệt chú ý đến những hoạt động của các tôn giáo có tổ chức, khái niệm tôn giáo có tổ chức có thể được hiểu là một tổ chức, đại diện cho một cộng đồng người có chung một đức tin, theo một giáo lý hay một giáo chủ và có một kết cấu là tổ chức giáo hội. Theo Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 thì “tổ chức tôn giáo là tập hợp những người cùng tin theo một hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận.” 1.2. Bản chất và vai trò của tôn giáo Tôn giáo là một thành tố của kiến trúc thượng tầng, là một hình thái của ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội. Song sự phản ánh đó là “sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc người ta những sức mạnh bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ, chỉ là sự phản ánh mà trong đó những sức mạnh ở thế gian đã mang hình thức sức mạnh siêu thế gian” [5,1]. Tôn giáo có những tác động tích cực và tiêu cực đến đời sống con người. C. Mac đã nhận xét: “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”. Tôn giáo là cái bổ sung cho sự thiếu hụt của con người trong thực tế cuộc sống hàng ngày. Nhưng tôn giáo bù đắp sự thiếu hụt bằng hư ảo, tôn giáo xoa dịu nỗi đau của con người bằng thứ thuốc an thần. Trong lịch sử của loài người, tôn giáo đã từng là một thế lực chính trị hay là chỗ dựa cho những thế lực chính trị khác nhau. Uy lực của Toà thánh La Mã thời Trung cổ ở Châu Âu là một ví dụ điển hình. Tôn giáo đã gắn cho các quá trình kinh tế những cơ sở tư tưởng thích ứng với từng thời đại, tạo ra những kích thích về tinh thần cho hoạt động kinh tế và những tiêu chí đạo đức cho hành vi kinh tế – xã hội. Các dạng tôn giáo khác nhau tự thể hiện mình một cách khác nhau trong lĩnh vực kinh tế. Tôn giáo không chỉ tồn tại nếu chỉ đáp ứng một cách hư ảo khát vọng của con người. Bởi vậy, cần thấy tôn giáo ở khía cạnh văn hoá, đạo đức của nó. Chừng nào con người còn sống trong cõi thế gian, họ vẫn còn mong muốn được sống trong một xã hội công bằng, nhân ái. Tôn giáo đã tìm thấy ở đó những chất liệu thật, gần gũi với con người nhất để tạo dựng nên hệ thống luân lý đạo đức của mình. Hệ thống đạo đức, luân lý của những tôn giáo khác nhau về niềm tin, xa nhau về địa lý vẫn có một mẫu số chung đó là nội dung khuyến thiện của hệ thống đạo đức đó. Chính vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn muốn tìm cái hay trong và ngoài tôn giáo nhằm mục đích duy nhất là đoàn kết mọi người vào việc thực hiện lý tưởng: độc lập, tự do, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh. Tư tưởng của người còn nguyên giá trị mà ngày nay mỗi người cán bộ công chức phải thấm nhuần để đưa những tư tưởng đó vào cuộc sống xã hội góp phần làm cho “nước thái dân an”. 2. Các quan điểm cơ bản về tôn giáo 2.1. Chủ nghĩa Mác – Lênin về tôn giáo Trong quá trình đấu tranh, xây dựng thế giới quan mới, Mác - Ăngghen đã thẳng thắn đấu tranh với các trào lưu tư tưởng sai trái đương thời trong đó có tư tưởng về tôn giáo. Mác - Ăngghen đã dùng chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để giải thích tôn giáo; đề cập đến các vấn đề cơ bản của tôn giáo như: nguồn gốc, bản chất, tính chất, chức năng của tôn giáo; lập trường, phương pháp giải quyết vấn đề tôn giáo của giai cấp vô sản; phê phán các trào lưu tư tưởng duy tâm tôn giáo và các trào lưu tư tưởng sai lầm khác. Hai ông chủ trương xây dựng thế giới quan triết học duy vật, đối lập với thế giới quan duy tâm, tôn giáo. Về phương diện chính trị, xã hội, tôn giáo là một tàn dư của xã hội cũ, xã hội có giai cấp. Tôn giáo là một lực cản trong sự phát triển xã hội, một lực cản giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh lật đổ giai cấp tư sản, xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa. Nhìn chung quan niệm của Mác - Ăngghen được trình bày tương đối có hệ thống và nhất quán ở 4 điểm sau: 1. Không có Chúa trời như một đấng sáng thế. Vật chất là thực thể duy nhất của mọi vật. Cũng không thể có một linh hồn bất tử tồn tại cả sau khi con người chết. Trong “chống Duyrinh”, Ph. Ăngghen định nghĩa: “tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào đầu óc con người, của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ, chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang những lực lượng siêu trần thế” [4, 20,tr.437]. Ở đây Ăngghen đã giải đáp ba vấn đề cơ bản: tôn giáo là gì? phản ánh cái gì? phản ánh như thế nào? Định nghĩa này của Ăngghen được nhiều người chú ý và coi như thể hiện rõ nhất của các nhà sáng lập ra học thuyết Mác – Lênin khi nghiên cứu bản chất của tôn giáo. Như vậy tôn giáo là do con người sáng tạo ra, là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội. 2. Tôn giáo là một hình thái xã hội mang tính lịch sử. Nó không tồn tại vĩnh viễn mà chỉ trong những giai đoạn nhất định trong lịch sử nhân loại khi mà con người bị chế ước bởi những điều kiện tự nhiên và xã hội như thiên tai, chiến tranh, đói nghèo, bất công xã hội… Người ta cần đến tôn giáo như một sự giải thoát khỏi những ràng buộc trong cuộc sống hàng ngày. 3. Tôn giáo thuộc về kiến trúc thượng tầng, do vậy cũng như khoa học, nghệ thuật… bị quy định bởi các điều kiện kinh tế và cơ sở hạ tầng của xã hội. “Nhà nước ấy, xã hội ấy sản sinh ra tôn giáo, tức thế giới quan lộn ngược, vì bản thân chúng là thế giới lộn ngược.[5, tr. 570]. 4. Tôn giáo mang tính giai cấp, nghĩa là nó không thể đứng ngoài chính trị, mà đứng về phía giai cấp này hay giai cấp kia trong xã hội có giai cấp. Theo C. Mác - Ăngghen, các giai cấp thống trị thường sử dụng và thao túng tôn giáo để mê hoặc quần chúng đấu tranh chống lại những áp bức và bất công xã hội. Chẳng hạn, giáo hội Công giáo đã khoác cho chế độ phong kiến ở Pháp trước cách mạng một vòng hào quang thần thánh. Giai cấp tư sản cũng sử dụng tôn giáo để bảo vệ lợi ích thống trị của mình. Do vậy, vấn đề tôn giáo gắn liền với cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản vì một chế độ xã hội mới. Kế thừa những tư tưởng của C. Mác - Ăngghen, Lênin trình bày quan điểm của mình về tôn giáo trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản Nga nói riêng và chủ nghĩa tư bản đang trong quá trình phát triển thành chủ nghĩa đế quốc nói chung. Đặc biệt Lênin đã có những quan điểm về tôn giáo trong điều kiện của Chủ nghĩa xã hội: 1. Lênin cho rằng tôn giáo là hình thái tinh thần phản ánh một cách siêu tự nhiên nhưng lại có ảnh hưởng tới đời sống của hiện thực. Vì vậy tôn giáo được cả giai cấp bị bóc lột và giai cấp bóc lột sử dụng như chỗ dựa tinh thần. Với nghĩa đó, Lênin khẳng định nhận định của Mác - Ăngghen về sức mạnh tinh thần. 2. Từ lịch sử của tôn giáo và từ sự đúc kết của Mác - Ăngghen, Lênin khẳng định khía cạnh tâm linh, tiêu cực trong tôn giáo chịu ảnh hưởng trực tiếp ở trình độ nhận thức của con người trước những hiện tượng thiên nhiên và trước hiện thực. Theo Lênin, chủ nghĩa xã hội hiện thực là “chủ nghĩa xã hội đưa khoa học vào cuộc đấu tranh chống đám mây mù tôn giáo và làm cho công nhân khỏi tin vào một cuộc đời ở thế giới bên kia là giành lấy một cuộc đời tốt đẹp hơn trên trần thế [9, 12, tr.169]. 3. Về quan điểm tự do tín ngưỡng, Lênin cho rằng “bất kỳ ai cũng được hoàn toàn tự do theo tôn giáo mình thích, hoặc không thừa nhận một tôn giáo nào. Mọi sự phân biệt giữa công dân có tín ngưỡng tôn giáo khác với công dân không có tín ngưỡng tôn giáo đều hoàn toàn không thể tha thứ được” [9, 12, tr 175]. 4. Theo Lênin, tôn giáo và chính trị là hai hình thái tinh thần độc lập. Vì vậy, giáo hội và Nhà nước không thể là một. Từ đó, sinh hoạt tôn giáo “phải được tuyên bố là một việc tư nhân”. [9, 12, tr.169 – 175] Những quan điểm, tư tưởng của Chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề tôn giáo là di sản quý giá để chúng ta vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, góp phần thực hiện thành công chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta trong từng thời kỳ qua các giai đoạn cách mạng. 2.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo Vận dụng Chủ nghĩa Mác – Lênin và kế thừa tinh hoa tri thức của nhân loại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta trong việc hình thành các quan điểm về tôn giáo và công tác tôn giáo. Những quan điểm và cách ứng xử của Người đối với vấn đề tôn giáo chứng minh Người am hiểu sâu sắc các tôn giáo lớn, trân trọng những giá trị cao đẹp của tôn giáo, đồng thời Người cũng kiên quyết vạch mặt những kẻ đội lốt tôn giáo để làm hại tôn giáo và dân tộc. Nội dung chính của tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo bao gồm: 2.2.1. Về tự do tín ngưỡng Quan điểm về tự do tín ngưỡng của Hồ Chủ tịch được thể hiện trong quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và của Nhà nước Việt Nam từ khi Nhà nước dân chủ được thành lập. Ngay trong Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam từ năm 1946, đã nêu “đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, trai gái, giai cấp, tôn giáo”. Tại điều 10 của bản Hiến pháp này đã xác định, quyền tự do tín ngưỡng là một quyền cơ bản trong hệ thống 5 quyền cơ bản của công dân Việt Nam. Và chính bản Hiến pháp năm 1946 là bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta có sự chỉ đạo trực tiếp của Hồ Chủ tịch. Trong những năm lãnh đạo đất nước, với cương vị người đứng đầu Nhà nước, Hồ Chủ tịch đã nhiều lần đề cập tới vấn đề tự do tín ngưỡng như là sự tái khẳng định của Nhà nước, của Chính phủ trong công tác tôn giáo. Chẳng hạn, trong thư của Hồ Chủ tịch gửi cho Tổng giám mục Lê Hữu Từ (1947), Người nhân danh Chính phủ viết “Thưa Đức cha. Trong Hiến pháp nước ta đã định rõ quyền tự do tín ngưỡng, kẻ nào vi phạm và khiêu khích bà con Công giáo sẽ bị xử lý” [8,13, tr. 80]. 2.2.2. Về đoàn kết tôn giáo Tư tưởng đoàn kết luôn bao trùm rộng lớn và có ý nghĩa quy định thành công trong cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh. Đối với tôn giáo, hơn bao giờ hết cần có đoàn kết thực lòng và bền vững. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác tôn giáo là tư tưởng đoàn kết đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo, đồng bào theo đạo với đồng bào không theo đạo; đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, cùng lấy mục tiêu chung làm điểm tương đồng, đó là vì một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Lấy nguyên tắc đoàn kết là trung tâm của chính sách tôn giáo, xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa tôn giáo với dân tộc là mấu chốt. Mọi chính sách, pháp luật về tôn giáo phải xoay quanh nguyên tắc đoàn kết là xuất phát từ lợi ích chung của cả dân tộc, trong đó có lợi ích của tổ chức tôn giáo. Người nhận thức rằng: tín ngưỡng là những biểu hiện sâu kín của thành kính, tôn giáo hàm chứa tình cảm thiêng liêng đã nâng lên thành biểu tượng mà người có đạo dễ dàng chấp nhận hy sinh để gìn giữ sự ngưỡng vọng và tôn kính đó. Đối với công tác tôn giáo, Người dạy “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Bất biến là nguyên tắc đoàn kết, là nguyên tắc vì lợi ích chung của Tổ quốc, của nhân dân. Vạn biến là phương pháp vận động thuyết phục mềm dẻo, linh động, có đối sách trong từng trường hợp cụ thể, có chính sách thu hút sự ủng hộ của đông đảo chức sắc, quần chúng tín đồ tham gia phong trào thi đua yêu nước. Khơi dậy “đức hy sinh”, “xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo” hoà quyện trong tinh thần dân tộc tự cường, chủ trương đưa đạo “nhập thế”, đạo cũng là việc đời, việc đời cũng là việc đạo, tạo nên nguồn lực cộng hưởng trong sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, thực hiện xây dựng một nước Việt Nam “hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”. 2.2.3.Về đạo đức tôn giáo Năm 1990, lần đầu tiên Đảng ta thừa nhận giá trị đạo đức tôn giáo có trong tôn giáo khi khẳng định: “đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp trong công cuộc xây dựng xã hội mới” [9] và việc phát huy giá trị tốt đẹp về văn hoá và đạo đức có trong tôn giáo được thể hiện ở Văn kiện Đại hội IX của Đảng là phù hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh. Tôn giáo thường có điểm chung là giáo dục con người, trừ ác, hướng thiện; khuyên răn điều hay lẽ phải ở đời. Hồ Chí Minh đã khái quát giá trị đạo đức có trong tôn giáo: “Chúa Giêsu dạy: đạo đức là bác ái. Phật Thích ca dạy: đạo đức là từ bi. Khổng
Luận văn liên quan