Luận văn Nghiên cứu thành phần hóa học của cây Gòn Ceiba Pentandra (L.) Gaertner họ gạo (Bombacaceae)

Thiên nhiên là nguồn cung cấp vô cùng phong phú vềtất cảcác mặt như nhiên liệu, thực phẩm, nguyên liệu của tất cảcác ngành nghề, và là nguồn dược liệu vô cùng quý giá giúp cho con người có thểchống chọi được với bệnh tật đểtồn tại và phát triển. Có thểnói ngoài thiên tai và chiến tranh ra thì bệnh tật chính là nguyên nhân gây chết người tàn khốc nhất. Chính vì vậy từrất xa xưa con người đã quan tâm đến những cây thuốc trong tựnhiên thông qua việc quan sát những động vật hoang dã. Ngày nay với sựphát triển của khoa học công nghệ, ngành hóa hợp chất tựnhiên đã đi sâu nghiên cứu và tìm thấy vô vàn những hợp chất ứng dụng chữa trịcho con người. Đặc biệt, các nước ởvùng nhiệt đới và ôn đới được thiên nhiên ưu đãi có thảm thực vật vô cùng phong phú và đa dạng, có nhiều loại dược liệu quý và hiếm. Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới, chính vì vậy có một thuận lợi lớn vềnguồn nguyên liệu nghiên cứu cho ngành hóa dược. Cho đến nay có thểnói rằng đa sốcác cây có hoạt tính đều đã được nghiên cứu để ứng dụng, chỉcòn lại rất ít giống loài chưa được nghiên cứu vì vậy mục đích của hóa hợp chất tựnhiên Việt Nam bây giờ là phải tìm kiếm những nguồn dược liệu mới, những cây chưa được nghiên cứu hay chỉmới được nghiên cứu ởnước ngoài. Dựa trên mục tiêu đó, qua các thông tin cho thấy một loài cây rất gần gũi có nhiều ứng dụng trong cuộc sống hằng ngày, đã có những nghiên cứu cây cùng loài ởmột vài nước trên thếgiới, nhưng ởViệt Nam ngoài một nghiên cứu vềdược tính của cây thì chưa thấy có nghiên cứu vềthành phần hóa học. Đó là cây gòn ta hay gòn gai có tên khoa học là Ceiba pentandra(L.) Gaertner. Theo các tài liệu cho thấy cây có khảnăng chữa được rất nhiều bệnh, đặc biệt phần lớn các bộphận của cây đều có ứng dụng trong cuộc sống: Vỏ, lá, cành nhỏdùng làm nhang, bông dùng đểnhồi gối, mủgòn có thể ăn được dùng trong món chè. Vỏcây và rễcây thường sửdụng trong các bài thuốc dân gian của nhiều nước. Gần đây ởmiền nam Việt Nam có đềxuất dùng bông gòn làm phao vớt dầu tràn trên sông hay biển vì sợi bông thấm dầu rất tốt. Vì những khảnăng ứng dụng của cây gòn nhưtrình bày trên nên đềtài này được thực hiện nhằm nghiên cứu các thành phần hóa học của cây với mục tiêu hy vọng tìm thấy được những hợp chất có hoạt tính sinh học đểlàm thuốc chữa bệnh.

pdf28 trang | Chia sẻ: tuandn | Ngày: 17/04/2013 | Lượt xem: 2483 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Nghiên cứu thành phần hóa học của cây Gòn Ceiba Pentandra (L.) Gaertner họ gạo (Bombacaceae), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Nghiên cứu thành phần hóa học của cây gòn Ceiba pentandra (L.) Gaertner  21  Nghiên cứu thành phần hóa học của cây gòn Ceiba pentandra (L.) Gaertner 2.1 XỬ LÝ NGUYÊN LIỆU VÀ ĐIỀU CHẾ CÁC LOẠI CAO 2.1.1 Thu hái và xử lý nguyên liệu Lá gòn tươi sau khi thu hái tại xã An Bình – huyện Dĩ An – tỉnh Bình Dương (tháng 1/2008) và vỏ gòn tươi sau khi thu hái cùng địa điểm (tháng 5/2008), được định danh bởi dược sĩ Phan Đức Bình – phó tổng biên tập Bán nguyệt san “Thuốc và Sức khỏe”. Các bộ phận này được đem sấy khô ở nhiệt độ 60oC, xay nhuyễn. Độ ẩm của nguyên liệu được xác định như sau: Bảng 2.1: Độ ẩm của nguyên liệu Lá Vỏ già Vỏ non Độ ẩm (%) 61,0 52,9 67,2 2.1.2 Điều chế các loại cao từ lá gòn Ngâm bột lá khô (1kg) nhiều lần với etanol 96o, lọc loại bỏ bã, đuổi dung môi, thu được 101,2g cao thô. Cao thô được chiết lỏng – lỏng lần lượt với các dung môi khác nhau, đuổi dung môi, thu được 51,8g cao eter dầu hỏa, 5,7g cao cloroform, 13,1g cao etyl acetat và 30,6g cao nước. Qui trình điều chế các loại cao được trình bày theo sơ đồ 1. Sắc ký bản mỏng trên các cao thu được nhận thấy cao eter dầu hỏa có các vết đều kém phân cực nên được để lại và khảo sát sau. Cao cloroform (hệ giải ly cloroform 100%) cho một vết vàng với Rf=0,50, cao etyl acetat cho thấy bốn vết rõ vì vậy hai cao này được chọn để làm những nghiên cứu tiếp theo. 2.1.3 Điều chế các loại cao từ vỏ gòn Ngâm 1,5kg bột vỏ khô nhiều lần với etanol 96o, lọc loại bỏ bã, đuổi dung môi, thu được 62,0g cao thô. Cao thô được chiết lỏng – lỏng lần lượt với các dung môi khác nhau, đuổi dung môi, thu được 9,0g cao eter dầu hỏa, 7,1g cao cloroform,  22  Nghiên cứu thành phần hóa học của cây gòn Ceiba pentandra (L.) Gaertner Sơ đồ 1: Qui trình điều chế các loại cao từ lá gòn Chiết với etanol 96o Lọc, thu hồi dung môi Chiết lỏng–lỏng với clororform Làm khan, lọc, thu hồi dung môi Chiết lỏng–lỏng với etyl acetat Làm khan, lọc, thu hồi dung môi Thu hồi dung môi Chiết lỏng–lỏng với eter dầu hỏa Làm khan, lọc, thu hồi dung môi Cao cloroform (5,7g) Cao etanol (101,2g) Còn lại Cao eter dầu hoả (58,1g) Lá gòn khô (1kg) Cao nước (30,6g) Cao etyl acetat (13,1g) Còn lại Còn lại  23  Nghiên cứu thành phần hóa học của cây gòn Ceiba pentandra (L.) Gaertner Sơ đồ 2: Qui trình điều chế các loại cao từ vỏ gòn Chiết với etanol 96o Lọc, thu hồi dung môi Vỏ gòn khô (1,5kg) Cao etanol (62,0g) Chi Làm ết lỏng–lỏng với eter dầu hỏa khan, lọc, thu hồi dung môi Chiết lỏng–lỏng với clororform Làm khan, lọc, thu hồi dung môi Chiết lỏng–lỏng với etyl acetat Làm khan, lọc, thu hồi dung môi Thu hồi dung môi Còn lại Cao eter dầu hoả (9,0g) Còn lại Cao cloroform (7,1g) Cao etyl acetat (10,1g) Còn lại Cao nước (35g)  24  Nghiên cứu thành phần hóa học của cây gòn Ceiba pentandra (L.) Gaertner 10,1g cao etyl acetat, 35g cao nước. Qui trình điều chế các loại cao được trình bày theo sơ đồ 2. Sắc ký bản mỏng trên các cao thu được nhận thấy cao eter dầu hỏa, cao cloroform và cao etyl acetat đều cho nhiều vết. Chính vì vậy các cao này được lựa chọn để sắc ký cột cô lập hợp chất. 2.2 SẮC KÝ CỘT ĐỂ CÔ LẬP HỢP CHẤT 2.2.1 Sắc ký cột trên cao cloroform của lá gòn (sơ đồ 1) Cao cloroform (5,7g) được sắc ký cột trên silica gel, hệ dung môi giải ly là hỗn hợp eter dầu hỏa và cloroform với độ phân cực tăng dần, thu được 9 phân đoạn. Trong quá trình sắc ký, dung dịch giải ly ra khỏi cột được hứng trong các lọ. Các lọ được theo dõi bằng sắc ký lớp mỏng silica gel, các lọ có kết quả sắc ký giống nhau được gom lại thành một phân đoạn. Kết quả sắc ký cột được trình bày trong bảng 3.1 (phần thực nghiệm). Phân đoạn 7 của bảng 3.1, sau khi cô quay loại dung môi, kết tinh lại bằng aceton, thu được hợp chất LGON-CLO7 (20mg), màu vàng nhạt, nhiệt độ nóng chảy 254oC. Thực hiện sắc ký lớp mỏng silica gel với hệ dung môi giải ly là cloroform : metanol tỉ lệ 9:1, thuốc thử hiện vết là H2SO4 đậm đặc, sấy ở nhiệt độ 120oC, kết quả cho một vết tròn màu vàng nhạt với Rf=0,60 (hình 2). Phân đoạn 8 của bảng 3.1, sau khi cô quay loại dung môi, kết tinh lại bằng metanol, thu được hợp chất LGON-CLO8 (10mg), màu trắng, nhiệt độ nóng chảy 295oC. Thực hiện sắc ký lớp mỏng silica gel với hệ dung môi giải ly là cloroform : metanol tỉ lệ 8:2, thuốc thử hiện vết là H2SO4 đậm đặc, sấy ở nhiệt độ 120oC, kết quả cho một vết tròn màu xanh tím với Rf=0,60 (hình 3). 2.2.2 Sắc ký cột trên cao etyl acetat của lá gòn (sơ đồ 1) Cao etyl acetat (13,1g) cũng được phân tách bằng phương pháp sắc ký cột trên silica gel, hệ dung môi giải ly là hỗn hợp eter dầu hỏa : etyl acetat với độ phân cực tăng dần và hệ etyl acetat : metanol tỉ lệ 9:1, 8:2, thu được 8 phân đoạn. Trong quá trình sắc ký, dung dịch giải ly ra khỏi cột được hứng trong các lọ. Các lọ được theo  25  Nghiên cứu thành phần hóa học của cây gòn Ceiba pentandra (L.) Gaertner dõi bằng sắc ký lớp mỏng silica gel, các lọ có kết quả sắc ký giống nhau được gom lại thành một phân đoạn. Kết quả sắc ký cột được trình bày trong bảng 3.2 (phần thực nghiệm). Phân đoạn 3 của bảng 3.2, sau khi loại dung môi, kết tinh lại bằng metanol, thu được hợp chất LGON-EA3 (15mg), màu vàng nhạt, nhiệt độ nóng chảy 274oC. Thực hiện sắc ký lớp mỏng silica gel với hệ dung môi giải ly là cloroform : metanol tỉ lệ 8:2 thuốc thử hiện vết là H2SO4 đậm đặc, sấy ở nhiệt độ 120oC, kết quả cho một vết tròn màu vàng nhạt với Rf=0,60 (hình 4). 2.2.3 Sắc ký cột trên cao eter dầu hỏa của vỏ gòn (sơ đồ 2) Cao eter dầu hoả (9,0g) được phân lập bằng phương pháp sắc ký cột trên silica gel, hệ dung môi giải ly là eter dầu hoả : etyl acetat với độ phân cực tăng dần và hệ etyl acetat : metanol tỉ lệ 9:1, 8:2, thu được 8 phân đoạn. Trong quá trình sắc ký, dung dịch giải ly ra khỏi cột được hứng trong các lọ. Các lọ được theo dõi bằng sắc ký lớp mỏng silica gel, thuốc thử hiện vết là H2SO4 đậm đặc, các lọ có kết quả sắc ký giống nhau được gom lại thành một phân đoạn. Kết quả sắc ký cột được trình bày trong bảng 3.3 (phần thực nghiệm). Phân đoạn 6 của bảng 3.3, sau khi loại dung môi, kết tinh lại bằng cloroform, thu được hợp chất VGON-ED6 (50mg), màu trắng, nhiệt độ nóng chảy 101oC. Thực hiện sắc ký lớp mỏng silica gel với hệ dung môi giải ly là eter dầu hỏa : etyl acetat tỉ lệ 7:3, thuốc thử hiện vết là H2SO4 đậm đặc, sấy ở nhiệt độ 120oC, kết quả cho một vết tròn màu xanh tím với Rf=0,50 (hình 5). 2.2.4 Sắc ký cột trên cao cloroform của vỏ gòn (sơ đồ 2) Cao cloroform (7,1g) được phân lập bằng phương pháp sắc ký cột trên silica gel, hệ dung môi giải ly là cloroform : metanol với độ phân cực tăng dần, thu được 9 phân đoạn. Trong quá trình sắc ký, dung dịch giải ly ra khỏi cột được hứng trong các lọ. Các lọ được theo dõi bằng sắc ký lớp mỏng silica gel, các lọ có kết quả sắc ký giống nhau được gom lại thành một phân đoạn. Kết quả sắc ký cột được trình bày trong bảng 3.4 (phần thực nghiệm).  26  Nghiên cứu thành phần hóa học của cây gòn Ceiba pentandra (L.) Gaertner Hình 2: Sắc ký bản mỏng hợp chất LGON-CLO7 trước và sau khi làm sạch. Hệ giải ly cloroform : metanol (9:1). Hình 4: Sắc ký bản mỏng chất LGON-EA3 trước và sau khi làm sạch. Hệ giải ly cloroform : metanol (8:2).  27  Nghiên cứu thành phần hóa học của cây gòn Ceiba pentandra (L.) Gaertner Hình 3: Sắc ký bản mỏng hợp chất LGON-CLO8. Hệ giải ly cloroform : metanol (8:2). Hình 5: Sắc ký bản mỏng hợp chất VGON-ED6. Hệ giải ly eter dầu hoả : etyl acetat (7:3). Hình 6: Sắc ký bản mỏng hợp chất VGON-CLO3. Hệ giải ly cloroform : metanol (95:5).  28  Nghiên cứu thành phần hóa học của cây gòn Ceiba pentandra (L.) Gaertner Phân đoạn 3 của bảng 3.4 sau khi sắc ký cột nhanh trên silica gel với dung môi giải ly là cloroform 100%, thu được 4 phân đoạn. Từ phân đoạn 3’, thực hiện sắc ký bản mỏng điều chế hai lần với hệ dung môi giải ly cloroform : metanol tỉ lệ 96:4, thu được hợp chất VGON-CLO3 (6mg), bột màu đỏ cam, nhiệt độ nóng chảy 163oC. Sắc ký lớp mỏng silica gel của hợp chất VGON-CLO3 với hệ dung môi giải ly là cloroform : metanol tỉ lệ 95:5, thuốc thử hiện vết là H2SO4 đậm đặc, sấy ở nhiệt độ 120oC, cho một vết tròn màu vàng cam với Rf=0,60 (hình 6). 2.3 KHẢO SÁT CẤU TRÚC CÁC HỢP CHẤT CÔ LẬP 2.3.1 Xác định cấu trúc hợp chất LGON–CLO7 Hợp chất LGON–CLO7 cô lập từ cao cloroform của sơ đồ 1, dạng bột màu vàng nhạt. Nhiệt độ nóng chảy 254oC (kết tinh lại trong aceton). ™ Sắc ký lớp mỏng silica gel (hình 2) cho vết tròn màu vàng nhạt với Rf=0,60, hệ dung ly là cloroform : metanol tỉ lệ 9:1. ™ Phổ IR (phụ lục 1), ν cm-1: 3156 (O–H), 2849 và 2917 (C–H), 1659 (C=O), 1607 (C=C), 1118 (C–O). ™ Phổ 1H-NMR (phụ lục 2a, 2b), δppm: Số liệu trình bày ở bảng 2.2 ™ Phổ 13C-NMR (phụ lục 3a, 3b), δppm: Số liệu trình bày ở bảng 2.2 Biện luận cấu trúc ™ Phổ 1H-NMR (δppm) của hợp chất LGON–CLO7 có các mũi ở vùng từ trường thấp khoảng 6-8 là các mũi của proton của vòng benzen. Trong đó, ở δH = 6,29 và 6,46 có hai mũi đôi, J=2,0Hz tương ứng với hai proton của vòng benzen ở vị trí meta đối với nhau. Và ở δH =7,03 và δH = 7,86 có hai mũi đôi-đôi, mỗi mũi (2H, dd, J=7,0 và 2,0Hz), tương ứng với bốn proton của vòng benzen thế para. H H Một mũi đơn ở δH = 3,90 tương ứng với ba proton của một nhóm –OCH3. a' b' Ha HaHb Hb  29  Nghiên cứu thành phần hóa học của cây gòn Ceiba pentandra (L.) Gaertner ™ Phổ 13C-NMR (δppm) của hợp chất LGON-CLO7 có các mũi chủ yếu ở vùng δC ≈ 90-130 là các carbon của vòng benzen, và ở khoảng δC ≈ 158-164 là các carbon của vòng benzen gắn nhóm –OH. Ngoài ra còn có mũi ở δC = 182,6 là mũi của carbon của nhóm >C=O và mũi ở δC = 55,6 tương ứng với carbon của nhóm –OCH3. Kết hợp với tài liệu [18], phổ 1H,13C và các phổ hai chiều HSQC, HBMC của hợp chất LGON-EA3 cho thấy hợp chất LGON-CLO7 là hợp chất 5,7-dihydroxy-4'- metoxyflavon hay 4’-metoxyapigenin. Các giá trị phổ NMR của hợp chất LGON- CLO7 được trình bày trong bảng 2.2. O OH O OCH3 HO 1'1 29 8 6 3 7 410 5 2' 6' 4' 5' 3' 5,7-Dihydroxy-4'-metoxyflavon 2.3.2 Xác định cấu trúc hợp chất LGON-CLO8 Hợp chất LGON–CLO8 cô lập từ cao cloroform của sơ đồ 1, dạng bột màu trắng. Nhiệt độ nóng chảy 295oC (kết tinh lại trong metanol). ™ Sắc ký lớp mỏng silica gel (hình 3) cho vết tròn màu xanh tím với Rf=0,60, hệ dung ly là cloroform : metanol tỉ lệ 8:2. ™ Phổ 1H-NMR (phụ lục 4a, 4b, 4c), δppm: Số liệu trình bày ở bảng 2.3 ™ Phổ 13C-NMR (phụ lục 5a, 5b, 5c), δppm: Số liệu trình bày ở bảng 2.3 Biện luận cấu trúc: ™ Nhiệt độ nóng chảy của hợp chất LGON–CLO8 là 295oC, hợp chất 3-O-β-D- glucopyranosyl-β-sitosterol nóng chảy ở 295 oC. [4] ™ Phổ 1H-NMR (δppm) của hợp chất LGON–CLO8 có các dạng mũi như phổ của hợp chất 3-O-β-D-glucopyranosyl-β-sitosterol trong đó có mũi đơn bầu ở δH =5,32 tương ứng với proton của C-6.  30  Nghiên cứu thành phần hóa học của cây gòn Ceiba pentandra (L.) Gaertner Bảng 2.2: Các giá trị phổ NMR của hợp chất LGON-CLO7 và tài liệu[18] Vị trí Hợp chất LGON-CLO7 (CDCl3+MeOD) Tài liệu [18] (DMSO) 1H (δ ppm, J Hz) 13C (δ ppm) 1H (δ ppm, J Hz) 13C (δ ppm) 2 164,3 164,5 3 6,56, s 103,9 6,86; s 103,3 4 182,6 182,2 5 161,7 161,5 6 6,29; d; J=2,0 99,4 6,44; d; J=2,3 99,8 7 164,3 162,9 8 6,46; d; J=2,0 94,5 6,81; d; J=2,3 95,0 9 158,1 157,2 10 104,7 105,6 1’ 123,6 121,2 2’ 7,86; dd; J=7,0 và 2,0 128,2 7,96; d; J=8,9 128,8 3’ 7,03; dd; J=7,0 và 2,0 114,6 6,94; d; J=8,9 116,2 4’ 162,7 161,3 5’ 7,03; dd; J=7,0 và 2,0 114,6 6,94; d; J=8,9 116,2 6’ 7,86; dd; J=7,0 và 2,0 128,2 7,96; d; J=8,9 128,8 – OCH3 3,90; s 55,6  31  Nghiên cứu thành phần hóa học của cây gòn Ceiba pentandra (L.) Gaertner Một mũi đôi ở δH = 4,22 với J=7,5Hz tương ứng với proton anomer có cấu hình β và ở vùng từ trường δH ≈ 3-5 là các mũi của các proton của đường glucose. ™ Phổ 13C-NMR (δppm) của hợp chất LGON–CLO8 có hai mũi ở δC = 138,9 và 121,0 tương ứng với C-5 và C-6. Một mũi ở δC = 100,8 tương ứng với C-1’. Vùng từ trường δC ≈ 60-80 là các mũi của carbon của đường glucose. Từ các số liệu nêu trên, kết hợp với tài liệu [11] đề nghị cấu trúc hoá học của hợp chất LGON–CLO8 là 3-O-β-D-glucopyranosyl-β-sitosterol. 3-O-β-D-Glucopyranosyl-β-sitosterol O 1 9 5 10 6 11 8 7 19 15 12 13 18 21 4 3 2 17 20 22 16 14 25 23 2724 29 28 26 1' 2' 3' 4' 5' 6' O HO HO HO HOCH2 H 2.3.3 Xác định cấu trúc hợp chất LGON–EA3 Hợp chất LGON–EA3 cô lập từ cao etyl acetat của sơ đồ 1, dạng bột màu vàng nhạt. Nhiệt độ nóng chảy 274oC (kết tinh lại trong metanol). ™ Sắc ký lớp mỏng silica gel (hình 4) cho vết tròn màu vàng nhạt với Rf=0,60, hệ dung ly là cloroform : metanol tỉ lệ 8:2. ™ Phổ IR (phụ lục 6), ν cm-1: 3471 (O–H), 2928 (C–H), 1660 (C=O), 1610 (C=C), 1071–1245 (C–O). ™ Phổ 1H-NMR (phụ lục 7a, 7b, 7c), δppm: Số liệu trình bày ở bảng 2.4. ™ Phổ 13C-NMR và 13C kết hợp DEPT-NMR (phụ lục 8a, 8b, 8c), δppm: Số liệu trình bày ở bảng 2.4. ™ Phổ HSQC (phụ lục 9a, 9b, 9c) và phổ HMBC (phụ lục 10a, 10b, 10c, 10d, 10e), δppm: Số liệu trình bày ở bảng 2.4. Biện luận cấu trúc: ™ Phổ 1H-NMR (δppm) của hợp chất LGON–EA3 có các mũi ở vùng từ trường thấp δH ≈ 6-8 là các mũi của proton của vòng benzen.  32  Nghiên cứu thành phần hóa học của cây gòn Ceiba pentandra (L.) Gaertner Bảng 2.3: Các giá trị phổ NMR của hợp chất LGON–CLO8 và tài liệu [11] Vị trí 3-O-β-D-Glucopyranosyl-β-sitosterol (Pyridin-d5) Hợp chất LGON–CLO8 (DMSO) 1H (δ ppm, J Hz) 13C (δ ppm) 1H (δ ppm, J Hz) 13C (δ ppm) 1 37,6 36,1 2 30,3 29,1 3 3,97; m 78,3 76,6 4 39,4 38,3 5 - 141,0 - 138,9 6 5,35; m 122,0 5,32; br 121,0 7 32,2 31,3 8 32,1 31,2 9 50,4 48,6 10 37,0 36,5 11 21,4 21,1 12 40,6 38,7 13 42,6 41,6 14 57,0 55,2 15 24,6 23,8 16 28,7 27,9 17 56,3 54,4 18 12,0 11,9 19 19,3 18,8 20 36,5 35,1 21 19,1 18,7 22 34,3 33,9 23 26,4 24,7 24 46,1 42,7 25 29,5 29,0 26 19,5 19,0 27 20,1 20,8 28 23,4 22,6 29 12,2 12,6 1’ 4,95; d; J=8,0 102,6 4,22; d; J=7,5 100,8 2’ 75,4 73,4 3’ 78,7 76,7 4’ 4,31; t 71,7 4,39; t; J=5,8 70,1 5’ 78,5 76,6 6’ 4,59; dd 62,9 61,1  33  Nghiên cứu thành phần hóa học của cây gòn Ceiba pentandra (L.) Gaertner Trong đó: ở δH = 6,45 và δH = 6,79 có hai mũi đôi, J=2Hz tương ứng với hai proton của vòng benzen ở vị trí meta đối với nhau.Và ở δH = 7,16 và δH = 8,06 có hai mũi đôi-đôi, mỗi mũi (2H, dd, J=7 và 2Hz), tương ứng với bốn proton của vòng benzen thế para. Ở δH = 12,90 có mũi đơn đặc trưng của proton trong nối hydrogen nội phân tử của một nhóm –OH gần một nhóm >C=O của khung flavon. Hai mũi ở vùng δH từ 4,5-5 tương ứng với hai proton anomer của hai đường. Trong đó ở δH = 5,06 có một mũi đôi, J=7,5Hz tương ứng với một proton anomer có cấu hình β và ở 4,56 có một mũi đơn tương ứng với một proton anomer có cấu hình α. Ở vùng từ trường cao δH ≈ 3-4 là các mũi tương ứng với các proton của đường. Ngoài ra còn có một mũi đơn ở δH = 3,87 tương ứng với ba proton của một nhóm –OCH3 và ở δH = 1,08 có một mũi đôi, J=6,0Hz tương ứng với ba proton của nhóm –CH3 của đường rhamnose. ™ Phổ 13C-NMR (δppm) của hợp chất LGON–EA3 có các mũi chủ yếu ở vùng δC ≈ 90-130 tương ứng với các carbon của vòng benzen và ở vùng δC ≈ 156-164 tương ứng với các carbon của vòng benzen gắn nhóm –OH. Ngoài ra còn có các mũi ở δC = 182,0 là mũi của carbon >C=O, ở δC = 55,5 là mũi của carbon nhóm –OCH3 và ở δC = 17,8 là mũi của carbon nhóm –CH3 của đường rhamnose. Kết hợp số liệu phổ của hợp chất apigenin 7-O-(6’’-malonylglucosid) [18], số liệu phổ của đường rhamnose [12] và các phổ HSQC, HBMC đề nghị cấu trúc của hợp chất LGON–EA3 là 5-hydroxy-4'-metoxyflavon-7-O-[α-L-rhamnopyranosyl(1→6)- β-D-glucopyranosid]. Các giá trị phổ của hợp chất LGON–EA3 được trình bày trong bảng 2.3. 5-Hydroxy-4'-metoxyflavon 7-O-[α-L-rhamnopyranosyl(1→6)-β-D-glucopyranosid] O O OCH3 O OH 1'' 2''3'' 4'' 5'' 6''1''' 2'''3'''4''' 5'''6''' O OH O HO H3C HO H O H HO HOHO CH2 1' 1 29 8 6 3 7 410 5 2' 6' 4' 5' 3' Ha' Hb' Ha HaHb Hb  34  Nghiên cứu thành phần hóa học của cây gòn Ceiba pentandra (L.) Gaertner Bảng 2.4: Các giá trị phổ NMR của hợp chất LGON-EA3 và tài liệu [12,18] Hợp chất LGON-EA3 (DMSO) Tài liệu [18] (DMSO) Vị trí 1H (δ ppm, J Hz) 13C (δ ppm) HMBC (1H →13C) 13C (δ ppm) 2 163,9 164,5 3 6,94; s 103,8 2, 4, 10, 1’ 103,3 4 182,0 182,2 5 161,1 161,5 6 6,45; d; J=2,0 99,6 5, 7, 8, 10 99,8 7 162,9 162,9 8 6,79; d; J=2,0 94,8 6, 7, 9, 10 95,0 9 157,0 157,2 10 105,4 105,6 1’ 122,7 121,2 2’ 8,06; dd; J=7,0 và 2,0 128,4 2, 3’, 4’, 5’ 128,8 3’ 7,16; dd; J=7,0 và 2,0 114,7 1’, 2’, 4’, 6’ 116,2 4’ 162,4 161,3 5’ 7,16; dd; J=7,0 và 2,0 114,7 1’, 2’, 4’, 6’ 116,2 6’ 8,06; dd; J=7,0 và 2,0 128,4 2, 3’,4’, 5’ 128,8 –OCH3 3,90; s 55,5 4’ Glucose 1’’ 5,06; d; J=7,5 99,9 7 99,8 2’’ 3,27-3,31; m 73,0 1’’, 3’’ 73,2 3’’ 3,27-3,31; m 76,2 1’’, 2’’ 76,3 4’’ 3,13-3,17; m 69,6 69,7 5’’ 3,59-3,62; m 75,6 6’’ 74,0 6’’ 3,86; m 3,43-3,45; m 66,1 4’’, 5’’ 64,3 Rhamnose Tài liệu [12] (DMSO) 1’’’ 4,56; br 100,5 6’’, 2’’’, 3’’’, 5’’’ 101,9 2’’’ 3,67; br 70,3 70,1 3’’’ 3,45-3,48; m 70,7 70,6 4’’’ 3,13-3,17; m 72,0 3’’’ 73,8 5’’’ 3,39-3,42; m 68,3 70,2 6’’’ 1,08; d; J=6,0 17,8 4’’’, 5’’’ 17,8  35  Nghiên cứu thành phần hóa học của cây gòn Ceiba pentandra (L.) Gaertner 2.3.4 Xác định cấu trúc hợp chất VGON–ED6 Hợp chất VGON–ED6 được cô lập từ cao eter dầu hỏa của sơ đồ 2, dạng bột màu trắng. Nhiệt độ nóng chảy 101oC (kết tinh lại trong cloroform). ™ Sắc ký lớp mỏng silica gel (hình 5) cho vết tròn màu xanh tím với Rf = 0,50, hệ dung ly là eter dầu hỏa : etyl acetat tỉ lệ 7:3. ™ Phổ 1H-NMR (phụ lục 11a, 11b, 11c), δppm: Số liệu trình bày ở bảng 2.5. Biện luận cấu trúc: ™ Phổ 1H-NMR (δppm) của hợp chất VGON–ED6 có mũi ba ở δH = 5,35 tương ứng với proton ở C-6 và C-6’của hai hợp chất stigmasterol và β-sitosterol. Hai mũi đôi-đôi ở δH = 5,16 (J=15,8 và 8,8Hz) và ở δH = 5,02 (J=15,2 và 8,8Hz) tương ứng với hai proton ở C-22 và C-23 của hợp chất stigmasterol. Ngoài ra còn có một mũi bảy ở δH = 3,52 tương ứng với proton ở vị trí C-3 và C-3’. Dựa vào tỉ lệ tích phân của các mũi trên thấy tích phân mũi ba ở δH = 5,35 gấp đôi các mũi đôi-đôi ở δH = 5,16 và 5,02 cho thấy đây là hỗn hợp stigmasterol và β-sitosterol với tỉ lệ 1:1. Như vậy kết hợp với tài liệu [5] đề nghị hợp chất VGON–ED6 là hỗn hợp hai chất stigmasterol và β-sitosterol tỉ lệ 1:1. Stigmasterol 1:1 β-Sitosterol 2.3.5 Xác định cấu trúc hợp chất VGON–CLO3 Hợp chất VGON–CLO3 cô lập từ cao cloroform của sơ đồ 2, dạng bột màu đỏ cam. Nhiệt độ nóng chảy 163oC (kết tinh trong aceton). ™ Sắc ký lớp mỏng silica gel (hình 6) cho vết tròn màu vàng cam với Rf=0,60, hệ dung ly là cloroform : metanol tỉ lệ 95:5. ™ Phổ MS-ESI (phụ lục 12): cho mũi ion phân tử với m/z = 369,1 [M+H]+. HO 1 9 5 6 11 7 19 12 13 18 21 4 17 20 22 16 25 23 2724 29 28 26 HO 1' 9' 5' 10 6' 11' 8' 7' 19 15' 12' 13' 18' 21' 4' 3' 2' 17' 20' 22' 16' 14' 25' 23' 27'24 29' 28' 26' ' 10 8 15 3 2 14  36  Nghiên cứu thành phần hóa học của cây gòn Ceiba pentandra (L.) Gaertner ™ Phổ 1H-NMR (phụ lục 13a, 13b), δppm: Số liệu trình bày ở bảng 2.6. ™ Phổ 13C-NMR (phụ lục 14), δppm: Số liệu trình bày ở bảng 2.6. ™ Phổ HSQC (phụ lục 15a, 15b) và phổ HMBC (phụ lục 16a, 16b, 16c), δppm: Số liệu trình bày ở bảng 2.6. Biện luận cấu trúc: ™ Phổ 1H-NMR (δppm) của hợp chất VGON–CLO3 có các mũi chủ yếu ở vùng từ trường thấp δH ≈ 6-8. Ở δH = 6,47 có một mũi đôi, J=15,5Hz và ở δH = 7,59 có một mũi đôi, J=16,0Hz tương ứng với hai proton của một nối đôi với cấu hình trans. Các mũi đ

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf7.pdf
  • pdf1.pdf
  • pdf2.pdf
  • pdf3.pdf
  • pdf4.pdf
  • pdf5.pdf
  • pdf6.pdf
  • pdf8.pdf
  • pdf9.pdf
Luận văn liên quan