Luận văn Nguồn gốc, đặc điểm của đạo Cao Đài, ảnh hưởng của nó đối với đời sống tinh thần ở Tây Ninh

Tôn giáo hiện là một vấn đề phức tạp nhưng lại rất nhạy cảm trong mỗi nước và trên thế giới.Việc giải quyết đúng đắn vấn đề tôn giáo là yêu cầu vừa cấp bách vừa lâu dài của sự nghiệp phát triển đất nước. Cao Đài là một tôn giáo rất trẻ, xuất hiện vào đầu thế kỷ XX (1926) tại Nam Bộ. Ngay những ngày đầu thành lập, tôn giáo này đã lôi cuốn ồ ạt hàng vạn người, sau đó trở thành một trong những tôn giáo lớn ở Việt Nam. Tính đến năm 1975, chưa đầy nửa thế kỷ đã thu nạp gần 3 triệu tín đồ. Đây được xem là hiện tượng xã hội đặc biệt thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu văn hóa và lịch sử ở Việt Nam. Là một tôn giáo địa phương nhưng Cao Đài có bộ máy hành chính đạo khá chặt chẽ và hoàn chỉnh như bộ máy nhà nước từ Trung ương đến cơ sở. Lịch sử giáo hội tuy ngắn ngủi, song có thời kỳ lại cấu kết với đế quốc phản động để chống phá cách mạng. Bảy thập kỷ trôi qua với bao chuyển biến lớn lao của thời cuộc, đạo Cao Đài cũng biến động phức tạp. Vì vậy việc nghiên cứu tôn giáo Cao Đài, trong đó việc tìm hiểu ảnh hưởng của nó đối với đời sống tinh thần trong nhân dân, đặc biệt đối với đồng bào có đạo là đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách.

pdf102 trang | Chia sẻ: lvbuiluyen | Ngày: 29/11/2013 | Lượt xem: 6607 | Lượt tải: 49download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Nguồn gốc, đặc điểm của đạo Cao Đài, ảnh hưởng của nó đối với đời sống tinh thần ở Tây Ninh, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
1 LUẬN VĂN: Nguồn gốc, đặc điểm của đạo Cao Đài, ảnh hưởng của nó đối với đời sống tinh thần ở Tây Ninh 2 Mở Đầu 1. Tính Cấp Thiết Của Đề Tài Tôn giáo hiện là một vấn đề phức tạp nhưng lại rất nhạy cảm trong mỗi nước và trên thế giới.Việc giải quyết đúng đắn vấn đề tôn giáo là yêu cầu vừa cấp bách vừa lâu dài của sự nghiệp phát triển đất nước. Cao Đài là một tôn giáo rất trẻ, xuất hiện vào đầu thế kỷ XX (1926) tại Nam Bộ. Ngay những ngày đầu thành lập, tôn giáo này đã lôi cuốn ồ ạt hàng vạn người, sau đó trở thành một trong những tôn giáo lớn ở Việt Nam. Tính đến năm 1975, chưa đầy nửa thế kỷ đã thu nạp gần 3 triệu tín đồ. Đây được xem là hiện tượng xã hội đặc biệt thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu văn hóa và lịch sử ở Việt Nam. Là một tôn giáo địa phương nhưng Cao Đài có bộ máy hành chính đạo khá chặt chẽ và hoàn chỉnh như bộ máy nhà nước từ Trung ương đến cơ sở. Lịch sử giáo hội tuy ngắn ngủi, song có thời kỳ lại cấu kết với đế quốc phản động để chống phá cách mạng. Bảy thập kỷ trôi qua với bao chuyển biến lớn lao của thời cuộc, đạo Cao Đài cũng biến động phức tạp. Vì vậy việc nghiên cứu tôn giáo Cao Đài, trong đó việc tìm hiểu ảnh hưởng của nó đối với đời sống tinh thần trong nhân dân, đặc biệt đối với đồng bào có đạo là đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách. Dựa vào quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo làm cơ sở lý luận, lấy phép biện chứng duy vật làm phương pháp phân tích, kết hợp giữa phương pháp lôgíc và lịch sử để diễn đạt, luận văn cố gắng trình bày lịch sử hình thành và phát triển, những biểu hiện và xu hướng biến đổi của đạo Cao Đài, đặc biệt phân tích ảnh hưởng của đạo Cao Đài đối với đời sống tinh thần ở Tây Ninh hiện nay. Trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp phù hợp để giải quyết vấn đề tôn giáo Cao Đài, góp phần xây dựng và phát triển đời sống tinh thần của nhân dân một cách phong phú lành mạnh. 3 2. Tình Hình NGHIÊN Cứu Đề Tài Hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này ở nhiều khía cạnh khác nhau. Có thể dẫn ra: Ông Trần Văn Giàu với tác phẩm "Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945" (KHXH 4/1975); Nguyễn Thành Danh viết về "Sự thật của một giáo phẩm", xí nghiệp in Hoàng Lê Kha - Tây Ninh năm (1978); Giáo sư Trần Quang Vinh "Lịch sử của đạo Cao Đài (1926-1937)"; Lê Anh Dũng "Lịch sử đạo Cao Đài thời kỳ tiềm ẩn (1920-1926)"; Nguyễn Chí Mỳ "Tôn giáo và hiện thực - một số những vấn đề đặt ra hiện nay", Tạp chí Triết học (số 2-1998); Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn "Đạo Cao Đài một khách thể một thế ứng xử", (30/10/1993); Hiến Chương Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Tòa thánh Tây Ninh (1997); "Một số tôn giáo lớn ở Việt Nam", Ban Tôn giáo Chính phủ, Hà Nội (1995); "Những vấn đề tôn giáo hiện nay", Viện nghiên cứu tôn giáo, NXB KHXH (1994); "Các hình thức tôn giáo sơ khai và sự phát triển của chúng", NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội (1994); Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn "Bước đầu tìm hiểu đạo Cao Đài" NXB KHXH (1995); cùng một số luận văn về tôn giáo Cao Đài như: Nguyễn Văn Ron: "Bước đầu tìm hiểu một số biểu hiện đặc thù của đạo Cao Đài" (1995); Võ Văn Phuông "Đạo Cao Đài và quá trình đấu tranh loại bỏ mặt chính trị phản động của giáo phái Cao Đài Tây Ninh trong giai đoạn cách mạng hiện nay" (1995); Lê Ngọc Hòa "Lễ hội Cao Đài Tây Ninh (1997)"... Những công trình đó đã đề cập nhiều khía cạnh quan trọng của các yếu tố về tôn giáo nói chung và Cao Đài nói riêng. Tuy nhiên thực trạng luôn đặt ra nhiều vấn đề và trên thực tế chưa có nhiều công trình đi sâu nghiên cứu đạo Cao Đài dưới góc độ triết học. Đó là sự bỏ ngỏ của chúng ta về nhận thức, khi thực tế những tín đồ Cao Đài ở miền Nam có đến hơn 2 triệu người. Vì vậy đề tài này muốn góp một tiếng nói nhỏ vào sự nghiên cứu đạo Cao Đài dưới góc độ triết học. 4 3. Mục Đích Nhiệm Vụ NGHIÊN Cứu Của Luận VĂN Mục đích: Trên cơ sở làm sáng tỏ nguồn gốc, đặc điểm của đạo Cao Đài, luận văn phân tích những ảnh hưởng của nó đối với đời sống tinh thần ở Tây Ninh. Từ mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau đây: - Trình bày nguồn gốc và đặc điểm của đạo Cao Đài. - Phân tích ảnh hưởng của đạo Cao Đài đối với đời sống tinh thần ở Tây Ninh. - Đề xuất một số giải pháp để xây dựng đời sống tinh thần ở Tây Ninh liên quan đến ảnh hưởng của đạo Cao Đài. 4. CƠ Sở Lý Luận Và PHƯƠNG Pháp NGHIÊN Cứu - Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm về tôn giáo của Đảng cộng sản Việt Nam nhất là trong các văn kiện đại hội VI, VII, VIII, các Nghị định văn bản của Chính phủ về tôn giáo để phân tích những vấn đề đặt ra. - Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, trong đó đặc biệt chú trọng phương pháp phân tích và tổng hợp, kết hợp lịch sử 5 với lôgíc. 5. Đối Tượng Phạm VI NGHIÊN Cứu Đây là một công trình nghiên cứu về tôn giáo Cao Đài Tây Ninh, dưới góc độ triết học. Đạo Cao Đài có mặt ở nhiều địa phương nhưng tập trung nhất vẫn là ở Tây Ninh. Do vậy đề tài nghiên cứu giới hạn ở Cao Đài Tây Ninh. Sự khảo sát cũng chủ yếu là những ảnh hưởng của đạo Cao Đài đối với đời sống tinh thần trong nhân dân tỉnh Tây Ninh. 6. Đóng Góp Của Luận VĂN - Đóng góp về mặt khoa học: Luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm sự hình thành phát triển và những đặc điểm của đạo Cao Đài. - Bước đầu phân tích đánh giá những ảnh hưởng của đạo Cao Đài với đời sống tinh thần ở Tây Ninh, từ đó đề xuất một số giải pháp để xây dựng, phát triển đời sống tinh thần của nhân dân ở địa phương. * ý nghĩa thực tiễn của luận văn. Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và học tập triết học nhất là chuyên đề về tôn giáo. Luận văn cũng sẽ bổ ích cho những nhà hoạch định chủ trương chính sách đối với công tác tôn giáo, nhất là đạo Cao Đài. 7. Kết cấu Của Luận VĂN 6 Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương, 7 tiết. 7 Chương 1 Lịch Sử Hình Thành Phát Triển Và Những Đặc Điểm Của Đạo CAO Đài Từ giữa thế kỷ XIX cho đến nay, không riêng gì ở Việt Nam, trên thế giới xuất hiện nhiều thứ đạo cùng với sự tiếp tục tồn tại các tôn giáo cũ, hàng loạt các giáo phái mới ra đời. Nhiều phong trào xã hội, chính trị xuất hiện mang màu sắc tôn giáo. Theo thống kê, chỉ riêng trong thế kỷ XX, trên thế giới có trên ba, bốn ngàn hiện tượng tôn giáo lớn nhỏ ra đời nhưng số trụ lại được với thời gian không nhiều chỉ khoảng hơn chục đạo tồn tại với số tín đồ khiêm tốn, phần đông là từ các tôn giáo khác tách ra. Những tôn giáo đó đều có chung một đặc điểm là: phải dựa vào các tôn giáo truyền thống ở nơi xuất phát, biến đổi ít nhiều về mặt giáo lý và nghi thức, dưới nhãn hiệu cải cách, canh tân, thêm hoặc bớt những yếu tố trong điều kiện xu thế giao lưu văn hóa được mở rộng. Các đạo giáo mới đó tìm ra được mục đích hấp dẫn bằng nhiều vẻ: cả về tôn giáo, chính trị, kinh tế, văn hóa..., trước hết với quần chúng tại chỗ, sau đó mới phát triển ra bên ngoài. Những tôn giáo đứng được phụ thuộc nhiều vào bản thân (nội dung, hình thức), vào các nhân vật sáng lập và nhất là đáp ứng được tâm lý xã hội của quần chúng tín đồ. ở đó quần chúng thấy được một cái gì hấp dẫn (tuy có thể nhiều hay ít) so với các tôn giáo cùng thời. Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ gọi tắt là đạo Cao Đài, một tôn giáo rất trẻ xuất hiện vào đầu thế kỷ XX trên mảnh đất Nam Bộ, đã tồn tại và phát triển được do đáp ứng được những nhu cầu này, do đã tìm ra được một lực thu hút, một cung cách thích hợp tâm linh tôn giáo của những người nông dân tứ xứ Nam Bộ, trong đó có Tây Ninh. 1.1. Hoàn Cảnh KINH Tế Xã Hội Với Sự Hình Thành Và Phát Triển Của Đạo CAO Đài 8 Sự xuất hiện của một tôn giáo mới hay một hiện tượng tôn giáo không bao giờ là điều ngẫu nhiên, mà nó được qui định bởi một bối cảnh lịch sử nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu tâm lý, tín ngưỡng của một bộ phận cộng đồng dân cư, cộng đồng lãnh thổ trước khi trở thành phổ biến. Chính vì thế, đạo Cao Đài cũng như các tôn giáo khác chỉ là hình thái ý thức xã hội ra đời gắn liền với quá trình phát triển của xã hội. Suy cho cùng sự ra đời, phát triển và mất đi của một tôn giáo là do sự phát triển của điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội nhất định. Muốn tìm nguồn gốc ra đời của tôn giáo nào phải tìm ngay ở "thế giới trần tục" chứ không phải ở đấng siêu nhiên nào. Khoa học mác xít kiên quyết bác bỏ những lời khẳng định thiếu khoa học của những nhà thần học rằng: tôn giáo ra đời do ý định của đấng siêu nhiên nào đó. Ăngghen nói: "Bất cứ tôn giáo nào cũng đều chỉ là sự phản ánh hư ảo vào đầu óc người ta những sức mạnh ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ, chỉ là sự phản ánh mà trong đó có sức mạnh ở thế gian mang hình thức siêu thế gian" [1, 547-549]. Luận điểm trên giúp cho ta hướng nghiên cứu vào điều kiện kinh tế - chính trị - tư tưởng cho sự xuất hiện tôn giáo nói chung và đạo Cao Đài nói riêng. Nói cách khác, sự xuất hiện và phát triển của đạo Cao Đài có thể lý giải bằng chính môi trường sinh ra nó. Hoàn cảnh kinh tế - chính trị - xã hội Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Pháp là nước thắng trận song cũng là nước bị tổn thất nặng nề nhất, lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng. Để hàn gắn vết thương chiến tranh, đế quốc Pháp ra sức bóc lột thuộc địa ở Đông Dương nơi có thể đáp ứng được những đòi hỏi của thị trường thế giới lúc bấy giờ. Trong đó Việt Nam là một trong những trọng điểm của chính sách bóc lột ấy, trở thành miếng mồi ngon cho bọn tư bản tài chính Pháp. Tình hình đó dẫn đến những biến đổi lớn về chính trị, kinh tế, xã hội nước ta thời bấy giờ. Vào những năm cuối của thế kỷ XIX và khoảng 20 năm đầu của thế kỷ XX, xã hội Việt Nam là xã hội thuộc địa của chủ nghĩa thực dân cũ của Pháp. Khác với Trung 9 bộ, Bắc bộ, Nam Bộ là nơi thực dân Pháp áp đặt quyền cai trị trực tiếp với một bộ máy giúp việc người Việt. Trong lĩnh vực nông nghiệp, thực dân Pháp không xóa bỏ địa chủ phong kiến mà duy trì dung dưỡng để biến chúng thành tên lính xung kích trong việc cướp ruộng đất của nông dân và bóc lột sức lao động của nhân dân ta. Chúng đầu tư và mở rộng một số xí nghiệp công thương nghiệp sẵn có, đặc biệt là mở ra những đồn điền cao su ở vùng đất đỏ Nam kỳ và Cao Miên, chiếm đoạt hàng loạt mẫu ruộng, đất rừng, đồng cỏ, cùng với nó là thi hành chế độ mộ phu cực kỳ tàn bạo. Chính sách thuế khóa nặng nề, hàng trăm thứ thuế bất công được đặt ra, các độc quyền rượu, thuốc phiện, muối, vừa thâm độc vừa tàn ác, vừa đem lại nhiều lợi nhuận cho ngân khố thực dân Pháp, vừa đầu độc dân ta về thể xác lẫn tinh thần. Chính sách thuế nặng nề, cộng với nạn cho vay nặng lãi mà thủ phạm chính là ngân hàng Đông Dương của chủ nghĩa tư bản tài chính Pháp đã bao trùm lên làng quê Việt Nam như một bệnh dịch khủng khiếp. Nông dân mất đất, một số ít vào nhà máy, xí nghiệp hầm mỏ đồn điền của Pháp và của một số tư bản Việt Nam để bán sức lao động trở thành người công nhân, còn đại đa số trở thành những tá điền bán sức lao động ngay trên mảnh đất của chính mình trước đây, hoặc lang thang vất vưởng không có việc làm. Tất cả các giai cấp trong xã hội Việt Nam lúc đó tuy mức độ khác nhau, hoặc ít hoặc nhiều có mâu thuẫn với thực dân Pháp. Mâu thuẫn cơ bản trong thời kỳ này là mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp và mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ. Nhưng mâu thuẫn nổi lên, mâu thuẫn chủ yếu vẫn là giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với bọn đế quốc xâm lược Pháp. Tình hình ấy đã đưa cuộc đấu tranh của tầng lớp nhân dân nhất là ở Nam Bộ chống thực dân Pháp ngày càng quyết liệt. Tuy nhiên, do hạn chế của giai cấp mình, nông dân không thể tự giải phóng được. Lúc đó lại chưa có sự lãnh đạo dìu dắt của 10 Đảng cộng sản - một chính Đảng của giai cấp vô sản, do vậy, cuộc đấu tranh của nhân dân lần lượt bị thực dân Pháp dìm trong bể máu. Bế tắc trong cuộc sống và bế tắc trong đấu tranh chống thực dân Pháp càng thúc đẩy số đông quần chúng tìm đến tôn giáo, trong đó đạo Cao Đài, những mong được sự an ủi che chở, do tôn giáo này khi mới xuất hiện ít nhiều mang tính phản kháng xã hội đương thời. Một vấn đề tư tưởng quan trọng dẫn đến sự ra đời và phát triển của đạo Cao Đài là sự khủng hoảng, suy thoái của các tôn giáo, đạo lý đương thời. Nhân dân Nam Bộ có nhu cầu tín ngưỡng rất lớn. Khi đạo Cao Đài chưa ra đời, số đông nhân dân theo đạo Phật, đạo Nho và một số ít theo đạo Công giáo. Nhưng đến giai đoạn này, những tôn giáo ấy mất dần uy tín vì chậm thích nghi với sự phát triển của xã hội. Đạo Công giáo lúc đó dưới mắt của người Nam Bộ, gắn liền với sự xâm lược của thực dân Pháp, nên bị nghi ngờ, thậm chí khinh ghét. Đạo Nho là một học thuyết đạo đức, chính trị chỉ phù hợp với chế độ quân chủ nông nghiệp, đến nay không còn thích hợp với nhân dân Nam Bộ đang chuyển sang nền kinh tế thị trường với sự phát triển của công nghiệp và xu hướng Âu hóa (do Pháp áp dụng ở Nam kỳ chế độ thuộc địa trực trị). Đạo Phật tiểu thừa tại chỗ với phương châm "Tự độ, tự tha" chỉ giải thoát cho ai xuất gia tu hành, khó hòa nhập với phong tục, lối sống của người Nam Bộ. Đạo Phật Đại thừa bị suy vị từ mấy thế kỷ trước, nay lại chia rẽ thêm nhiều tông phái, nhất là sự xâm nhập các yếu tố mê tín dị đoan của đạo Lão. Đạo thờ cúng tổ tiên trong đó có đạo ông bà, tuy gần gũi nhưng chưa đủ thỏa mãn tâm linh tôn giáo... Nói tóm lại, sự suy sụp của các tôn giáo và đạo lý đương thời đã tạo ra khoảng trống về tư tưởng tín ngưỡng, tạo điều kiện cho đạo Cao Đài ra đời và phát triển. Tham gia trực tiếp vào việc hình thành đạo Cao Đài còn có tục cầu hồn, cầu tiên và nhất là tư tưởng "Tam giáo đồng nguyên" (Phật, Lão, Nho) vốn có ở nước ta từ lâu đời. Đặc biệt, từ đầu năm 1920, phong trào "Thần linh học" một hình thức mê tín của các nước phương Tây, tương tự như tục cầu hồn, cầu tiên, đã thâm nhập vào Nam Bộ, được đông đảo tầng lớp trung lưu: tư sản, địa chủ, tiểu tư sản, công chức đón nhận. Nó nhanh chóng hòa nhập với tục cầu tiên, trở thành phong trào "cầu cơ" - "chấp bút" (gọi 11 tắt là cơ bút) phát triển khá sôi nổi trong những năm 1924 - 1925 - 1926 ở vùng Sài Gòn, Gia Định, Cần Thơ, Mỹ Tho, Tân An... dẫn đến việc ra đời đạo Cao Đài. Có thể nói sự ra đời và phát triển của đạo Cao Đài ở Nam Bộ vào những năm đầu thế kỷ XX là do tổng hợp những nguyên nhân. Đó là: sự bế tắc của nhân dân trong cuộc sống; đấu tranh chống thực dân Pháp thất bại do chưa có đường lối chính trị đúng đắn soi đường; sự thoái hóa của các tôn giáo đương thời và truyền thống "tam giáo đồng nguyên". Cộng vào đó, là tục cầu hồn, cầu tiên và sự thâm nhập của tâm linh học... Nếu không có những nguyên nhân trên thì một nhóm tư sản, địa chủ, tiểu tư sản, công chức Pháp - những người sáng lập đạo Cao Đài cũng không thể ra đời và phát triển được. Nhìn chung, đạo Cao Đài ra đời trong bối cảnh lịch sử nhất định và phát triển mạnh mẽ trong cộng đồng dân cư Nam Bộ dưới chiêu bài hòa bình, tự do, dân chủ. Cơ sở của đạo Cao Đài là người nông dân yêu nước, trong khi hạt nhân lãnh đạo lại là những tri thức công chức, do Pháp đào tạo và làm việc cho Pháp, cho nên định hướng của từng chi phái chịu ảnh hưởng khá mạnh tinh thần yêu nước hay mưu cầu danh lợi cá nhân của hạt nhân lãnh đạo. Về mặt tín đồ, theo số liệu Ban Dân vận Trung ương đến năm 1975 số tín đồ Cao Đài đã lên đến 3 triệu người. Lực lượng đông đảo tín đồ là quần chúng nông dân lao động yêu nước, họ vào đạo vì nhiều lý do khác nhau, có thể vì mê tín, vì lầm lạc, vì mâu thuẫn giai cấp, vì lợi ích riêng tư, hoặc bị cưỡng ép phải "nhập môn". Bản chất của tín đồ là tốt, mong muốn độc lập, tự do, hạnh phúc. Người tín đồ Cao Đài gắn bó với đạo vì tư tưởng đoàn kết tương trợ, thương yêu đùm bọc lẫn nhau trong sản xuất và trong sinh hoạt xã hội. Song, trong quá trình theo đạo họ bị đầu độc bằng giáo lý mơ hồ, phản động, bằng luận điệu chống cộng, bị quyến rũ bằng lợi ích vật chất, bị khống chế, kìm kẹp bởi bộ máy hành chính đạo và ngụy quân, ngụy quyền. Vì thế nhiều người, đôi khi họ nhìn cách mạng, một cách sai lệch, lẫn lộn giữa bạn và thù. Một vấn đề quan trọng là đạo Cao Đài dù phát triển khá nhanh và mạnh nhưng không phải tuyệt đại đa số nhân dân một khu vực hành chính nào đó đều là tín đồ Cao Đài. Ngay tỉnh Tây Ninh, tín đồ Cao Đài chỉ chiếm dưới 50% dân số (thống kê tín đồ Cao Đài các tỉnh Nam Bộ năm 1943, 1966, 1993 cũng cho thấy tình hình như thế). Phát triển 12 ra miền Trung và miền Bắc Việt Nam thì kết quả không cao lắm vì bối cảnh ra đời của đạo Cao Đài liên quan chặt chẽ đến cư dân Nam Bộ. Tình hình trên cùng nội dung của giáo lý Cao Đài trong bước đầu xây dựng chưa được trọn vẹn, nếu không có sự thay đổi sẽ không còn sức thuyết phục, nếu trình độ dân trí được nâng cao, nhất là khi những yếu tố công nghiệp và khoa học kỹ thuật len dần vào nông thôn. Đó là điều cần suy nghĩ về tương lai của đạo Cao Đài [46, 145]. 1.2. Những Đặc Điểm của Đạo CAO Đài Ra đời năm 1926 đến nay đạo Cao Đài vẫn tồn tại như một tôn giáo ở Việt Nam và được Nhà nước công nhận. Tòa thánh Cao Đài Tây Ninh, Trung ương của phái Cao Đài Phổ Độ do Phạm Công Tắc, Lê Văn Trung và Cao Hoài Sang lãnh đạo là nơi sinh hoạt mạnh mẽ nhất của đạo Cao Đài, với sự tập trung tín đồ cao nhất và là chi gốc từ đó phân tách ra hầu hết các hệ phái khác. Vì vậy, có thể nói Cao Đài Tây Ninh mang tính tiêu biểu cho những đặc điểm sinh hoạt tôn giáo của đạo Cao Đài, vì hầu hết các hệ phái đều xây dựng giáo hội theo Pháp chánh truyền - Tân luật được xây dựng từ những năm đầu thành lập đạo. 1.2.1. Những nét tương đồng và khác biệt của đạo Cao Đài đối với các tôn giáo khác - Xét về nguồn gốc: đạo Cao Đài ra đời cũng giống như các tôn giáo lớn khác là đều bắt nguồn từ hiện thực xã hội. Đạo Phật ra đời ở ấn Độ bắt nguồn từ những trào lưu tư tưởng chống lại chế độ đẳng cấp và đạo Bà La môn; Đạo Công Giáo ra đời khoảng thế kỷ thứ IV - II (trước công nguyên), do những mâu thuẫn cơ bản, sâu sắc và quyết liệt giữa chủ nô và nô lệ. Nó đã bùng nổ thành các cuộc khởi nghĩa vũ trang mang tính quần chúng rộng rãi chống lại các giai cấp chủ nô và quân xâm lược không chỉ ở những vùng bị chinh phục mà ngay cả chính quốc. Tuy nhiên, đế quốc La Mã lúc đó còn rất mạnh đã nhanh chóng đàn áp các cuộc khởi nghĩa một cách dã man tàn bạo. Trong tâm 13 trạng mệt mỏi và tuyệt vọng, quần chúng lao khổ trông chờ vào sự giúp đỡ của lực lượng siêu nhiên, một vị thần hay một đấng cứu thế để đánh đổ đế quốc La Mã, giải phóng dân tộc xây dựng một vương quốc của sự công bằng. Tôn giáo ra đời trong hoàn cảnh như thế. Đối với đạo Cao Đài cũng xuất phát từ hoàn cảnh chính trị xã hội, nhưng nguyên nhân ra đời của đạo Cao Đài là một vấn đề còn có cách nhìn nhận khác nhau. Theo thống kê của Fayne Su san Werner trong giới sáng lập Cao Đài có 39% là địa chủ; 37% là tiểu tư sản; 8% là kỳ hào; 16% là các nhân vật hoạt động tôn giáo [34, 2]. Như vậy trong chừng mực nhất định cũng có thể so sánh sự ra đời của Đạo Cao Đài với đạo Ki tô sơ kỳ -phong trào của nô lệ và các dân tộc Phương Đông chống lại sự xâm lược của Đế quốc La Mã thời Cổ đại. Tuy nhiên có sự khác nhau giữa đạo Ki tô và đạo Cao Đài. Đạo Ki tô do những người nô lệ khởi xướng, còn đạo Cao Đài do những tầng lớp trên (tư sản, địa chủ, tiểu tư sản) chủ trương. - Xét về tính chất chính trị: Các tôn giáo theo mức độ đều mang bản sắc hoặc ảnh hưởng ít nhiều tính chất chính trị sâu sắc, nhưng đối với đạo Cao Đài màu sắc chính trị lại nổi bật. Biểu hiện trước hết đạo Cao Đài là sản phẩm của giai cấp địa chủ và tư sản. Với tổ chức này họ đầu cơ chính trị, lợi dụng sự bế tắc của nhân dân Nam Bộ trong cuộc đấu tranh yêu nước, để qui tụ lực lượng thực hiện ý đồ giành quyền
Luận văn liên quan