Luận văn Phân tích chiến lược kinh doanh của bia Hà Nội HABECO

Về sản lượng sản xuất: Việt Nam đứng thứ 13 thế giới về sản xuất bia (năm 2011, nhảy từ thứ hạng 20 năm 2008), là thị trường lớn thứ 3 Châu Á (sau Trung Quốc, Nhật Bản); tuy nhiên sản lượng mới chỉ chiếm 1,14 % sản lượng toàn cầu; (ii) Tiêu thụ bia bình quân đầu người tăng nhanh: hiện mức tiêu thụ là 28 lít trên/đầu người/năm; gấp đôi giai đoạn 2005-2011 và tăng gấp 3 so với năm 1995. Khả năng mức tiêu thụ còn có thể nâng lên, vì còn thấp so với mức 37 lít và 47 lít của người Hàn Quốc, Nhật Bản; và bằng khoảng 1/10 so với Châu Âu; (iii) Lợi nhuận biên còn cao, do 3/4 lượng bia được tiêu thụ trực tiếp, uống tại chỗ; rất ít qua kênh siêu thị, bán lẻ. Theo nghiên cứu của APB, biên lợi nhuận ngành bia Việt Nam cao hơn 50% so với các nước cùng khu vực Châu Á thái bình dương

doc45 trang | Chia sẻ: lvbuiluyen | Ngày: 06/11/2013 | Lượt xem: 2440 | Lượt tải: 22download
Tóm tắt tài liệu Luận văn Phân tích chiến lược kinh doanh của bia Hà Nội HABECO, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Luận văn Phân tích chiến lược kinh doanh của bia Hà Nội HABECO Lớp : 1307SMGM0111 Nhóm : 08 Họ và tên SV : Nguyễn Thị Ngọc Trâm Trần Hồ Thu Lê Thị Thủy Nguyễn Thị Thúy Đặng Thị Trang Phạm Thị Thùy Nguyễn Thị Huyền Trang Phạm Thị Thu Trang Tống Thị Trang PHIẾU PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC DOANH NGHIỆP Tên đầy đủ DN : Tổng Công ty cổ phần Bia - Rượu - Nước giải khát Hà Nội Tên giao dịch: Hanoi Beer-Alcohol and beverage joint stock corporation Tên viết tắt DN : HABECO. Trụ sở : 183 Hoàng Hoa Thám – Quận Ba Đình – Thành phố Hà Nội Ngày tháng năm thành lập : 06/05/2003 Loại hình doanh nghiệp : Doanh nghiệp quốc doanh của nhà nước được thành lập theo quyết định 75/2003/QĐ-BCN ngày 06/05/2003 của Bộ trưởng Bộ Công Nghiệp và được chuyển đổi hoạt động tổ chức theo mô hình công ty mẹ-con theo quyết định số 36/2004/QĐ-BCN ngày 11/05/2004 của Bộ trưởng Bộ Công Nghiệp Tel : ( 84.4) 8.453843 | Fax ( 84.4) 8.464549 Website: Ngành nghề kinh doanh của DN  (Theo giấy chứng nhận đăng kí số 113641 - DNNN) : Ngành nghề chủ yếu của Tổng công ty gồm: Sản xuất, kinh doanh Bia - Rượu - Nước giải khát và Bao bì; Xuất nhập khẩu nguyên liệu, vật tư, thiết bị, phụ tùng, phụ liệu, hoá chất; Dịch vụ khoa học công nghệ, tư vấn đầu tư, tạo nguồn vốn đầu tư, Tổ chức vùng nguyên liệu, kinh doanh bất động sản, Các dịch vụ và ngành nghề khác theo luật định Xác định các hoạt động kinh doanh chiến lược (SBU) : 1-  Sản xuất bia 2-  Sản xuất rượu 3-  Kinh doanh đầu tư bất động sản và văn phòng cho thuê Tầm nhìn, Sứ mạng kinh doanh của DN : Tầm nhìn chiến lược : Xây dựng HABECO thành một trong những Tổng Công ty vững mạnh, giữ vai trò chủ đạo trong Ngành công nghiệp sản xuất Bia, Rượu, Nước giải khát và trở thành một trong những doanh nghiệp hàng đầu của Châu Á về sản xuất kinh doanh Bia. Sứ mạng kinh doanh : Duy trì và phát triển sản phẩm Bia Hà Nội luôn là nét tinh hoá trong văn hoá ẩm thực của “Người Tràng An” và là niềm tự hào của Hà Nội. Một số chỉ tiêu tài chính cơ bản : năm 2012 (đơn vị : VNĐ) Tổng doanh thu : 8.919.305.204.135 Doanh thu thuần : 6.466.122.806.662 Lợi nhuận trước thuế : 1.338.095.354.571 Lợi nhuận sau thuế : 981.432.835.227 Tổng tài sản : 7.860.529.848.170 Tổng nguồn vốn : 7.860.529.848.170 Tỷ suất sinh lời : Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) =1.25 PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI : Ngành kinh doanh của doanh nghiệp : Ngành Bia - Tốc độ tăng trưởng năm 2009: Năm 2009, Việt Nam tiêu thụ 1,6 tỷ lít bia - Tốc độ tăng trưởng năm 2010 : Tổng sản lượng bia khoảng 2.59 tỷ lít, tăng ~ 62% so với năm 2009 - Tốc độ tăng trưởng năm 2011 : Năm 2011, sản lượng bia đạt 2.620 triệu lít, nộp ngân sách là 13.600 tỷ đồng tương đương khoảng 4% tổng thu ngân sách, tăng 4% so với 2010 -Năm 2012 sản lượng bia toàn ngành Việt Nam đạt 2,8 triệu lít, tăng 8% so với năm 2011. Giai đoạn trong chu kỳ phát triển của ngành : Ngành đang trong giai đoạn tăng trưởng trong chu kỳ, do : (i) Về sản lượng sản xuất: Việt Nam đứng thứ 13 thế giới về sản xuất bia (năm 2011, nhảy từ thứ hạng 20 năm 2008), là thị trường lớn thứ 3 Châu Á (sau Trung Quốc, Nhật Bản); tuy nhiên sản lượng mới chỉ chiếm 1,14 % sản lượng toàn cầu; (ii) Tiêu thụ bia bình quân đầu người tăng nhanh: hiện mức tiêu thụ là 28 lít trên/đầu người/năm; gấp đôi giai đoạn 2005-2011 và tăng gấp 3 so với năm 1995. Khả năng mức tiêu thụ còn có thể nâng lên, vì còn thấp so với mức 37 lít và 47 lít của người Hàn Quốc, Nhật Bản; và bằng khoảng 1/10 so với Châu Âu; (iii) Lợi nhuận biên còn cao, do 3/4 lượng bia được tiêu thụ trực tiếp, uống tại chỗ; rất ít qua kênh siêu thị, bán lẻ. Theo nghiên cứu của APB, biên lợi nhuận ngành bia Việt Nam cao hơn 50% so với các nước cùng khu vực Châu Á thái bình dương (iv) Tốc độ tăng trưởng hiện nay khá cao, khoảng 13-15%/năm (dù đã giảm nhiều so với giai đoạn 1990-2000 tăng trưởng ớ mức 20%-30%/năm); (v) Ngành Bia vẫn phát tài trong khủng hoảng. Năm 2008 là năm Việt Nam đạt kỷ lục lạm phát gần 20% nhưng người dân cũng không vì thế mà cắt giảm chi phí nhậu. Đến nay kinh tế vẫn chưa hết khó khăn nhưng ngành bia vẫn “phát tài” do người dân khó "cai". àViệt Nam đứng thứ 13 trên thế giới về sản xuất bia, là quốc gia có có mức tăng trưởng cao về sản lượng trong mười năm qua là 240,4,%. Với 350 cơ sở sản xuất bia, tập trung quanh khu vực các thành phố lớn; và vẫn tiếp tục gia tăng về số lượng, Bia Việt Nam sản xuất đang đáp ứng đủ tiêu dùng nội địa. Vào những thời điểm kinh tế khó khăn, doanh số bán hàng của các hãng bia danh tiếng tại các thị trường trên thế giới đều giảm, riêng tại thị trường Việt Nam thì vẫn tăng. Điều này cho thấy nhu cầu tiêu dùng bia của Việt Nam rất khủng khiếp. Đánh giá tác động của môi trường vĩ mô : Nhận dạng các nhân tố môi trường có tác động mạnh nhất (Hiện nay và trong dài hạn) đến DN ? Doanh nghiệp Nhân tố kinh tế Nhân tố văn hóa – xã hội Nhân tố công nghệ Nhân tố Chính trị -pháp luật 1.1. Môi trường Chính phủ, luật pháp và chính trị (P): Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đang nỗ lực phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa chính vì vậy vấn đề đặt ra cho Việt Nam là phải xây dựng và hoàn thiện cơ chế chính sách, hệ thống pháp luật và các văn bản dưới luật nhằm tạo hành lang pháp lý rõ ràng, chuẩn mực và hiệu quả để tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy các doanh nghiệp phát triển. Tuy nhiên, rượu bia là những sản phẩm mà Nhà nước không khuyến khích sử dụng. Chính phủ đã và sẽ ban hành nhiều chính sách có tác động đến Ngành Bia-Rượu-Nước giải khát để đảm bảo sự phát triển hài hoà cho toàn xã hội. Do đó hoạt động quản trị, kinh doanh của các doanh nghiệp bị ảnh hưởng ít hay nhiều là điều khó tránh khỏi. à Bia là mặt hàng nước uống chứa cồn không được khuyến khích à Thách thức 1.2. Môi trường kinh tế (E): Năm 2010 và 2011, kinh tế thế giới đang dần bước ra khỏi khủng hoảng nhưng tốc độ phục hồi còn chập chạp và tiếp tục là những năm có nhiều khó khăn với những diễn biến phức tạp của kinh tế trong và ngoài nước. Ở Việt Nam, tăng trưởng GDP trung bình là 7% năm nhưng năm 2010 tốc độ tăng trưởng chỉ đạt 6,78% trong khi chỉ số lạm phát lên tới 11,75%. Việt Nam vẫn giữ vị trí nước thứ ba có sản lượng tiêu thụ bia cao nhất châu Á, sau Nhật và Trung Quốc. Trong 10 năm qua, tốc độ tiêu thụ bia của người Việt Nam đã tăng hơn 200%. Quy mô Ngành bia Việt Nam năm 2012 ước đạt 4,6 tỷ USD (chiếm 3,7% GDP), tốc độ bình quân tăng trưởng là 11-15%. Thu nhâp bình quân đầu người tăng (gấp 10 lần từ 1994 đến 2012, đạt gần 1.600 USD) và dân số ở độ tuổi uống bia (20-40 tuổi) được dự báo tăng 5%/năm, tương đương mức tiêu thụ sẽ tăng thêm 1,7 triệu người đến năm 2015. Tiếp theo là ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái với việc tăng giá đồng USD và giá cả nguyên vật liệu tăng đã khiến chi phí tài chính tăng cao. Thêm nữa là biến động lãi suất ngân hàng cũng là 1 thách thức không nhỏ với ngành bia Việt Nam àDo đó môi trường kinh tế trong nước vừa là thách thức vừa là cơ hội cho các DN trong ngành 1.3. Môi trường văn hoá – xã hội (S): Người tiêu dùng Việt Nam đang có xu thế thay rượu bằng bia và bia bắt đầu được coi là một loại nước giải khát không thể thiếu trong các bữa tiệc. Nhưng xu hướng lựa chọn ngành nghề liên quan đến: tài chính, ngân hàng, du lịch, ngoại giao, luật pháp ngày càng tăng cao ở độ tuổi trẻ; cùng với việc đào tạo chuyên môn sinh, hoá, thực phẩm…tại các trường hiện nay ở Việt Nam chưa đáp ứng được nhu cầu nguồn nhân lực cho ngành sản xuất kinh doanh Bia là một khó khăn cho sự phát triển ổn định của Ngành. à Cơ hội 1.4. Môi trường nhân khẩu học: Dân số Việt Nam khoảng gần 90 triệu người và có cơ cấu dân số trẻ với hơn 75% dân số dưới 30 tuổi; tỷ lệ tăng dân số là 1.21%, đây cũng là độ tuổi có tỷ lệ tiêu thụ các sản phẩm bia cao nhất. Mức tiêu thụ bình quan đầu người của Việt Nam theo thống kê 2007 là 21.7lít/năm (2010 đạt khoảng 28lít/ năm). Tốc độ tăng trưởng cao (khoảng 18%) nhưng mức tiêu thụ bia bình quân trên đầu người còn thấp so với Nhật, Trung Quốc và các quốc gia Châu Âu . Dân số Việt Nam dự đoán đạt 100 triệu vào năm 2023 và ổn định ở mức 120 triệu dân. Trong vòng 15 năm nữa, với sự tăng trưởng 20% về quy mô dân số và khoảng 200% GDP đầu người (5% năm), ước tính mức tiêu thụ bia tăng 5 lần. Đây là một mức tăng trưởng rất hấp dẫn. Bên cạnh đó xuất hiện xu hướng nhân khẩu học có thể ảnh hưởng đến văn hóa uống bia: Người tiêu dùng có khả năng sẽ giảm mức tiêu thụ bia do chế độ ăn uống và vấn đề sức khỏe. Khi uống bia đến lúc nồng độ rượu/máu lên đến 0,2%, người uống rơi và trạng thái say, có khả năng gây nhiều hệ lụy có hại. “Đừng uống bia trên 1 lít/ngày” cũng là lời khuyên của nhiều bác sỹ. Ngoài ra yếu tố giới tính cũng ảnh hưởng tới việc tiêu thụ mặt hàng này khi người tiêu dùng chủ yếu là nam giới, nữ giới chủ yếu có nhu cầu về các loại nước uống có cồn như bia nhẹ, mà mặt hàng này chưa phổ biến trên thị trường à Đây là cơ hội đối với ngành bia trong nước, bên cạnh đó cũng là thách thức bởi thị trường Việt Nam còn rất nhiều tiềm năng sẽ thu hút 1 lượng lớn đối thủ cạnh tranh khác cả trong và ngoài ngành. 1.5. Môi trường công nghệ (T): Đối với bất kỳ ngành nghề nào thì công nghệ cũng là 1 yếu tố có tác động không nhỏ tới hoạt động sản xuất kinh doanh. Thực tế các doanh nghiệp trong Ngành Bia Việt Nam đang “chạy đua” đầu tư các trang thiết bị, công nghệ mới để tăng sức cạnh tranh. Từ nhà nấu, lò hơi, hệ thống xử lý nước, nuôi cấy men, lên men bằng tank tự động ngoài trời, hệ thống lọc, lạnh, xử lý nước thải…đều được thay mới và cải tiến. Nhà nhà nấu mới có công suất cao và giảm hao phí và quan trọng là có tính tự động hoàn toàn. Công nghệ mới này có hệ thống vệ sinh CIP riêng; hệ thống cấp nước, lọc nước hiện đại và điều khiển tự động...các công nghệ mới đã góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, bao bì đẹp, giảm tiếng ồn, hơi nóng, đảm bảo vệ sinh, giảm hao phí sản xuất, giảm lao động nặng nhọc,…Nhưng mức độ sử dụng vốn đầu tư, công nghệ và trang thiết bị kỹ thuật của các doanh nghiệp trong Ngành còn rất khác nhau. Có doanh nghiệp đầu tư theo hướng chuyên sâu, có doanh nghiệp đầu tư theo hướng phân tán. à Cơ hội cho các DN trong ngành tiếp cận KHKT hiện đại áp dụng vào sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng với chi phí cắt giảm Đánh giá cường độ cạnh tranh (Giải thích ngắn gọn các câu trả lời) : Tồn tại các rào cản ra nhập ngành : - Ngành bia luôn phải song hành cùng phải vấn nạn “hàng giả, hàng nhái” gây khó khăn cho nhiều doanh nghiệp. Các thương hiệu uy tín trên thị trường dễ bị làm giả, ảnh hưởng đến uy tín nhà sản xuất cũng như sức khỏe người tiêu dùng, gây thất thu thuế. - Bia là thức uống rất phổ biến và là sản phẩm cũng sẽ chịu cả thuế GTGT và thuế tiêu thụ đặc biệt. Trong đó lượng bia hơi, bia cỏ trôi nổi không quản lý được ước tính khoảng 130 triệu lít. Trung bình thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) chiếm 24 – 25% giá thành xuất xưởng mỗi lít bia hơi. - Gia nhập WTO đã buộc Chính phủ phải thay đổi một số loại thuế bảo hộ , trong vòng 3 năm sau khi hội nhập Việt Nam sẽ áp dụng một mức thuế TTĐB cho tất cả các sản phẩm bia, không kể đến hình thức đóng gói. Hiện nay, chính sách thuế TTĐB đối với bia hơi đang được áp dụng như sau: Từ 01/01/2010 đến 31/12/2012: bia hơi: 30%; bia chai, bia lon, bia tươi: 75%. Từ 01/01/2013: Các loại bia không phân biệt hình thức đóng gói đều chịu mức 50%. - Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, thuế suất thuế nhập khẩu bia cũng đã giảm từ mức 80% xuống 65%, và sẽ xuống còn 35% trong vòng 5 năm. Hiện nay, mức 65% thuế còn là khá cao, nên các nhà sản xuất còn hạn chế xâm nhập, thông thường là liên doanh với các nhà sản xuất trong nước để tránh loại thuế này. Sự xâm nhập ngày càng sâu của nhà sản xuất, thương hiệu bia nước ngoài hứa hẹn thị trường bia sẽ cạnh tranh đến nghẹt thở trong nhiều năm tới. - Một số chính sách cũng có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngành bia như: Thông tư số 12/1999/TT-BTM quy định về quảng cáo, khuyến mại, địa điểm kinh doanh bia, Quy định về chi phí quảng cáo khuyến mại là 10% giá thành sản phẩm ... gây khó khăn cho việc quảng bá sản phẩm, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp mới vào ngành. Bên cạnh đó, các quy định về nồng độ cồn của người điều khiển xe khi tham gia giao thông… cũng tác động không nhỏ đến hành vi của người tiêu dùng, hạn chế sức tiêu thụ sản phẩm của nhà sản xuất... - Để tham gia vào ngành công ty phải có vốn lớn để đổi mới công nghệ chế biến. Đồng thời để đảm bảo chất lượng sản phẩm, công ty phải mua những nguyên liệu ngoại nhập từ các nước có nguồn nguyên liệu nổi tiếng thế giới vì thế giá nguyên liệu khá cao. Ví dụ như : malt, hoa Houblon chưa sản xuất được phải nhập khẩu từ nước ngoài ( Đức, Đan Mạch…). Rào cản gia nhập chỉ ở mức tương đối, trung bình. Do đó đe dọa gia nhập mới là khá lớn nên cường độ cạnh tranh sẽ ở mức khá cao. Đánh giá điểm : 4/10 Quyền lực thương lượng từ phía các nhà cung ứng : - Nguyên vật liệu chính hiện vẫn phải nhập khẩu 100% Nguyên liệu chính (chiếm 60-70% lượng nguyên liệu) để sản xuất bia là hạt đại mạch (malt), cùng với hoa bia Houblon, do trong nước chưa sản xuất được, nên phải nhập khẩu 100%. Theo Hiệp hội Rượu Bia Nước giải khát Việt Nam, mỗi năm Việt Nam nhập trung bình 120.000 đến 130.000 tấn malt tương đương với 50 triệu USD và dự kiến sẽ tăng lên 100 triệu USD. - Quá trình gieo trồng đại mạch trong nước chưa khả thi Nguyên vật liệu ngành bia Việt Nam được nhập khẩu từ các quốc gia sản xuất lúa mạch ở khu vực ôn đới. Đứng đầu về sản xuất lúa mạch là: Nga, Canada, Tây Ban Nha, Đức, Pháp...Biến đổi khí hậu có thể gây cản trở đến việc trồng lúa mạch, gây ảnh hưởng đến ngành công nghiệp sản xuất bia. Malt nhập khẩu có thể được thay thế bằng Malt chế biến từ đại mạch trồng trong nước. Việc trồng cây lúa mì (tiểu mạch) và đại mạch ở một số tỉnh miền núi phía Bắc nước ta với quy mô nhỏ đã có từ nhiều năm trước đây: trồng thử nghiệm trên diện tích 15 ha, năng suất bình quân từ 1,5-2,5 tấn/ha tại Cao Bằng; triển khai dự án tới một số tỉnh Sapa, Đà Lạt, Hà Giang, Sơn La... Trên thực tế, mới chỉ trồng được vài chục ha thử nghiệm, kết quả chưa thực sự khả thi vì điều kiện khí hậu Việt Nam chưa thích hợp, chất lượng của đại mạch ảnh hưởng đến chất lượng lên men bia, vị bia. Ðể nhân cấy và phát triển lên vài nghìn ha cần phải có một thời gian dài nhiều năm nữa, và cũng chỉ thay thế được khoảng 10% malt nhập khẩu. - Sự phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu ảnh hưởng tới chi phí sản xuất, lợi nhuận của doanh nghiệp Tỷ lệ nguyên liệu chung cho bia ở Việt Nam là 70% lúa mạch, 30% gạo (có thể thay bằng ngô). Để có 1.000 lít bia thành phẩm thì cần 4-5 tạ lúa mạch (giá 10.000 - 10.500 đồng/kg); 1,8-1,9 tạ gạo nguyên liệu (giá 9.600 – 9.750 đồng/kg); và 2g houblon hoa cánh cho 1 lít bia (khoảng 3.230 đồng/g); ngoài ra còn có nước, nấm men enzyme và các nguyên liệu phụ trợ khác....Như vậy, trong giá trị 1 lít bia thành phẩm có chi phí nguyên vật liệu chính chiếm 82.3% (gồm 55,6% malt, 21,1% gạo và ~7% houblon). Nhà sản xuất chỉ thu về với biên lợi nhuận dưới 20% (khoảng 18-20%). Nếu nguyên vật liệu chính (gồm malt và houblon) cho ngành còn và sẽ tiếp tục phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu; doanh nghiệp trong nước sẽ gặp khó khăn do không làm chủ được nguyên vật liệu, ảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp. àQua đó có thể thấy nhà cung cấp có vai trò quyết định trong ngành bia, có quyền lực thương lượng rất lớn. Do đó sẽ tạo ra mức cường độ cạnh tranh cao Đánh giá điểm : 8/10 Quyền lực thương lượng từ phía khách hàng : Với số lượng trên 300 nhà máy sản xuất bia, sản lượng trên tỷ lít mỗi năm và cùng với sự góp mặt của các thương hiệu bia nổi tiếng thế giới khác đã có mặt ở Việt Nam qua con đường nhập khẩu hoặc liên doanh; cộng với sự tiếp cận thông tin tương đối thuận tiện và dễ dàng của khách hàng về chất lượng, giá cả…các sản phẩm bia đã mang đến cho khách hàng tại Việt Nam nhiều sự lựa chọn. Điều này đã tạo ra áp lực cạnh tranh rất lớn đối với các doanh nghiệp về: giá cả, chất lượng sản phẩm và chất lượng dịch vụ trong việc thoả mãn yêu cầu của khách hàng. èÁp lực giảm giá, nâng cao chất lượng sản phẩm, yêu cầu dịch vụ cao hơn vì có nhiều đối thủ cạnh tranh khác nhau và thay thế trong ngành công nghiệp đồ uống có cồn, sức mua đang nằm trong tay của người mua. Phương pháp duy nhất để thống trị các hành vi của người tiêu dùng mua được thông qua quảng cáo và tiếp thị. Tuy vậy có thể thấy quyền lực của KH là không cao Đánh giá điểm: 4/10 Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành : Các doanh nghiệp trong nước : Theo các chuyên gia, cuộc chiến trên thị trường bia Việt Nam là “một cuộc cạnh tranh khốc liệt”. Điều này quả không sai khi có quá nhiều “đại gia” đang tham gia vào cuộc chiến này. 15 năm trước, Ngành bia Việt Nam chỉ là sân chơi của 2 “đại gia Nhà nước” là HABECO và SABECO. Việt Nam hiện có 350 cơ sở sản xuất bia lớn nhỏ ở khắp các địa phương. Sản xuất bia tập trung vào một số khu vực chính: Hồ Chí Minh (chiếm 23,2% tổng năng lực sản xuất bia toàn quốc); Hà Nội: 13,44%, Hải Phòng: 7,47%; Hà Tây: 6,1%, Tiền Giang: 3,79%; Huế: 3,05%; Đà Nẵng: 2,83% (Theo Euromonitor). Có thể phân biệt các loại hình doanh nghiệp sản xuất Bia trên thị trường Việt Nam gồm 3 dạng chính: (1). Các Tổng Công ty Nhà nước với 2 thương hiệu danh tiếng và lâu đời là Sabeco và Habeco (2). Doanh nghiệp Liên doanh với các thương hiệu bia quốc tế sản xuất tại Việt Nam như: Tiger (Thái), Heineken (Hà Lan), Calsberg (Đan Mạch), Foster's (Úc) (3). Các nhà máy bia địa phương như Huda Huế, Thanh Hóa, Bến Thành… Thị phần ngành bia không thay đổi nhiều trong thập kỷ với sự vững mạnh của 3 doanh nghiệp là: Sabeco, Habeco và VBL. Thị trường có dâu hiệu của độc quyền nhóm khi 3 doanh nghiệp lớn nhất Ngành chiếm tới 83% thị phần (tiêu chuẩn theo Luật cạnh tranh là CR3 < 65%). Tuy nhiên, bia không phải hàng hóa thiết yếu nên nhà sản xuất khó gây sức ép độc quyền lên người tiêu dùng; các doanh nghiệp vẫn đang cạnh tranh khá quyết liệt và chưa có biểu hiện đôc quyền. Các doanh nghiệp “ngoại” đẩy mạnh xâm nhập thị trường Kể từ sau khi hội nhập và mở cửa (năm 1991), Đầu tư nước ngoài tăng cường ở Việt Nam; rất nhiều thương hiệu bia nổi tiếng thế giới từ Bỉ, Đức, Mỹ, Mexico, Hà Lan, Nga, Séc…đã đến với thị trường như: Heineken, Fosters, Tiger, Larger, Larue, BGI… Sự xuất hiện ngày càng nhiều của các dòng bia ngoại đã đẩy cuộc cạnh tranh trong Ngành bia ngày càng khốc liệt hơn. Hiện nay các nhà đầu tư nước ngoài đã được phép sở hữu 100% doanh nghiệp nội địa thuộc ngành bia, tăng cường hơn sự xâm nhập của các đối thủ tiềm ẩn mới. Cụ thể cuối năm 2011, Tập đoàn Carlsberg (Đan Mạch) đã nắm giữ 100% vốn Nhà máy bia Huế. Nhà máy bia Sapporo Việt Nam với tổng vốn đầu tư 75 triệu USD (phía Nhật Bản góp 71% và phía Việt Nam góp 29%) cũng đã đi vào hoạt động và đang tìm cách phát triển thị trường ở Việt Nam… Cạnh tranh cũng khiến nhiều thương hiệu “ngoại” thâm nhập thất bại . Bên cạnh sự trụ vững và ngày càng lên ngôi của các thương hiệu Heineken, Carlsberg, Ti- ger.., đã không ít đại gia ngành Bia trên thế giới sau khi đặt chân đến Việt Nam đã phải ngậm ngùi ra đi. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến thất bại như: định vị sai, sản phẩm không hợp gu của người Việt, rào cản kênh phân phối, năng lực tài chính... Cụ thể có trường hợp của bia “kiểu Úc” Fosters (Tập đoàn Fos- ters) không thành công trong phân khúc cao cấp, hay “cuộc chia tay tức tưởi” của sản phẩm “bia tươi đóng chai đầu tiên tại Việt Nam” Laser (thuộc tập đoàn Tân Hiệp Phát) vì không thể xâm nhập được kênh Horeca (nhà hàng, khách sạn, khu nghỉ dưỡng, quán cà phê) - kênh dành cho các loại bia cao cấp. à Với sự gia tăng mạnh mẽ về số lượng các đối thủ cạnh tranh, và ngành bia là ngành phân tán, do không DN nào có khả năng chi phối các DN khác nên cường độ cạnh tranh cao. àĐánh giá điểm : 9/10 Đe dọa từ các sản phẩm thay thế : Ví dụ : Nước giải khát, trà xanh... Bia là một hàng hóa thứ yếu, tại Việt Nam bia nhằm thỏa mãn các nhu cầu: giải khát, tụ tập bạn bè, gia đình, bàn bạc công việc...Thay thế cho bia trong nhóm đồ uống có cồn
Luận văn liên quan