Luận văn Phân tích hiện trạng và đánh giá biến động sử dụng đất giai đoạn 2005 - 2010 phục vụ phát triển bền vững huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng

MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư tiệu sản xuất đặc biệt, là nguồn nội lực và nguồn vốn to lớn của đất nước. Tại Điều 18 Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả”. Theo đó, định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai thông qua các quy hoạch và chiến lược phát triển, với mục tiêu hướng tới cao nhất là sử dụng hiệu quả, tiết kiệm và bền vững các nguồn tài nguyên đóng vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Huyện Thuỷ Nguyên có diện tích lớn thứ hai thành phố Hải Phòng, có 35 xã và 2 thị trấn với tổng diện tích tự nhiên là 24.279,9 ha, chiếm 15,6% diện tích thành phố Hải Phòng, dân số trên 30 vạn người (năm 2010). Cảnh quan đa dạng, tạo bởi sự đan xen giữa dải núi đá phiến sét và núi đá vôi dọc theo hướng tây bắc - đông nam với hệ thống đồng bằng thấp và bãi triều cửa sông ven biển. Đây là những điều kiện tự nhiên thuận lợi cho huyện phát triển một nền kinh tế đa dạng, bao gồm cả nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thuỷ sản và du lịch.

doc97 trang | Chia sẻ: thanhlinh222 | Ngày: 07/03/2018 | Lượt xem: 15405 | Lượt tải: 12download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Phân tích hiện trạng và đánh giá biến động sử dụng đất giai đoạn 2005 - 2010 phục vụ phát triển bền vững huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư tiệu sản xuất đặc biệt, là nguồn nội lực và nguồn vốn to lớn của đất nước. Tại Điều 18 Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả”. Theo đó, định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai thông qua các quy hoạch và chiến lược phát triển, với mục tiêu hướng tới cao nhất là sử dụng hiệu quả, tiết kiệm và bền vững các nguồn tài nguyên đóng vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Huyện Thuỷ Nguyên có diện tích lớn thứ hai thành phố Hải Phòng, có 35 xã và 2 thị trấn với tổng diện tích tự nhiên là 24.279,9 ha, chiếm 15,6% diện tích thành phố Hải Phòng, dân số trên 30 vạn người (năm 2010). Cảnh quan đa dạng, tạo bởi sự đan xen giữa dải núi đá phiến sét và núi đá vôi dọc theo hướng tây bắc - đông nam với hệ thống đồng bằng thấp và bãi triều cửa sông ven biển. Đây là những điều kiện tự nhiên thuận lợi cho huyện phát triển một nền kinh tế đa dạng, bao gồm cả nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thuỷ sản và du lịch. Trong thời kỳ mở cửa, Thủy Nguyên được xác định là một trong những khu vực phát triển công nghiệp, dịch vụ và du lịch trọng điểm của thành phố Hải Phòng. Trong những năm gần đây, huyện có tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá nhanh, dẫn đến những nhiều biến động phức tạp về sử dụng đất, đặc biệt là chuyển đổi mục đích từ sử dụng đất nông nghiệp và đất chưa sử dụng sang mục đích phi nông nghiệp. Các khu, cụm công nghiệp (khu công nghiệp Bến Rừng, cụm công nghiệp Kênh Giang, Nam cầu Kiền, Gia Minh, Đông Sơn - Kênh Giang, Minh Đức - Tràng Kênh,), khu du lịch, đô thị mới (Khu vui chơi giải trí - thể thao - văn hoá - du lịch sinh thái Quang Minh - Vinashin, tổ hợp khu Resort sông Giá, khu đô thị Bắc sông Cấm, khu đô thị VSIP) được quy hoạch xây dựng là yếu tố quan trọng để cho huyện Thuỷ Nguyên phát triển mạnh cho đến năm 2020. Thực hiện được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố và huyện, đồng thời hướng tới sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai dựa trên tiềm năng sẵn có và đảm bảo công tác bảo vệ môi trường được xem là yêu cầu cấp thiết đối với huyện Thủy Nguyên trong những năm tới. Để thực hiện được điều này, cần thiết dựa trên những cơ sở khoa học và thực tiễn về phân tích hiện trạng và biến động sử dụng đất đai. Xuất phát từ lý do thực tiễn đó, đề tài luận văn thạc sỹ “Phân tích hiện trạng và đánh giá biến động sử dụng đất giai đoạn 2005 - 2010 phục vụ phát triển bền vững huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng” đã được lựa chọn nghiên cứu và hoàn thành. 2. MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU a) Mục tiêu nghiên cứu Làm rõ hiện trạng và biến động sử dụng đất tại huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng trong giai đoạn 2005 - 2010 nhằm đề xuất định hướng phát triển bền vững đến năm 2020 đảm bảo chuyển mục đích sử dụng đất đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường. b) Nhiệm vụ nghiên cứu Để thực hiện mục tiêu đề ra, nhiệm vụ nghiên cứu cần thực hiện bao gồm: - Tổng quan các tài liệu, số liệu, bản đồ có liên quan đến hướng nghiên cứu của luận văn. Thu thập tài liệu, số liệu về hiện trạng sử dụng đất các năm 2005, 2010 của huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng. - Phân tích hiện trạng sử dụng đất trong năm 2005 và năm 2010. - Đánh giá biến động sử dụng đất giai đoạn 2005 - 2010. - Phân tích quan hệ giữa các hoạt động kinh tế - xã hội và biến động sử dụng đất. - Xây dựng các bản đồ phân khu chức năng và bản đồ tổ chức không gian phục vụ định hướng sử dụng đất lồng ghép với phát triển bền vững huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng đến năm 2020. 3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU a) Phạm vi không gian Đề tài được thực hiện trên toàn bộ địa bàn huyện Thuỷ Nguyên thuộc thành phố Hải Phòng, bao gồm 35 xã và 2 thị trấn với tổng diện tích tự nhiên 24.279,9 ha. b) Phạm vi khoa học Đề tài giới hạn nghiên cứu ở các vấn đề sau: + Phân tích hiện trạng và đánh giá biến động sử dụng đất trong giai đoạn 2005 - 2010. + Đề xuất định hướng sử dụng đất đến năm 2020. + Định hướng sử dụng đất được đề xuất theo cơ sở lồng ghép phát triển bền vững, cụ thể là đảm bảo cả 3 khía cạnh: bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường (bền vững về môi trường), sử dụng tài nguyên đất hợp lý, có hiệu quả kinh tế cao (bền vững về kinh tế) và đảm bảo công bằng xã hội, hòa giải được các mâu thuẫn xã hội trong sử dụng đất đai (bền vững về xã hội). 4. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN - Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm phong phú hệ thống lý luận của khoa học quản lý đất đai về hướng phân tích hiện trạng và biến động sử dụng đất đối với một lãnh thổ cấp huyện và hướng nghiên cứu quy hoạch sử dụng đất lồng nghép phát triển bền vững. - Ý nghĩa thực tiễn: Các phương án đề xuất định hướng sử dụng đất bền vững đến năm 2020 trong luận văn được xem là tư liệu khoa học tham khảo cung cấp cho các cơ quan quản lý phục vụ lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của huyện Thuỷ Nguyên. 5. CƠ SỞ TÀI LIỆU Các tài liệu chính sau được sử dụng trong quá trình thực hiện luận văn:: a) Tài liệu khoa học tham khảo: bao gồm các sách, giáo trình, luận văn, công trình nghiên cứu liên quan tới hướng nghiên cứu lý thuyết của đề tài: - Hướng quản lý đất đai: cơ sở địa chính, hồ sơ địa chính, hệ thống chính sách pháp luật đất đai,... - Hướng phân tích sử dụng đất: đánh giá đất đai, phân tích và đánh giá biến động sử dụng đất. - Hướng phát triển bền vững: phát triển bền vững và quy hoạch bảo vệ môi trường, chương trình nghị sự 21 của Việt Nam (2005), chương trình nghị sự 21 cho một số địa phương (Bình Định, Ninh Bình,), b) Các văn bản pháp lý liên quan tới quy hoạch sử dụng đất và phát triển bền vững của chính phủ và địa phương - Luật Đất đai năm 2003; Luật Bảo vệ môi trường. - Các Nghị định của Chính phủ, Thông tư của cỏc Bộ, ngành và các văn bản của địa phương về hướng dẫn thực hiện Luật Đất đai, Luật Bảo vệ môi trường. - Các tài liệu kiểm kê, thống kê đất đai, bản đồ hiện trạng sử dụng đất huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng giai đoạn 2005 - 2010. - Quyết định số 145/QĐ-TTg ngày 13/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ về phương hướng chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội xây dựng vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020. - Quyết định số 271/2006/QĐ-TTg ngày 27/11/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt điều chỉnh bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng đến năm 2020. - Nghị quyết số 09/NQ-TW ngày 09/02/2007 của Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020. - Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 11/01/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải, thành phố Hải Phòng. - Quyết định số 865/QĐ-TTg ngày 10/7/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng vùng Duyên hải Bắc bộ đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050. - Quyết định số 98/2008/QĐ-TTg ngày 11/7/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch phát triển hành lang kinh tế Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh đến năm 2020. - Nghị quyết số 26/NQ-TW ngày 05/8/2008 Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. - Quyết định số 34/QĐ-TTg ngày 02/3/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch phát triển vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc bộ đến năm 2020. - Quyết định số 1448/QĐ-TTg ngày 16/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch xây dựng thành phố Hải Phòng đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050. - Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới. - Quyết định số 69/QĐ-TTg ngày 13/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế hoạt động của Khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải, thành phố Hải Phòng. - Quyết định số 1757/QĐ-UBND ngày 19/9/2007 của Uỷ ban nhân dân thành phố Hải Phòng về việc phê duyệt đề án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Thuỷ Nguyên đến năm 2020. - Quyết định số 120/QĐ-UBND ngày 22/01/2010 của Uỷ ban nhân dân thành phố Hải Phòng về việc công nhận một số tuyến đường bộ từ huyện thành đường tỉnh trên địa bàn. - Các quyết định phê duyệt quy hoạch xây dựng các cụm công nghiệp, điểm dân cư, thị tứ, các dự án khác trong phạm vi huyện Thuỷ Nguyên. c) Tài liệu, số liệu thu thập, điều tra thực tế tại địa phương - Số liệu thống kê, kiểm kê đất đai các năm 2005 đến 2010. - Bản đồ sử dụng đất các năm 2005 và 2010. - Các tài liệu, số liệu về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, phát triển kinh tế - xã hội, hiện trạng môi trường và quản lý đất đai tại địa phương. - Tư liệu ghi chép thực tế trong quá trình khảo sát thực địa. 6. CẤU TRÚC LUẬN VĂN Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương: - Chương 1: Cơ sở lý luận về định hướng sử dụng đất bền vững tại huyện Thủy Nguyên. - Chương 2: Phân tích hiện trạng và biến động sử dụng đất tại huyện Thủy Nguyên giai đoạn 2005 - 2010. - Chương 3: Đề xuất định hướng sử dụng đất phục vụ phát triển bền vững tại huyện Thủy Nguyên đến năm 2020. Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG ĐẤT PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI HUYỆN THỦY NGUYÊN 1.1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 1.1.1. Các công trình nghiên cứu định hướng sử dụng đất phục vụ phát triển bền vững a) Trên thế giới Khái niệm phát triển bền vững (sustainable development) xuất hiện từ những năm 1970 với những nội dung đề cập tới môi trường và phát triển quốc tế. Từ những năm 1980 khái niệm này được mở rộng trong tác phẩm “Chiến lược bảo tồn thế giới” (1980), được phổ biến qua báo cáo Brundland (1987) về “Tương lai chung của chúng ta”, tác phẩm “Chăm lo cho Trái Đất” (1991) và Chương trình Nghị sự 21 (1992) tại Riode Janero. Hiện nay, phát triển bền vững được sử dụng phổ biến trong chiến lược, định hướng phát triển ở các quy mô khác nhau, từ quy mô toàn cầu, khu vực cho đến quốc gia và địa phương. Khái niệm phát triển bền vững do Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển đưa ra năm 1987 đã được thừa nhận rộng rãi trên toàn thế giới, là “sự phát triển đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm mất đi khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”. Tư tưởng chủ đạo của phát triển bền vững chính là sự bình đẳng trong một thế hệ và giữa các thế hệ. Hay nói cách khác, phát triển bền vững là sự phát triển bảo đảm hài hòa được các mục tiêu về kinh tế, xã hội và môi trường. Chương trình Nghị sự 21 (Agenda 21) đưa ra bốn khu vực hành động là: (i) Phát triển kinh tế - xã hội: Chủ yếu là xóa đói giảm nghèo, quản lý tăng trưởng dân số, quản lý cách sống và các hình thức tiêu dùng với sản xuất; (ii) Bảo vệ môi trường và nơi sống, bảo tồn thiên nhiên, tài nguyên và các hệ sinh thái, quản lý chất thải; (iii) Khuyến khích và thúc đẩy sự tham gia, đóng góp của các đối tượng thụ hưởng tinh thần, đối thọai và hợp tác, sự công bằng bình đẳng về giới, giữa các sắc tộc và các thế hệ,...; (iv) Soạn ra những chương trình và biện pháp, thiết lập những định chế và cơ chế, sử dụng những phương tiện cần thiết để kinh tế - xã hội chuyển đổi theo hướng phát triển bền vững. Trong bối cảnh nguồn tài nguyên đất đai ngày càng trở nên hạn hẹp thì lựa chọn phát triển bền vững đã trở thành mục tiêu cấp thiết cho công tác quy hoạch sử dụng đất ở tất cả các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Châu Âu là khu vực đi đầu trong xây dựng các nguyên lý về quy hoạch sử dụng đất bền vững và phát triển các nghiên cứu ứng dụng theo hướng này. Lier và cộng sự (1994) công bố ấn phẩm về quy hoạch sử dụng đất bền vững, trong đó trình bày những lý luận chung và áp dụng cho một số khu vực cụ thể tại Hà Lan. Herrmann và Osinski (1999) thực hiện nghiên cứu quy hoạch sử dụng đất đai bền vững dựa trên công nghệ GIS và mô hình hóa, áp dụng điển hình cho khu vực nông thôn Baden-Wuerttemberg thuộc miền nam nước Đức. Gần đây nhất, Pašakarnis và cộng sự (2010) dựa trên quan điểm phát triển bền vững đã tiến hành phân tích định hướng phát triển nông thôn và những thách thức đối với chiến lược sử dụng đất ở khu vực Đông Âu. Tại khu vực Bắc Mỹ, quy hoạch sử dụng đất gắn liền với phát triển bền vững cũng được quan tâm trong thời gian gần đây, trong đó chú trọng nhiều tới bảo vệ các hệ sinh thái. Ryan và Throgmorton (2003) thực hiện nghiên cứu so sánh thực trạng phát triển đất đai cho quy hoạch bền vững mạng lưới giao thông giữa thành phố Freiburg của Đức với thành phố Chula Vista, California của Hoa Kỳ. Fitzsimons và cộng sự (2012) tiến hành đánh giá đất đai và quy hoạch sử dụng đất phục vụ phát triển vành đai xanh tại Toronto - thành phố lớn nhất của Canada. Tại châu Mỹ La-tinh, quy hoạch sử dụng đất bền vững được áp dụng cho cả khu vực đô thị hóa cao và các khu vực cảnh quan tự nhiên. Rojas và cộng sự (2012) thực hiện đánh giá môi trường chiến lược cho cả châu Mỹ La-tinh, sau đó áp dụng cụ thể cho quy hoạch đô thị tại vùng đô thị Concepción của Chile. Trong khoảng thời gian này, Barral và Oscar (2012) tiến hành một nghiên cứu quy hoạch sử dụng đất bền vững dựa trên đánh giá các dịch vụ hệ sinh thái, áp dụng điển hình cho vùng đông nam Pampas của Argentina. Tại Australia, Pearson và cộng sự (2010) đề xuất một khung kịch bản quy hoạch sử dụng đất bền vững và áp dụng cho khu vực đô thị thuộc vùng đông nam Queensland, Australia. Là khu vực điển hình nhất về các vấn đề nổi cộm liên quan tới quy hoạch sử dụng đất do tăng trưởng kinh tế nhanh và mật độ dân số cao, quy hoạch sử dụng đất bền vững ở khu vực châu Á và châu Phi hiện đang rất được chú trọng. Các định hướng quy hoạch chủ yếu được tiếp cận từ châu Âu. Tại châu Á, Chen và cộng sự (2003) tiến hành đánh giá sử dụng đất và đề xuất các kịch bản sử dụng đất bền vững cho vùng cao nguyên Loess của Trung Quốc. Kim và Pauleit (2007) tiến hành đánh giá đa dạng sinh học và các đặc tính cảnh quan làm căn cứ cho quy hoạch sử dụng đất tại thành phố Kwangju, Hàn Quốc. Tại châu Phi, các nghiên cứu quy hoạch sử dụng đất được thực hiện với sự hỗ trợ kinh phí và tham gia của các chuyên gia sử dụng đất châu Âu. Agrell và cộng sự (2004) tiến hành quy hoạch sử dụng đất cho phát triển nền nông nghiệp sinh thái đa mục đích và áp dụng thử nghiệm tại vùng Bungoma của Kenya. Tóm lại, phát triển bền vững với cách tiếp cận toàn diện được xem là một xu thế của thời đại. Do đó, quy hoạch sử dụng đât bền vững được quan tâm rộng rãi trên toàn thế giới. Mặc dù các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới rất khác nhau về điều kiện lãnh thổ cũng như động lực phát triển, nhưng quy hoạch sử dụng đất bền vững đã thể hiện được ưu thế cho tất cả các khu vực này, tạo cơ hội cho phát triển kinh tế, đồng thời bảo vệ được môi trường và tránh xung đột xã hội trong sử dụng đất. b) Tại Việt Nam Quan điểm chủ đạo về phát triển bền vững đã được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX xác định là “phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”. Quan điểm này đã được thể hiện trong Điều 4 của Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005. Cho đến nay, do quan điểm phát triển bền vững vẫn chưa được triển khai đầy đủ thành các cơ chế chính sách cụ thể về phát triển bền vững trong thực tế, nên các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan và chủ đầu tư đang rất lúng túng trong việc giải quyết những bức xúc, khiếu kiện của người dân. Cơ chế, chính sách bồi thường quyền sử dụng đất hiện hành đang có những bất cập lớn trong thực tiễn, chưa đặt đúng mức các lợi ích về xã hội và môi trường. Sự thiếu hụt các cơ chế, chính sách phát triển bền vững còn là một nguyên nhân dẫn đến sự bất bình đẳng trong phân chia lợi ích cũng như chia sẻ ô nhiễm môi trường của phát triển. Vì vậy, trước mắt cần có những nghiên cứu chính sách cụ thể hoá quan điểm chủ đạo về phát triển bền vững trong quản lý và sử dụng đất, trong đó có những nguyên tắc và cơ chế bồi thường phù hợp cho người dân. Việc quản lý, sử dụng đất phải vừa đảm bảo quỹ đất phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bảo đảm an ninh, quốc phòng vừa đảm bảo mục tiêu bảo vệ môi trường, an ninh lương thực. Chiến lược và quy hoạch sử dụng đất phải có tầm nhìn dài hạn; tránh chạy theo mục tiêu phát triển trước mắt nhưng khai thác cạn kiệt tài nguyên đất, để lại hậu quả xấu về kinh tế, xã hội và môi trường cho các thể hệ mai sau phải gánh chịu. Chính sách, pháp luật đất đai phải góp phần xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo dân chủ, bình đẳng và công bằng xã hội. * Phát triển kinh tế trong sử dụng đất: + Áp lực về nhu cầu sử dụng đất để phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, an ninh lương thực và bảo vệ môi trường là một thách thức lớn đối với việc cân đối, phân bổ nguồn tài nguyên đất cho các mục đích khác nhau, đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp trong hoạch định chính sách và xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. + Dưới áp lực lớn về nhu cầu sử dụng đất trong không gian đô thị, việc khai thác không gian trong lãng đất để xây dựng các công trình ngầm trên quy mô lớn đó trở thành hiện thực đòi hỏi việc quản lý đất đai theo không gian phân tầng. Đây là vấn đề mới ở Việt Nam, đòi hỏi phải xây dựng từ bước đầu phương pháp luận, hành lang pháp lý, quy trình kỹ thuật, quy trình quản lý phù hợp. * Bảo vệ môi trường trong sử dụng đất: + Sự thoái hóa, suy giảm nguồn tài nguyên đất do các nguyên nhân tự nhiên hoặc do tác động của con người đang trở nên ngày càng nghiêm trọng đòi hỏi cần tăng cường nghiên cứu, xây dựng và thực hiện các giải pháp thích hợp để quản lý, bảo vệ, bồi bổ và duy trì quỹ đất đảm bảo nhu cầu sử dụng đất hiện tại cũng như trong tương lai. + Xây dựng hoàn thiện các phương pháp, nội dung, quy trình quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp, lồng ghép với các nhiệm vụ phòng chống, giảm nhẹ thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu; xây dựng phương pháp dự báo và xác định nhu cầu sử dụng đất, làm cơ sở xây dựng các phương án quy hoạch sử dụng đất bền vững. + Xây dựng và hoàn thiện phương pháp, tổ chức đánh giá thường xuyên tác động của biến đổi khí hậu đối với tài nguyên đất của cả nước, theo các vùng và từng địa phương; tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học - công nghệ nhằm xác lập cơ sở khoa học và thực tiễn cho các giải pháp quản lý, sử dụng đất ứng phó với biến đổi khí hậu; xây dựng và hoàn thiện các giải pháp thích ứng và ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên đất; tổ chức thực hiện các chương trình, dự án ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên đất. * Công bằng xã hội trong sử dụng đất: + Do đặc điểm về lịch sử và tập quán sử dụng đất của các vùng miền khác nhau nên việc hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật phù hợp với tất cả các vùng lãnh thổ là một vấn đề khó khăn. + Hoàn thiện công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đảm bảo 100% đơn vị hành chính các cấp thực hiện xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật; tăng cường công tác kiểm tra giám sát thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Việt Nam sau khi gia nhập WTO đã đòi hỏi phải điều chỉnh lại cách tiếp cận đối với quy hoạch sử dụng đất cho phù hợp với trình độ phát triển cũng như cách tiếp cận trong quy hoạch sử dụng đất sao cho hài hòa với xu thế toàn cầu hóa và tạo ra một hành lang để quản lý quá trình phát triển đất nước một cách hợp lý, bền vững. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất, ngoài nguyên nhân từ các hoạt động của các khu công nghiệp, khu đô thị và các hoạt động kinh tế - xã hội hiện tại, vùng lãnh thổ cũng có thể bị tác động bởi các yếu tố quy hoạch mới như chuyển đổi mục đích sử dụng đất, các khu công nghiệp mới, các khu đô thị mới, phát triển các khu du lịch, các khu dân cư nông thôn mới, bệnh viện, trạm y tế, khu khai thác chế biến tài nguyên,... Mặc dù đã được quy định trong Luật Đất đai 2003, nhưng sự tham gia của các bên liên quan vào quá trình quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam còn yếu. Hầu hết các quy hoạch sử dụng đất mới dừng lại ở mức độ thông báo các quy hoạch ở giai đo
Luận văn liên quan