Luận văn Sử dụng phương pháp sư phạm tương tác trong dạy học tiếng việt ở tiểu học

Qua việc tìm hiểu phương pháp sư phạm tương tác và việc sử dụng phương pháp sự phạm tương tác trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học chúng tôi nhận thấy: Nếu được sử dụng hợp lý thì phương pháp sư phạm tương tác vừa góp phần nâng cao chất lượng lĩnh hội kiến thức ngôn ngữ, kỹ năng giao tiếp cho học sinh Tiểu học, vừa bồi dưỡng cho các em năng lực hợp tác với bạn, với thầy để giải quyết các nhiệm vụ học tập. Chính vì vậy chúng tôi chọn đề tài ''Sử dụng phương pháp sư phạm tương tác trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học'' với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt. Đề tài được hoàn thành với sự chỉ bảo tận tình của cô giáo hướng dẫn Lê Thị Thanh Bình và bằng sự nỗ lực tìm tòi, học hỏi của bản thân. Trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi đã nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và các bạn sinh viên trong khoa Giáo dục Tiểu học. Sự giúp đỡ tạo điều kiện của giáo viên và học sinh trường Hưng Dũng 1 - Thành phố Vinh trong việc nghiên cứu và thực nghiệm. Nhân dịp này chúng tôi xin bày tỏ tấm lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo Lê Thị Thanh Bình - người trực tiếp hướng dẫn chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài. Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, các bạn sinh viên trong khoa Giáo dục Tiểu học và giáo viên, học sinh Trường Tiểu Học Hưng Dũng 1. Đề tài được thực hiện trong một thời gian ngắn và là công trình tập dượt đầu tiên nên gặp không ít khó khăn, do tầm hiểu biết hạn chế nên không thể tránh khỏi thiếu sót. Rất mong nhận được sự chỉ bảo của Thầy cô và góp ý của các bạn.

doc74 trang | Chia sẻ: ngtr9097 | Ngày: 30/05/2013 | Lượt xem: 3087 | Lượt tải: 33download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Sử dụng phương pháp sư phạm tương tác trong dạy học tiếng việt ở tiểu học, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP SƯ PHẠM TƯƠNG TÁC TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Ngành: Giáo dục tiểu học GV hướng dẫn: TH.S: LÊ THỊ THANH BèNH SV thực hiện: Phan Thị Thanh Hồng Vinh, thỏng 5 năm 2004 MỤC LỤC Trang LỜI NÓI ĐẦU 1 PHẦN MỞ ĐẦU 2 PHẦN NỘI DUNG 7 Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7 1 Khái quát về sư phạm tương tác 7 1.1 Các tác nhân 7 1.1.1 Người học 7 1.1.2 Người dạy 8 1.1.3 Môi trường 9 1.2 Các thao tác 10 1.2.1 Phương pháp học 10 1.2.2 Phương pháp sư phạm 11 1.2.3 Ảnh hưởng của môi trường 12 1.3 Các nguyên lý 13 1.3.1 Người học - Người thợ 13 1.3.2 Người dạy - Người hướng dẫn 13 1.3.3 Môi trường - Tác nhân ảnh hưởng 14 1.4 Vận dụng phương pháp sư phạm tương tác trong quá trình dạy học Tiếng Việt ở tiểu học 14 14.1 Trong quá trình dạy học 14 14.2 Trong môn Tiếng Việt 17 2 Đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học 17 2.1 Đặc điểm nhận thức 18 2.1.1 Tri giác 18 2.1.2 Chú ý 18 2.1.3 Trí nhớ 19 2.1.4 Tư duy 19 2.2 Đặc điểm nhân cách 20 2.2.1 Tình cảm 20 2.2.2 Tính cách 20 2.2.3 Hứng thú 21 2.2.4 Tự đánh giá và đánh giá 21 2.3 Hoạt động ngôn ngữ 21 3 Thực trạng sử dụng phương pháp sư phạm tương tác trong dạy học Tiếng Việt ở tiểu học 22 3.1 Chương trình sách giao khoa và các tài tài liệu dạy học Tiếng Việt ở tiểu học 22 3.2 Về phía giáo viên 24 3.3 Về phía học sinh 25 4 Nguyên nhân của thực trạng 26 Chương II: SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP SƯ PHẠM TƯƠNG TÁC TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC 27 1 Phương pháp dạy học 27 1.1 Phương pháp dạy học thảo luận nhóm 27 1.2 Phương pháp trò chơi 32 2 Hình thức dạy học 39 2.1 Học cá nhân trên lớp 39 2.2 Dạy học theo nhóm 43 Chương III: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 49 1 Mục đích thực nghiệm 49 2 Đối tượng thực nghiệm, địa bàn thực nghiệm 49 3 Nôi dung thực nghiệm 49 4 Tiêu chí đánh giá kết quả thực nghiệm 54 5 Kết quả thực nghiệm sư phạm 54 PHẦN KẾT LUẬN 62 PHẦN PHỤ LỤC 64 TÀI LIỆU THAM KHẢO 68 LỜI NÓI ĐẦU Qua việc tìm hiểu phương pháp sư phạm tương tác và việc sử dụng phương pháp sự phạm tương tác trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học chúng tôi nhận thấy: Nếu được sử dụng hợp lý thì phương pháp sư phạm tương tác vừa góp phần nâng cao chất lượng lĩnh hội kiến thức ngôn ngữ, kỹ năng giao tiếp cho học sinh Tiểu học, vừa bồi dưỡng cho các em năng lực hợp tác với bạn, với thầy để giải quyết các nhiệm vụ học tập. Chính vì vậy chúng tôi chọn đề tài ''Sử dụng phương pháp sư phạm tương tác trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học'' với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt. Đề tài được hoàn thành với sự chỉ bảo tận tình của cô giáo hướng dẫn Lê Thị Thanh Bình và bằng sự nỗ lực tìm tòi, học hỏi của bản thân. Trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi đã nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và các bạn sinh viên trong khoa Giáo dục Tiểu học. Sự giúp đỡ tạo điều kiện của giáo viên và học sinh trường Hưng Dũng 1 - Thành phố Vinh trong việc nghiên cứu và thực nghiệm. Nhân dịp này chúng tôi xin bày tỏ tấm lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo Lê Thị Thanh Bình - người trực tiếp hướng dẫn chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài. Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, các bạn sinh viên trong khoa Giáo dục Tiểu học và giáo viên, học sinh Trường Tiểu Học Hưng Dũng 1. Đề tài được thực hiện trong một thời gian ngắn và là công trình tập dượt đầu tiên nên gặp không ít khó khăn, do tầm hiểu biết hạn chế nên không thể tránh khỏi thiếu sót. Rất mong nhận được sự chỉ bảo của Thầy cô và góp ý của các bạn. Vinh, tháng 5 năm 2004 Tác giả PHẦN I: MỞ ĐẦU 1- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI : Sự phát triển nhanh chóng của xã hội, đặc biệt là khoa học kỹ thuật đã làm thay đổi mục tiêu đào tạo của nhà trường dẫn đến yêu cầu về sự đổi mới các yếu tố cấu thành nên quá trình dạy học, trong đó có phương pháp giáo dục. Đất nước đang thực hiện công cuộc đổi mới sâu sắc, toàn diện trên mọi lĩnh vực đòi hỏi ngành giáo dục và đào tạo phải "Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến, phương tiện hiện đại vào quá trình giáo dục đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh" (Nghị Quyết TW2-1997). Giáo dục tiểu học là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, là bậc học quan trọng đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện nhân cách con người. Nếu giáo dục phổ thông được xem là nền tảng văn hoá của một đất nước - là sức mạnh tương lai của dân tộc thì giáo dục tiểu học là cơ sở của cơ sở ban đầu đó. Có thể nói những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo được hình thành ở bậc tiểu học rất bền vững, nó đi theo các em suốt cả cuộc đời khó mà thay đổi được. Trong xã hội hiện nay, lứa tuổi học sinh tiểu học ứng với độ tuổi từ 6 - 11 tuổi. Đây là lứa tuổi mà lần đầu tiên các em được cắp sách tới trường, được làm quen với nền văn hoá nhà trường. Đặc biệt là có sự chuyển giao hoạt động chủ đạo là vui chơi ở lứa tuổi mẫu giáo sang học tập ở lứa tuổi học sinh tiểu học. Hoạt động chủ đạo này tuy không chiếm phần lớn thời gian của học sinh song nó quyết định chiều hướng phát triển tâm lý của các em. Đây là hoạt động có mục đích, kế hoạch và có thể tác động từ bên ngoài, chất lượng của việc lĩnh hội phụ thuộc vào việc tổ chức mối quan hệ của giáo viên và học sinh môi trường, cụ thể là: Sự tích cực của học sinh khi tham gia vào quá trình học tập, vai trò lãnh đạo sư phạm của giáo viên với mục tiêu: "Kéo theo sự phát triển của trẻ, tạo ra sự sống cho hàng loạt quá trình phát triển mà đứng ngoài dạy học không thể làm được" (Vu-got-xki)(1) trong đó có tính đến ảnh hưởng của yếu tố môi trường. Môn Tiếng Việt ở tiểu học có nhiệm vụ, hình thành năng lực ngôn ngữ cho học sinh tiểu học. Những năng lực ngôn ngữ này chỉ có được khi giáo viên tổ chức cho học sinh thực hiện thành thục từng thao tác, hành động của quá trình dạy học Tiếng Việt và hứng thú với việc thực hiện nó. Mặt khác để tổ chức tốt quá trình giao tiếp cho học sinh trong quá trình dạy học Tiếng Việt thì việc tạo ra môi trường thuận lợi, xây dựng mối quan hệ hợp tác cùng phát triển giữa học sinh- học sinh; học sinh - giáo viên là điều quan trọng. Tuy nhiên, thực tiễn dạy học Tiếng Việt ở tiểu học cho thấy về phương pháp dạy học bên cạnh những thành công còn có nhiều bất cập nhất định. Số đông giáo viên chưa nhận thức được hết tầm quan trọng của việc tạo ra môi trường, điều kiện cho học sinh hoạt động lĩnh hội tri thức; còn coi trọng lối truyền thụ một chiều theo kiểu "Máy phát" (người dạy) "Máy nhận" (người học) chưa chú trọng dẫn đến việc tạo điều kiện, cơ hội hứng thú để học sinh phát huy hết khả năng của mình làm cho các em thụ động lĩnh hội tri thức, hạn chế tính tích cực nhận thức, tư duy sáng tạo của học sinh, làm cho các em khó thích nghi với cuộc sống muôn màu muôn vẻ của xã hội sau này. Hơn nữa sự bùng nổ của nền kinh tế tri thức làm cho trình độ nhận thức của học sinh ngày càng cao hơn trình độ của học sinh cùng lứa tuổi trước đây. Vì vậy nhà trường phải rèn luyện cho học sinh tính tích cực, năng động, sáng tạo bằng cách sớm chuyển sang phương pháp dạy học mới theo hướng tích cực hoá hành động học tập của học sinh thông qua việc tổ chức cho các em các hoạt động học tập và giao lưu, hợp tác với bạn với thầy để lĩnh hội kiến thức một cách sáng tạo, chủ động. Phương pháp sư phạm tương tác đã đề ra chiến lược dạy học có khả năng đáp ứng được yêu cầu trên. Đó chính là lý do khiến chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: "Sử dụng phương pháp sư phạm tương tác trong dạy học Tiếng Việt ở tiểu học". 2- LỊCH SỬ VẤN ĐỀ : Phương pháp sư phạm tương tác xuất hiện vào những năm 70 của thế kỷ XX. Ngay từ khi xuất hiện nó đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu sư phạm trên thế giới và được thể hiện tập trung trong cuốn "Tiến tới một phương pháp sư phạm tương tác" của hai tác giả là Jean-Marc Denomm'e và Madeleine Roy. Trong tác phẩm này các tác giả đã thể hiện quan niệm người học là người “thợ chính” của quá trình đào tạo, người dạy đảm nhiệm chức năng hướng dẫn người học. Môi trường ảnh hưởng ít nhiều đến hoạt động dạy của người dạy và hoạt động của người học thông qua các yếu tố bên trong, bên ngoài của người học và người dạy. Phương pháp này trông chờ vào tính năng động do quan hệ qua lại giữa người dạy - người học và môi trường nhằm phát huy sự phản ứng, trao đổi và điều chỉnh giữa các tác nhân. Ở Việt Nam, vấn đề xây dựng mối quan hệ tích cực giữa người dạy- người học- môi trường được nhiều nhà nghiên cứu, anh chị em sinh viên tham gia. Mỗi tác giả, mỗi bài viết đề cập đến những khía cạnh khác nhau của việc thiết lập mối quan hệ của bộ ba: Người dạy- Người học- môi trường trong quá trình dạy học Tiếng Việt. Người thì thông qua hệ thống bài tập tình huống, thông qua việc hình thành phương pháp dạy học, sử dụng phương pháp nêu vấn đề... Các quan niệm đó được thể hiện trong các bài báo, trên Tạp chí giáo dục như: "Cải tiến tổ chức hoạt động giáo dục theo phương pháp hợp tác" của Nguyễn Thanh Bình - Tạp chí nghiên cứu giáo dục số 3/1998; "Một số phương hướng và biện pháp nâng cao tính tích cực học tập của học sinh trong quá trình dạy học Tiếng Việt ở tiểu học của Ngô Thu Dung - Viện khoa học giáo dục; "Sử dụng phương pháp sư phạm tương tác một biện pháp nâng cao tính tích cực học tập của học sinh" của Vũ Lê Hoa - Tạp chí Giáo dục số 21 tháng 4/1998. Với luận văn này chúng tôi tiếp tục nghiên cứu cụ thể hơn về các biện pháp giải quyết mối quan hệ giữa Giáo viên - học sinh và các đòi hỏi của môi trường bên trong, bên ngoài giáo viên và học sinh với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Việt ở tiểu học. 3- MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU : Góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu học thông qua việc sử dụng phương pháp sư phạm tương tác một cách hợp lý. 4- KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU: 4.1- Khách thể : Quá trình dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu học. 4.2- Đối tượng : Sử dụng phương pháp sư phạm tương tác trong dạy học Tiếng Việt ở bậc tiểu học. 5- GIẢ THUYẾT KHOA HỌC : Có thể nâng cao được chất lượng dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu học. Nếu sử dụng phương pháp sư phạm tương tác một cách hợp lý. 6- NHIỆM VỤ: 6.1- Tìm hiểu cơ sở lý luận, thực tiễn của vấn đề nghiên cứu. 6.2- Sử dụng phương pháp sư phạm tương tác trong dạy học Tiếng Việt ở bậc tiểu học. 6.3- Thực nghiệm sư phạm. 7- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 7.1- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Nhằm thu thập các thông tin lí luận có liên quan đến đề tài nghiên cứu. 7.2- Phương pháp quan sát, điều tra Nhằm tìm hiểu thực tiễn dạy học Tiếng Việt hiện nay. 7.3 - Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Nhằm xem xét, xác nhận tính đúng đắn, hợp lý và tính khả thi của việc sử dụng phương pháp sư phạm tương tác trong dạy học Tiếng Việt ở tiểu học. 7.4 - Phương pháp thống kê toán học: Nhằm sử lý kết quả thu được qua thực nghiệm, tính điểm trung bình, độ lệch chuẩn để đánh giá hiệu quả của quá trình thực nghiệm. 8- ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN: Góp phần nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Việt và năng lực sử dụng Tiếng Việt cho học sinh tiểu học 9- BỐ CỤC ĐỀ TÀI: - Phần I: Mở đầu. - Phần II: Nội dung. Gồm 3 chương: Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn. Chương II: Sử dụng phương pháp sư phạm tương tác trong dạy học Tiếng Việt ở tiểu học. Chương III: Thực nghiệm sư phạm. - Phần 3: Kết luận - Tài liệu tham khảo. PHẦN II: NỘI DUNG Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái quát về phương pháp sư phạm tương tác. Phương pháp sư phạm tương tác là phương pháp dạy học tập trung trước hết vào người học, xem người học là người “thợ chính” của quá trình dạy học. Mọi can thiệp sư phạm đều xuất phát từ nhu cầu, tiềm năng và trách nhiệm của người học đối với quá trình học tập của bản thân. Người dạy trong phương pháp sư phạm tương tác là người hướng dẫn người học cách học, tạo ra những điều kiện thuận lợi để người học thực hiện phương pháp học của mình. Môi trường là yếu tố ảnh hưởng đến cả người dạy và người học, tuy nhiên ở một mức độ nào đó thì người dạy và người học cũng có những tác động ngược trở lại đối với môi trường. Phương pháp sư phạm tương tác được xây dựng căn bản dựa trên các tác nhân người dạy - người học - môi trường và các thao tác tương ứng với nó. 1.1. Các tác nhân: 1.1.1 Người học: Người học trong phương pháp sư phạm tương tác bao gồm tất cả các đối tượng đi học chứ không nhằm nhấn mạnh đến một mối quan hệ thầy trò hay một cơ sở trường lớp nào cả. Để có thể tồn tại và phát triển trong xã hội với tư cách là một thành viên tích cực, thì mỗi cá nhân đều phải được trang bị những năng lực thực tiễn thể hiện ở khả năng lao động, cư xử trong sản xuất và trong đời sống hàng ngày. Các năng lực thực tiễn đó đặc trưng cho trình độ văn minh của xã hội và bao giờ cũng có sẵn trong nền văn hoá xã hội do thế hệ trước tạo ra, tinh chế và gửi vào các sản phẩm vật chất tinh thần. Để có những năng lực đó thì người học phải tham gia vào quá trình thu lượm tri thức, kỹ năng kỹ xảo bằng năng lực của chính mình. Sở dĩ nói như vậy bởi năng lực người không tự nhiên mà có trong mỗi cá thể, nó cũng không di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng con đường “tập nhiễm” giống các động vật bậc thấp. Muốn có nó thì con người phải trải qua một quá trình hoạt động, rèn luyện lâu dài bằng chính tiềm năng của bản thân để làm "sống" lại những năng lực thực tiễn đã được gửi vào trong đối tượng từ đó mà tiếp thu, lĩnh hội. Người học theo quan điểm của phương pháp sư phạm tương tác không phải là cái bình sống để chứa những kiến thức mà người dạy rót sang, cũng không phải là đối tượng thụ động tuân theo mọi quyết định của người dạy. Trái lại, người học ở đây là chủ thể tích cực tự giác tham gia vào quá trình học tập của bản thân để chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo đồng thời họ có khả năng tự điều chỉnh hoạt động của mình nhằm đi đến mục đích cuối cùng. Trong vai trò là một tác nhân người học được xem xét như là chủ thể đi tìm cách học và tìm cách hiểu chứ không phải là người được dạy. 1.1.2 Người dạy: Người dạy trong phương pháp sư phạm tương tác không đóng vai trò là "cái máy bơm đơn giản bơm tri thức vào đầu học sinh", họ là người bằng tri thức, kinh nghiệm của mình có trách nhiệm hướng dẫn người học học cách học. Thật vậy, mỗi đối tượng tồn tại trong xã hội đều chứa đựng những năng lực người nhất định, chẳng hạn: Cái cốc là vật thể hoá khái niệm "cốc", năng lực người chứa đựng trong cái cốc đó là khả năng dùng cốc để uống nước. Nhiệm vụ của người học là phải tham gia vào quá trình tái tạo lại quá trình loài người đã sáng tạo ra đối tượng để thu về mình những năng lực cần thiết. Mà quá trình tái tạo đó đạt hiệu quả cao thì người dạy phải sử dụng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực, kinh nghiệm sống của mình để thiết kế, tổ chức lại quá trình tái sản xuất đó thành một quy trình công nghệ theo kiểu nhà trường đảm bảo cho bất kỳ người học nào làm đúng theo quy trình công nghệ ấy thì thế nào cũng làm ra sản phẩm mà không nhất thiết phải sai, việc lập lại một việc làm đã được xác định tương đối dễ đối với người học. Nếu người dạy làm được như vậy thì họ đã thực hiện được nhiệm vụ hướng dẫn người học lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo. Để làm được điều này người dạy cần phải có tri thức sư phạm và khoa học để làm chủ nội dung và phương pháp dạy học, ngoài ra còn phải có khả năng dự kiến các tình huống có thể xảy ra trong quá trình dạy học để có biện pháp giúp đỡ kịp thời đối với người học, để họ thực hiện tốt phương pháp dạy học của mình. Như đã nói ở trên, để thực hiện trách nhiệm hướng dẫn người học thì người dạy phải biết thiết kế và tổ chức quá trình tái sản xuất kiến thức theo một quy trình công nghệ theo kiểu nhà trường thì người dạy phải chỉ cho người học con đường phải đi ,các phương tiện cần sử dụng và cái đích đạt được. Đồng thời người dạy còn phải tạo cho người học hứng thú, tinh thần trách nhiệm đối với việc học của bản thân và có biện pháp hỗ trợ, giúp đỡ để cho người học đến đích. Một điều cốt lõi khi thực hiện các công việc này đối với người dạy, đó là không bao giờ được làm hộ người học, không bao giờ được đem đến cho người học những sản phẩm làm sẵn, mà muốn hình thành ở người học năng lực gì thì người dạy phải tổ chức và tạo mọi điều kiện cho người học có thể tự tạo ra sản phẩm ấy và làm trước mắt người dạy. Như vậy thì cách truyền đạt đơn thuần theo lối học thuộc lòng một bài giảng hay cách truyền đạt theo cách truyền đạt một thông tin khoa học là những cách thức dạy học đi ngược lại tinh thần cơ bản của phương pháp sư phạm tương tác. Người dạy theo nghĩa đích thực của từ này là người được đào tạo một cách chuyên biệt với tư cách là một nghề trong xã hội. Họ là người thực hiện sứ mệnh vinh quang là vì sự phát triểm của xã hội, của thế hệ tương lai chứ không phải xã hội sinh ra nghề dạy học để các ông thầy có việc làm. Mặt khác,vì sự có mặt của người học quyết định sự có mặt của người dạy với tư cách là một thầy giáo đích thực. Cho nên trong phương pháp sư phạm tương tác người dạy không phải là chủ thể của quá trình dạy học mà là người phục vụ người học, làm nảy sinh ở người học với tư cách của một người hướng dẫn. 1.1.3 Môi trường: Trong phương pháp sư phạm tương tác môi trường bao gồm môi trường bên trong và môi trường bên ngoài. Môi trường bên trong là tư tưởng tình cảm, tâm lý, ý thức... của người dạy và người học. Môi trường bên ngoài là toàn bộ thế giới vật chất tồn tại xung quanh người dạy và người học. Môi trường là một tác nhân quan trọng có ảnh hưởng đến người dạy, người học. Bầu không khí cởi mở, thân thiện của người dạy, người học và tập thể, chế độ làm việc hợp lý, cơ sở vật chất phù hợp có tác động lôi cuốn sự hứng thú, khả năng tập trung và nội dung dạy học. Ở luận văn này chúng tôi chỉ đề cập đến môi trường bên ngoài theo nghĩa là môi trường sư phạm trong lớp học bởi đây là môi trường tác động trực tiếp đến người dạy và người học. 1.2. Các thao tác: Tương ứng với các tác nhân trên là các thao tác sau: 1.2.1 Phương pháp học: Phương pháp học còn là hoạt động học (có chủ định). Nếu các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo được hình thành thông qua hoạt động vui chơi, lao động chỉ là sản phẩm phụ của các hoạt động đó và các kiến thức lĩnh hội được chỉ là những kiến thức kinh nghiệm thì những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo được lĩnh hội thông qua hoạt động học tập có chủ định là sản phẩm chính của hoạt động học, đó là những kiến thức khoa học đích thực, có tính chất cẩm nang, nó giống như chiếc chìa khoá vạn năng giúp người học mở cửa kho tàng tri thức của nhân loại để lĩnh hội những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho bản thân mình. Vì phương pháp học chính là hoạt động học nên để tiến hành hoạt động học thì người học phải đưa ra các hành động học. Có ba hành động học là phân tích, khái quát và cụ thể hoá ba hành động này có mối quan hệ biện chứng thống nhất với nhau. Ban đầu những hành động học tập này là đối tượng lĩnh hội (học cách học) sau khi đã được hình thành thì nó lại trở thành phương tiện học tập và góp phần quyết định chất lượng của hoạt động và hoạt động học tập chỉ có thể được hình thành thông qua các hành động học tập, do đó trong quá trình dạy học phải lấy hành động học tập làm cơ sở. Cái đích của hoạt động học tập là hướng tới chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo thông qua sự tái tạo của cá nhân. Cái đích đó sẽ không thực hiện được nếu người học không được tham gia vào quá trình tái tạo đó. Trái lại người học phải tích cực tiến hành các hoạt động học tập bằng chính năng lực, trí tuệ, và ý thức tự giác của bản thân dưới sự hướng dẫn của người dạy. Điều đó cho thấy việc dạy học không phải là một bài độc tấu mà là một vở kịch có người học cùng tham gia trên con đường đi đến lĩnh hội một tri thức mới. Khác với hoạt động khác, hoạt động học không làm thay đổi khách thể, đối tượng của hoạt động mà là hoạt động hướng vào chủ thể của nó. Nếu chủ thể lĩnh hội được càng nhiều kiến thức - kỹ năng - kỹ xảo thì sức mạnh vật chất, tinh thần của họ càng tăng lên bấy nhiêu. Vì vậy hoạt động học của người học không diễ
Luận văn liên quan