Luận văn Thực trạng và một số biện pháp quản lý thiết bị dạy học ở các trường THCS huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ

Đất nước ta đang chuyển sang thời kỳ thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Văn kiện Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ VIII đã nhấn mạnh: “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.”[15]. Thực hiện chủ trương trên, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã và đang triển khai đổi mới toàn diện và đồng bộ giáo dục-đào tạo, trong đó có đổi mới phương pháp dạy học. Đổi mới phương pháp dạy học có hiệu quả cao hay thấp một phần phụ thuộc vào cơ sở vật chất và thiết bị dạy học. Cùng với chương trình kiên cố hóa trường lớp theo quyết định 159/QĐ-CP của chính phủ, Ủy Ban nhân dân và Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Cần Thơ nói chung cùng với Ủy Ban nhân dân và Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Phong Điền nói riêng đã ưu tiên kinh phí xây dựng trường, lớp học, trang bị cơ sở vật chất; mua sắm trang thiết bị dạy học, sách giáo khoa, sách giáo viên, dành những điều kiện tốt nhất để các trường thực hiện nhiệm vụ đổi mới giáo dục trong những năm học vừa qua. Phòng Giáo dục huyện đã huy động nhiều nguồn kinh phí từ các chương trình, dự án, xã hội hóa giáo dục để mua sắm phương tiện, thiết bị thực hành cho học sinh và đồ dùng dạy học cho giáo viên.

pdf78 trang | Chia sẻ: duongneo | Ngày: 27/07/2017 | Lượt xem: 1325 | Lượt tải: 33download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Thực trạng và một số biện pháp quản lý thiết bị dạy học ở các trường THCS huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
BOÄ GIAÙO DUÏC VAØ ÑAØO TAÏO TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC SÖ PHAÏM THAØNH PHOÁ HOÀ CHÍ MINH Ñaëng Phuùc Tònh Chuyeân ngaønh : Quaûn lí giaùo duïc Maõ soá : 60 14 05 LUAÄN VAÊN THAÏC SÓ GIAÙO DUÏC HOÏC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TS. VÕ THỊ BÍCH HẠNH Thành phố Hồ Chí Minh, 2010 LỜI CẢM ƠN Tôi xin chân thành cám ơn Ban Giám hiệu, quý Thầy Cô trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, Phòng Khoa học Công nghệ và Sau Đại học, Khoa Tâm lý Giáo dục trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh. Tôi xin chân thành cám ơn phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Phong Điền đã tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu. Tôi xin chân thành cám ơn Ban Giám hiệu, quý thầy cô các trường Trung học cơ sở huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ: trường THCS Giai Xuân, trường THCS Mỹ Khánh, trường THCS Nhơn Nghĩa, trường THCS Tân Thới, trường THCS Thị trấn Phong Điền, trường THCS Trường Long. Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành sâu sắc đến Tiến sĩ Võ Thị Bích Hạnh đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn. Tôi xin cám ơn gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã động viên khích lệ để tôi hoàn thành luận văn này. Do thời gian và năng lực có hạn, luận văn chắc chắn còn nhiều thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp. Trân trọng cám ơn! Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2010 Tác giả DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT CBQL : cán bộ quản lí CSVC : cơ sở vật chất GD : giáo dục GD&ĐT : giáo dục và đào tạo GV : giáo viên HS : học sinh HT : Hiệu trưởng PPDH : phương pháp dạy học QLGD : quản lí giáo dục TBDH : thiết bị dạy học THCS : trung học cơ sở PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Đất nước ta đang chuyển sang thời kỳ thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Văn kiện Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ VIII đã nhấn mạnh: “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.”[15]. Thực hiện chủ trương trên, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã và đang triển khai đổi mới toàn diện và đồng bộ giáo dục-đào tạo, trong đó có đổi mới phương pháp dạy học. Đổi mới phương pháp dạy học có hiệu quả cao hay thấp một phần phụ thuộc vào cơ sở vật chất và thiết bị dạy học. Cùng với chương trình kiên cố hóa trường lớp theo quyết định 159/QĐ-CP của chính phủ, Ủy Ban nhân dân và Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Cần Thơ nói chung cùng với Ủy Ban nhân dân và Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Phong Điền nói riêng đã ưu tiên kinh phí xây dựng trường, lớp học, trang bị cơ sở vật chất; mua sắm trang thiết bị dạy học, sách giáo khoa, sách giáo viên, dành những điều kiện tốt nhất để các trường thực hiện nhiệm vụ đổi mới giáo dục trong những năm học vừa qua. Phòng Giáo dục huyện đã huy động nhiều nguồn kinh phí từ các chương trình, dự án, xã hội hóa giáo dục để mua sắm phương tiện, thiết bị thực hành cho học sinh và đồ dùng dạy học cho giáo viên. Ở cấp học Trung Học Cơ Sở, học sinh được tiếp xúc nhiều môn học khác nhau, mỗi môn học bao gồm hệ thống tri thức với những khái niệm trừu tượng, khái quát nên việc sử dụng thiết bị dạy học có hiệu quả sẽ góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng học tập của học sinh nói riêng và chất lượng dạy học nói chung ở nhà trường THCS. Trong đổi mới giáo dục và đào tạo, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học có vị trí đặc biệt quan trọng. Cuộc cách mạng về phương pháp dạy học sẽ đem lại bộ mặt mới, sức sống mới cho giáo dục trong xã hội hiện đại. Thiết bị dạy học là thành tố cơ bản của quá trình dạy học, góp phần giúp giáo viên thực hiện quá trình dạy học đạt kết quả cao. Thiết bị dạy học là điểm tựa cho học sinh hình thành tri thức lý thuyết và kỹ năng thực hành đạt hiệu quả cao trong hoạt động học tập. Chúng ta có thể khẳng định rằng, việc sử dụng có hiệu quả thiết bị dạy học sẽ góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục. Các trường THCS sau những năm thay sách vừa qua, đã được cung ứng một lượng lớn thiết bị dạy học của các môn học từ lớp 6 đến lớp 9. Nhiệm vụ của các trường là làm sao sử dụng và phát huy hiệu quả thiết bị đã được cung cấp nhằm thực hiện tốt hơn việc đổi mới phương pháp dạy học góp phần tích cực thực hiện mục tiêu là đào tạo con người Việt Nam năng động, sáng tạo, tự chủ. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy nhiều trường THCS ở huyện vẫn chưa làm tốt công tác bảo quản và sử dụng hiệu quả thiết bị dạy học. Vì vậy, đối với người làm công tác quản lý trường học, việc hoạch định các biện pháp quản lý hợp lý để phát huy hiệu quả sử dụng thiết bị dạy học là rất cần thiết. Từ thực tế đó, tôi chọn đề tài “Thực trạng và một số biện pháp quản lý thiết bị dạy học ở các trường THCS huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ”, với mong muốn tìm một số biện pháp thích hợp cho công tác quản lý thiết bị dạy học trong trường THCS. 2. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý thiết bị dạy học và khảo sát thực trạng quản lý thiết bị dạy học ở các trường THCS huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ, đề xuất một số biện pháp quản lý thiết bị dạy học nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy và học của các trường THCS tại huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ. 3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu - Khách thể nghiên cứu: công tác quản lý cơ sở vật chất và các thiết bị trường học tại các trường THCS huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ. - Đối tượng nghiên cứu: thực trạng công tác và các biện pháp quản lý thiết bị dạy học ở các trường THCS huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ. 4. Giả thuyết khoa học Việc quản lý thiết bị dạy học của Hiệu trưởng các trường THCS huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ chưa được chú ý đúng mức, hiệu quả chưa cao, chưa đáp ứng kịp thời các yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay. Cần đề xuất các biện pháp quản lý thiết bị dạy học phù hợp với các trường THCS góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học trong các trường THCS tại huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ. 5. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu cơ sở lý luận về thiết bị dạy học và công tác quản lý thiết bị dạy học trong trường THCS. - Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác quản lý thiết bị dạy học của Hiệu trưởng ở các trường THCS huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ. - Đề xuất một số biện pháp quản lý thiết bị dạy học cho trường THCS. 6. Phương pháp nghiên cứu 6.1 Phương pháp luận 6.1.1 Quan điểm tiếp cận hệ thống cấu trúc Quan điểm tiếp cận hệ thống cấu trúc giúp người nghiên cứu tìm hiểu mối quan hệ chặt chẽ giữa quản lý thiết bị dạy học với quản lý các hoạt động sư phạm khác ở trường THCS. Trong đó quản lý thiết bị dạy học là một hệ thống con với các yếu tố hợp thành. Từ đó giúp chúng ta tìm hiểu chính xác thực trạng công tác quản lý thiết bị dạy học. 6.1.2 Quan điểm tiếp cận lịch sử Quan điểm tiếp cận lịch sử giúp người nghiên cứu xác định phạm vi không gian, thời gian và điều kiện hoàn cảnh cụ thể để điều tra thu thập số liệu chính xác, đúng với mục đích nghiên cứu đề tài, trình bày công trình nghiên cứu theo một trật tự lôgíc. 6.1.3 Quan điểm tiếp cận thực tiễn Quan điểm tiếp cận thực tiễn giúp phát hiện những ưu điểm, mâu thuẫn, tồn tại trong công tác quản lý thiết bị dạy học ở các trường THCS huyện Phong Điền, từ đó đề xuất được các biện pháp phù hợp với thực tiễn các trường THCS thành phố Cần Thơ. 6.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 6.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết Phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa những vấn đề lý luận từ sách, báo, tài liệu và văn kiện, văn bản có liên quan nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu. 6.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 6.2.2.1 Phương pháp quan sát sư phạm: nhằm thu thập thông tin qua việc quan sát hoạt động quản lý thiết bị dạy học ở các trường THCS. 6.2.2.2 Phương pháp điều tra giáo dục a) Mục đích điều tra: thu thập thông tin, số liệu, tư liệu về thực trạng công tác quản lý TBDH và biện pháp quản lý TBDH ở các trường THCS huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ nhằm minh chứng cho giả thuyết khoa học. b) Nội dung điều tra: - Thực trạng về TBDH và quản lý TBDH ở các trường THCS huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ, những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân. - Khảo sát tính cần thiết và khả thi của hệ thống các biện pháp đề xuất. c) Mẫu nghiên cứu: Điều tra CBQL và GV của 06 trường THCS trong huyện Phong Điền. 6.2.2.3 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: lấy ý kiến một số nhà quản lý có kinh nghiệm, lãnh đạo và chuyên viên trong việc đề xuất các biện pháp mang tính đột phá, cấp bách trong việc nâng cao chất lượng quản lý TBDH ở các trường THCS. 6.2.3 Phương pháp thống kê toán học: sử dụng toán thống kê để việc xác định các thông số cần thiết mang tính chính xác, khoa học. 7. Phạm vi nghiên cứu Đề tài nghiên cứu thực trạng thiết bị dạy học và công tác quản lý thiết bị dạy học của Hiệu trưởng trên tất cả 06 trường THCS (gồm: trường THCS Mỹ Khánh, trường THCS Giai Xuân, trường THCS Nhơn Nghĩa, trường THCS Tân Thới, trường THCS Trường Long và trường THCS Thị trấn Phong Điền) trực thuộc Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ. Quá trình nghiên cứu cũng như kết quả của đề tài chỉ tiến hành, áp dụng trong phạm vi huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ. Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề Đối với công tác dạy học, TBDH là công cụ lao động sư phạm của GV và HS, những yếu tố không thể thiếu được trong quá trình dạy học. Với tư cách là công cụ lao động sư phạm của GV và HS, trong những trường hợp sử dụng đúng qui trình, phù hợp với đặc trưng của từng bộ môn, TBDH đóng vai trò cung cấp nguồn thông tin cho HS trong học tập, tạo ra nhiều khả năng để GV trình bày nội dung bài học một cách sâu sắc, thuận lợi, hình thành được ở HS những phương pháp học tập tích cực, chủ động. Chính vì vậy, công tác quản lý cơ sở vật chất trường học nói chung và công tác quản lý TBDH nói riêng đã được nhiều tổ chức và cá nhân nghiên cứu. Trần Văn Long với đề tài: “Thực trạng và giải pháp quản lý cơ sở vật chất các trường tiểu học ở tỉnh Khánh Hòa”[37], tác giả đánh giá thực trạng quản lý CSVC các trường tiểu học để xác định được các giải pháp có tính khoa học và khả thi trong quản lý CSVC các trường tiểu học, góp phần phát triển dạy-học 2 buổi/ngày, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục tiểu học phù hợp với tình hình phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Khánh Hòa. Trần Duy Hân với đề tài: “Biện pháp quản lý phương tiện dạy học của Hiệu trưởng các trường THCS trên địa bàn thành phố Huế đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông hiện nay”[28], tác giả đã nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng việc quản lý phương tiện dạy học của Hiệu trưởng, xác lập các biện pháp quản lý phương tiện dạy học có hiệu quả của Hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Huế, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay. Lê Thanh Giang với đề tài: “Thực trạng và giải pháp quản lý việc sử dụng thiết bị dạy học của giáo viên trường trung học phổ thông tỉnh Cà Mau” [24], qua đề tài tác giả đã khảo sát và phân tích thực trạng quản lý và sử dụng TBDH ở một số trường THPT tỉnh Cà Mau, từ đó đề xuất một số giải pháp quản lý việc sử dụng TBDH của giáo viên nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng TBDH ở các trường THPT tỉnh Cà Mau. Tô Xuân Giáp với công trình: “Phương tiện dạy học-Hướng dẫn chế tạo và sử dụng”[25], tác giả đã đưa ra cơ sở phân loại và phân loại phương tiện dạy học, cách thức lựa chọn, thiết kế, chế tạo, sử dụng phương tiện dạy học và các điều kiện để đảm bảo sử dụng có hiệu quả phương tiện dạy học. Theo tác giả: “Phương tiện dạy học được sử dụng đúng, có tác dụng làm tăng hiệu quả sư phạm của nội dung và phương pháp dạy học lên rất nhiều”[25, tr.43] Trong giáo trình: “Lý luận dạy học ở trường THCS”[3] do Nguyễn Ngọc Bảo và Trần Kiểm viết đã dành một chương (chương 5) để viết về phương tiện dạy học. Theo tác giả, phương tiện dạy học có ý nghĩa quan trọng trong việc vận dụng phương pháp dạy học. Bên cạnh việc đổi mới nội dung, phương pháp dạy học, hiện nay các trường THCS đã được trang bị nhiều phương tiện dạy học. Vì vậy GV cần phải nắm được khái niệm phương tiện dạy học, các loại phương tiện dạy học, cách sử dụng, bảo quản từng loại phương tiện dạy học, đặc biệt là phương tiện dạy học kỹ thuật. Trong cuốn: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc xây dựng, sử dụng cơ sở vật chất và thiết bị dạy-học ở trường phổ thông Việt Nam”[21], do Trần Quốc Đắc chủ biên, tác giả đã đưa ra các quan điểm làm cơ sở cho việc sử dụng TBDH, xác định vị trí, vai trò của CSVC và TBDH ở trường phổ thông. Các tác giả nhận định: “Thiết bị dạy học phải được sử dụng, hiệu quả sử dụng là mục tiêu cơ bản nhất và là mục tiêu duy nhất của toàn bộ công tác thiết bị trường học. Sử dụng có hiệu quả TBDH là một nhiệm vụ nặng nề, khó khăn của người thầy giáo. Điều này đòi hỏi người thầy giáo phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao với yêu cầu sử dụng TBDH. Người GV không những cần hiểu biết về TBDH, về kỹ thuật sử dụng chúng mà còn hiểu sâu về phương pháp dạy học với yêu cầu sử dụng TBDH: sử dụng TBDH với mục đích gì, lúc nào, liều lượng bao nhiêu, đặc điểm tâm lý HS ra sao; HS cần tham gia hoạt động như thế nào khi dạy học có sử dụng TBDH, sử dụng TBDH như thế nào để khơi dậy lòng say mê học tập, phát huy tính tích cực, năng lực sáng tạo và bồi dưỡng nhân cách cho HS”[21, tr.29]. Trong cuốn: “Quản lý giáo dục”[30] do Bùi Minh Hiền chủ biên, ở chương 10 tác giả đã đề cập đến vai trò của TBDH trong sự phát triển hệ thống giáo dục quốc dân, phân loại các nhóm TBDH mà người quản lý cần bao quát và đưa ra một số nguyên tắc cùng giải pháp quản lý TBDH ở trường học trong giai đoạn hiện nay. Giáo trình: “Bồi dưỡng Hiệu trưởng trường trung học cơ sở”, tập 3 [45] do Chu Mạnh Nguyên chủ biên, ở bài 22 tác giả đã nêu những vấn đề chung về CSVC-TBDH và công tác quản lý về CSVC-TBDH. Đây là những nội dung giúp người Hiệu trưởng có thể áp dụng trong công tác quản lý CSVC và TBDH ở trường của mình. Những công trình nghiên cứu của các tác giả nêu trên đã xây dựng được một hệ thống lý luận về vai trò, tác dụng của TBDH cùng một số yêu cầu và nguyên tắc sử dụng nó trong quá trình dạy học. TBDH được xác định là một thành tố quan trọng trong quá trình dạy học, nhất là ở cấp THCS, nó đóng vai trò to lớn trong việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay. Lý luận về TBDH đã được làm sáng tỏ trong nhiều công trình nghiên cứu và trong các giáo trình về lý luận dạy học. Tuy vậy, trong các hướng nghiên cứu trên, lĩnh vực nghiên cứu quản lý TBDH trong quá trình dạy học nói chung và trong các trường THCS huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ nói riêng chưa được nghiên cứu đầy đủ. Do đó, chúng tôi đi sâu tìm hiểu vấn đề này. 1.2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1.2.1 Quản lý Hoạt động quản lý hình thành từ sự phân công hợp tác lao động, từ sự xuất hiện của tổ chức, cộng đồng. Với nhu cầu hướng đến hiệu quả tốt hơn, năng suất cao hơn trong sự hợp tác lao động của cộng đồng đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp, phân công, kiểm tra, điều chỉnh Do đó xuất hiện vai trò người quản lý. Các Mác viết: “ Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên qui mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”[30, tr.12]. Ngày nay thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến, nhưng chưa có một định nghĩa thống nhất. Một số tác giả cho quản lý là hoạt động nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc thông qua sự nỗ lực của người khác. Một số tác giả khác cho quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm. Tuy nhiên, theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người “Quản lý chính là các hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối hành động của những người khác nhằm thu được kết quả mong muốn”. Từ những ý chung của các định nghĩa và xét quản lý với tư cách là một hành động, chúng tôi đồng ý với quan niệm: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra”[30, tr.12]. 1.2.2 Quản lý giáo dục 1.2.2.1 Khái niệm Cũng như quản lý xã hội nói chung, quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức của con người nhằm theo đuổi những mục đích của mình. Chỉ có con người mới có khả năng khách thể hóa mục đích, nghĩa là thể hiện cái nguyên mẫu lý tưởng của tương lai được biểu hiện trong mục đích đang ở trạng thái khả năng sang trạng thái hiện thực. Chúng ta biết, mục đích giáo dục cũng chính là mục đích của quản lý (tuy nó không phải là mục đích duy nhất của mục đích quản lý giáo dục). Đây là mục đích có tính khách quan. Nhà quản lý, cùng với đông đảo đội ngũ giáo viên, học sinh, các lực lượng xã hội bằng hành động của mình sẽ thực hiện mục đích đó trong hiện thực. Thực tế, khái niệm “quản lý giáo dục” có nhiều cấp độ. Trong đó có hai cấp độ chủ yếu: cấp vĩ mô và cấp vi mô. Cấp quản lý vĩ mô tương ứng với việc quản lý một đối tượng có quy mô lớn nhất, bao quát toàn bộ hệ thống. Nhưng trong hệ thống này lại có nhiều hệ thống con, tương ứng với hệ thống con có hoạt động quản lý vi mô. Quan niệm về quản lý vĩ mô và quản lý vi mô trong giáo dục, sẽ gồm hai nhóm khái niệm tương ứng: quản lý một hệ thống giáo dục (quản lý vĩ mô) và quản lý một nhà trường (quản lý vi mô). Ở đây, ta chỉ xem xét trên khía cạnh cấp quản lý vi mô. Theo tác giả Trần Kiểm, ở cấp độ quản lý vi mô, có thể định nghĩa khái niệm về QLGD như sau: “ Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường.” [34, tr.37]. Hay cũng có thể định nghĩa “Quản lý giáo dục thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường.” [34, tr.38]. Thuật ngữ “quản lý trường học” có thể xem là đồng nghĩa với QLGD thuộc tầm vi mô. Đây là những tác động quản lý diễn ra trong phạm vi nhà trường. Từ các khái niệm nêu trên, chúng ta có thể thấy rõ bốn yếu tố của QLGD, đó là: chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, khách thể quản lý và mục tiêu quản lý. Ta có thể biểu diễn bốn yếu tố này bằng sơ đồ 1.1: Sơ đồ 1.1. Sơ đồ khái niệm quản lý Trong thực tiễn, các yếu tố nêu trên không tách rời nhau mà ngược lại, chúng có quan hệ tương tác gắn bó với nhau. Chủ thể quản lý tạo ra những tác nhân tác động lên đối tượng quản lý, nơi tiếp nhận tác động của chủ thể quản lý và cùng với chủ thể quản lý hoạt động theo một quỹ đạo nhằm cùng thực hiện mục tiêu của tổ chức. Khách thể quản lý nằm ngoài hệ thống hệ quản lý giáo dục. Nó là hệ thống khác hoặc các ràng buộc của môi trường Nó có thể chịu tác động hoặc tác động trở lại đến hệ thống giáo dục và hệ thống quản lý giáo dục. Vấn đề đặt ra đối với chủ thể quản lý là làm như thế nào để những tác động từ phía khách thể quản lý đến giáo dục là tích cực, cùng thực hiện mục tiêu chung. 1.2.2.2 Các chức năng của quản lý giáo dục a. Chức năng kế hoạch hóa trong quản lý giáo dục Một tập thể lao động, trong đó mọi người liên kết với nhau hoạt động thực hiện nhiệm vụ của tập thể và của bản t
Luận văn liên quan