Luận văn Tiếp tục nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản cá ngát (plotosus canius hamilton, 1822)

Đề tài tập trung nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản của cá Ngát ngoài tự nhiên. Mẫu cá được thu tại 3 tỉnh An Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng dọc theo tuyến sông Hậu từ các ngư dân và các chợ địa phương. Kết quả nghiên cứu cho thấy cá Ngát (Plotosus canius) có sự tương quan chặt chẽ giữa sức sinh sản tuyệt đối và tọng lượng cá theo phương trình có dạng y=2.3003x0.9514 với hệ số tương quan R2 =0.809. Độ béo của cá biến đổi trong các tháng quan sát như sau: Độ béo Fulton thay đổi từ (0.16-3.52%) và độ béo Clack thay đổi từ (0-3.34%). Độ béo tăng cao nhất vào khoảng tháng 11. Hệsố thành thục (GSI) trung bình của cá thấp thay đổi từ (0.145-3.55%) thấp nhất vào khoảng tháng 9. Sức sinh sản trung bình tuyệt đối của cá Ngát là 2125 trứng/cá thể và sức sinh sản tương đối là 1692 trứng/Kg. Đường kính trứng trong bình của cá dao động từ 0.37-0.68 cm, lớn hơn nhiều so với các loài cá khác.

pdf33 trang | Chia sẻ: lvbuiluyen | Ngày: 04/11/2013 | Lượt xem: 1799 | Lượt tải: 7download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Tiếp tục nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản cá ngát (plotosus canius hamilton, 1822), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA THỦY SẢN NGUYỄN VĂN VIẾNG ANH TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC SINH SẢN CÁ NGÁT (Plotosus canius Hamilton, 1822) LUẬN VĂN ĐẠI HỌC Cần thơ, 2009 LỜI CẢM TẠ Xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến cô Nguyễn Bạch Loan đã hướng dẫn tận tình và đóng góp ý kiến quý báo giúp em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này. Xin được gửi lời cảm ơn đến: Thầy Nguyễn Văn Thường, thầy Trần Đắc Định, thầy Vũ Ngọc Út đã tạo điều kiện để thuận lợi để luận văn tốt nghiệp em được hoàn thành. Qúy thầy cô, cán bộ Khoa Thủy sản đã tận tâm truyền đạt kiến thức trong suốt thời gian học tập tại trường. Cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của anh Nguyễn Bá Quốc trong quá trình thực hiện đề tài, cảm ơn những lời động viên tinh thần của các bạn cùng lớp trong suốt quá trình học tập. Cuối cùng xin cảm ơn Ba, Mẹ đã dạy dỗ, tạo mọi điều kiện để con có cơ hội học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp. TÓM TẮT Đề tài tập trung nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản của cá Ngát ngoài tự nhiên. Mẫu cá được thu tại 3 tỉnh An Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng dọc theo tuyến sông Hậu từ các ngư dân và các chợ địa phương. Kết quả nghiên cứu cho thấy cá Ngát (Plotosus canius) có sự tương quan chặt chẽ giữa sức sinh sản tuyệt đối và tọng lượng cá theo phương trình có dạng y=2.3003x0.9514 với hệ số tương quan R2=0.809. Độ béo của cá biến đổi trong các tháng quan sát như sau: Độ béo Fulton thay đổi từ (0.16-3.52%) và độ béo Clack thay đổi từ (0-3.34%). Độ béo tăng cao nhất vào khoảng tháng 11. Hệ số thành thục (GSI) trung bình của cá thấp thay đổi từ (0.145-3.55%) thấp nhất vào khoảng tháng 9. Sức sinh sản trung bình tuyệt đối của cá Ngát là 2125 trứng/cá thể và sức sinh sản tương đối là 1692 trứng/Kg. Đường kính trứng trong bình của cá dao động từ 0.37-0.68 cm, lớn hơn nhiều so với các loài cá khác. Phần I: ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là một trong những nước có diện tích nuôi trồng thủy sản (NTTS) lớn nhất Thế giới (Hanafi và Admad, 1999). Theo Bộ thủy sản Việt nam tính đến 14/11/08 kim nghạch xuất nhập khẩu của Việt Nam xấp xỉ 4 tỷ USD, trong 10 tháng đầu năm xuất khẩu đat 1.054.600 tấn, tăng 24% so với cùng kỳ năm ngoái. Qua đó, cho thấy được vai trò quan trọng của thủy sản đối với nền kinh tế của đất nước. Hơn nữa sản phẩm thủy sản còn cung cấp nguồn đạm rất cần thiết cho người nghèo và là sản phẩm tốt cho sức khỏe cộng đồng. Trên Thế giới, tiêu thụ sản phẩm thủy sản 5-9.7 (Kg/người /năm) ở Việt Nam là 13-15 (Kg/người/năm), riêng ở ĐBSCL là 30 (Kg/người/năm). Thủy hải sản lại có hệ số chuyển hóa thức ăn thấp hơn gia súc và gia cầm (Lê Xuân Sinh, 2005). Tuy nhiên nguồn lợi thủy sản tự nhiên thì có hạn mà nhu cầu của con người thì tăng lại càng tăng nhất là những loài cá có thịt thơm ngon như cá Trê vàng, cá Chạch lấu, nhất là cá Ngát. Cá Ngát (Plotosus canius Hamilton, 1822), một trong những loài cá da trơn có kích cỡ thương phẩm tương đối lớn, trung bình cá 2 năm tuổi có trọng lượng từ 2- 3 kg/con. Cá ngát có giá trị thịt thơm ngon. Hiện nay trên thị trường, cá có trọng lượng trên 1kg được bán với giá từ 40.000 - 50.000 đồng.(Google, 2008) Do có giá trị kinh tế cao nên nhiều ngư dân đã khai thác tích cực đối tượng này dẫn đến sự cạn kiệt dần nguồn cá ngoài nhiên. Trên cơ sở điều tra của Trung Tâm Nghiên cứu và Sản xuất giống thủy sản An Giang, bước đầu có thể nhận định cá Ngát hoàn toàn có thể nuôi được trong các lồng bè đặt nơi có dòng chảy tốt và đây có thể được xem là một đối tượng nuôi mới rất hiệu quả trong tương lai. Nhưng những nghiên cứu về đối tượng này còn rất ít và qui trình sản xuất giống chưa ổn định để đáp ứng nhu cầu trong tương lai. Chính vì vậy Lê Thái Nguyên (2008) đã tìm hiểu một số chỉ tiêu sinh học sinh sản của cá Ngát nhưng thời gian thực hiện chỉ mới từ tháng 1-5. Xuất phát từ tình hình trên được sự phân công của Khoa thủy sản, Bộ môn Thủy sinh học ứng dụng, đề tài “Tiếp tục nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản của cá Ngát (Plotsus canius) được tiến hành. 1.1 Mục tiêu của đề tài Góp phần hoàn chỉnh những dẫn liệu về sinh học sinh sản nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho những nghiên cứu tiếp về sản xuất giống nhân tạo loài cá Ngát (Plotosus canius Hamilton, 1822) 1.2 Nội dung 1.2.1. Tiếp tục khảo sát hình thái các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục qua các tháng còn lại trong năm. 1.2.2. Biến động độ béo qua các tháng thu mẫu.  Clark  Fulton 1.2.3. Tiếp tục theo dõi biến động hệ số thành thục của cá Ngát ngoài tự nhiên. 1.2.4. Đường kính trứng của cá Ngát. 1.2.5. Sức sinh sản tuyệt đối và tương đối. 1.2.6. Tiếp tục nghiên cứu về mối quan hệ giữa sức sinh sản và kích cỡ cá Ngát thành thục sinh dục. PHẦN II: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU Họ cá Plotosidae được phát hiện đầu tiên trong thủy vực thuộc vùng cửa sông, vùng đầm phá, thỉnh thoảng bắt gặp trong các con sông ở các quốc gia phụ cận khu vực hạ lưu Ấn Độ - Tây Thái Bình Dương và sự đa dạng thành phần loài của họ cá này cũng tập trung chủ yếu ở khu vực này: từ bờ biển phía tây và phía nam Ấn Độ, chạy về phía đông Sri Lanka đến bờ biển Bangladesh and Myanmar, xuyên qua Châu Úc (Indo-Australian Archipelago) and Philippines. (Fishbase, 2008) Hình 1: Bản đồ phân bố của cá Ngát trên Thế giới 2.1 Đặc điểm hình thái phân loại cá Ngát 2.1.1 Vị trí phân loại Theo dẫn liệu từ Fishbase (2008) và Itis (2008) hệ thống phân loại của cá Ngát được xác định như sau: Giới: Animalia Linnaeus, 1758 - animals Ngành: Chordata Bateson, 1885 - chordates Lớp: Osteichthyes Huxley, 1880 - bony fishes Bộ: Siluriformes - catfishes Họ: Plotosidae - eeltail catfishes Giống: Plotosus La Cepède, 1803 Loài: Plotosus canius Hamilton, 1822 Cá Ngát Plotosus canius còn có các đồng danh sau (Fishbase ,2008): + Plotosus canius Hamilton, 1822 + Plotosus horridus Bleeker, 1846 + Plotosus multiradiatus Bleeker, 1846 + Plotosus unicolor Valenciennes, 1840 + Potosus viviparus Bleeker, 1846 Hiện nay tên Plotosus canius Hamilton, 1822 của cá Ngát được nhiều tác giả sử dụng phổ biến trên thế giới (Fishbase, 2008 và Itis, 2008). Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) và Rainboth (1996) họ Plotosidae chỉ có một giống Plotosus. Theo Itis (2008) và Fishbase (2008) họ Plotosidae có 10 giống cá với tên khoa học như sau: + Anodontiglanis Rendahl, 1922 + Cnidoglanis Günther, 1864 + Euristhmus Ogilby, 1899 + Neosiluroides Allen and Feinberg, 1998 + Neosilurus Steindachner, 1867 + Oloplotosus Weber, 1913 + Paraplotosus Bleeker, 1862 + Plotosus Lacepède, 1803 + Porochilus Weber, 1913 + Tandanus Mitchell, 1838 2.1.2 Đặc điểm hình thái: Do có giá trị kinh tế cao, thịt ngon, kích thước lớn nên loài cá Ngát Nanh hay cá Ngát Chó (Plotosus canius) được nhiều người nghiên cứu. Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993, ở ĐBSCL chỉ có một loài Plotosus canius Hamilton, 1822, được mô tả như sau: D. I, 4 P. I, 12 V. 12 – 13 Dài chuẩn / Dài đầu = 5,2 (4,8 - 5,5) Dài đầu / Khoảng cách hai mắt = 2,9 (2,6 – 3,3) Dài chuẩn / Cao thân = 6,5 (5,9 – 7,6) Dài đầu / Đường kính mắt = 10,9 (9,5 – 11,9) Hình2: Hình dạng ngoài cá Ngát Đầu to, rộng, dẹp bằng. Miệng dưới nằm trên mặt phẳng nằm ngang, không co duỗi được. Môi dày, mềm, có viền rua. Răng hình quạt, cứng chắc. Răng vòm miệng xếp thành một đám có dạng hình lưỡi liềm, răng xếp thành 4 hàng ngang, các hàng sau thô hơn các hàng trước. Có 4 đôi râu to: Một đôi râu mũi (kéo dài qua khỏi mắt), một đôi râu mép nhưng hơi lệch về phía hàm trên, hai đôi râu hàm dưới. Mắt cá nhỏ, hoàn toàn nằm ở mặt lưng của đầu, gần chót mõm hơn gần cuối nắp mang. Phần trán giữa hai mắt rộng. Mấu xương chẩm nhỏ, hình tam giác đều. Hai màng mang dính nhau một phần và dính với eo mang. Thân dài, phần trước tròn, phần sau dẹp bên, mỏng và mềm mại. Đường bên hoàn toàn chạy từ mép trên lỗ mang đến điểm giữa gốc vi đuôi. Cá có hai vi lưng, gốc vi lưng thứ nhất ngắn, có gai độc, gốc vi lưng thứ hai và vi hậu môn nối liền với vi đuôi nhỏ. Vi đuôi không chẻ hai. Vi ngực có gai độc. Gai độc trước các vi ngực và vi lưng rất nhọn, cạnh trước và sau có răng cưa sắc. Cơ ở gốc vi phát triển và da ở vi dày. Mặt lưng của thân và đầu có màu nâu đen đến nâu đỏ nhạt dần xuống bụng. Bụng cá và mặt dưới của đầu có màu trắng sữa. Mặt trên của vi ngực, vi bụng màu xám, mặt dưới màu trắng sữa. Râu mép và râu mũi sậm hơn râu hàm dưới. 2.2 Phân bố và môi trường sống 2.1.1 Thế giới Bộ Siluriformes phân bố rất rộng người ta đã tìm thấy chúng ở Bắc, Trung, Nam Phi, Châu Mỹ, Châu Âu, Đông Nam Á…Ngoại trừ 2 họ (Aridae và Plotosidae) phân bố ở nước lợ nhưng di cư vào nước ngọt để tìm mồi. (Google, 2008) Cá Ngát phân bố rộng ở vùng nhiệt đới, vùng Ấn Độ - Tây Thái Bình Dương (Fishbase, 2008; Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương, 2006), xuất hiện nhiều ở các cửa sông, hồ, vịnh, đầm phá nước lợ, biển, chúng cũng có thể sống ở cả những vùng nước ngọt sâu trong nội địa (Fishbase, 2008). Chúng được tìm thấy ở các nước: Úc, Bangladesh, Brunei Darsm, Campuchia, Ấn Độ, Indonesia, Lào , Malaysia, Papua Guin, Myanmar, Philippines, Singapore, Sri Lanka, Thái Lan, và Việt Nam (Fishbase, 2008). Loài cá Ngát chó (Plotosus canius) sống đáy, vùng nước ngọt, nước lợ và nước mặn, phân bố chủ yếu ở: vùng ven biển các nước Bangladesh, Myanmar, Thái Lan, Sundaland, Sulawesi, Moluccas, Ấn Độ, và bên trong hạ lưu sông Mekong. 2.1.2 Việt Nam Ở nước ta có 2 loài cá thuộc giống Plotsus là: Loài Plotosus canius tìm thấy ở Nam Bộ và sông MêKông (Nguyễn Hữu Phụng và Nguyễn Nhật Thi, 2004; Google, 2008) Loài Plotosus linaetus được tìm thấy ở Vịnh Bắc Bộ và Miền Trung Việt Nam; kích thước trung bình 15-20 cm, lớn nhất 90 cm. Trên thế giới cá Ngát sọc phân bố ở biển và cửa sông, Đông Phi, Mandagascar, Hồng Hải, Ấn Độ, Úc, Malaysia, Philippines, Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam. Theo kết quả khảo sát của Lâm Văn Minh, 2000 cho biết cá Ngát có thể sống nơi có các chỉ tiêu môi trường như sau: Trung bình các điểm thu Yếu tố môi trường Ba Tri Tiệm Tôm Vàm Nao Oxy (ppm) 6.8 6.4 7.5 Nhiệt độ nước (0C) 28 28 2 Nhiệt độ không khí(0C) 29 28 30 pH 6 6 6.5 Độ trong (cm) 15 30 25 Nồng độ muối (%0) 10.3 14.5 0 Bảng 2.1 Các chỉ tiêu môi trường tại các điểm thu của Lâm Văn Minh. 2000 2.3 Đặc điểm dinh dưỡng và sinh sản 2.3.1 Đặc điểm đinh dưỡng Cấu tạo và chức phận của các cơ quan bắt mồi và tiêu hóa có liên hệ chặt chẽ với sự khác biệt về thức ăn của cá. Theo (Nikolxki, 1964) cá ăn thịt với đặc điểm là miệng rộng, răng sắc trên các xương hàm, xương lá mía và xương khẩu cái. Chiều dài của ruột có liên quan chặt chẽ đến đặc điểm dinh dưỡng của cá, những loài cá có tính ăn thiên về động vật sẽ có chỉ số Li/LO (tỷ lệ chiều dài ống tiêu hóa và chiều dài thân) ≤1, cá ăn tạp có Li/LO =1-3 và cá ăn tạp có Li/LO ≥ 3. Ngoài ra, để xác định tính ăn của cá người ta còn căn cứ trên lược mang, cấu tạo của dạ dày, răng hầu, …Theo Nikolxki, 1964 cá ăn thịt có lược mang ngắn, thưa, dạ dày to, manh tràng và răng hầu phát triển . Tính ăn của cá thay đổi theo kích thước cơ thể. Lúc còn nhỏ (1-3 ngày tuổi) cá dinh dưỡng chủ yếu bằng noãn hoàng, khi cá hấp thu hết chuyến sang ăn thức ăn bên ngoài nhưng chủ yếu là động vật phù du cỡ nhỏ. Theo Vahta; Nguyễn Văn Kiểm, (1997) cá Trơn ở giai đoạn cá con thức ăn gồm: giáp xác nhỏ, rotifer, phytoplankton,… Số ngày tuổi càng tăng thì tỉ lệ giáp xác nhỏ càng giảm trong khi giáp xác lớn càng tăng. Ngoài ra cá Trơn cũng có thể ăn thức ăn đáy như giun ít tơ, ấu trùng Chironomus. Theo Nguyễn Bạch Loan (2000), cá Ngát là loài ăn tạp thiên về động vật với phổ thức ăn rộng (Mùn bã hữu cơ, động vật phù du, cá con, thực vật thủy sinh, thực vật phù du, giáp xác, nhuyễn thể, giun). Hầu hết các loài cá Ngát ăn động vật thân mềm, giáp xác, cá có vẩy, động vật đáy, mùn bã hữu cơ, giun nhiều tơ và một số loại thức ăn khác (Fishbase, 2008). Theo Lâm Văn Minh (2000), phân tích theo phương pháp tần suất xuất hiện cho thấy thức ăn trong ruột cá Ngát có 6 loại là: Mùn bã hữu cơ; phiêu sinh thực vật; Giáp xác; Động vật hai mãnh vỏ; thực vật thượng đẳng và cá con. Trong đó, mùn bã hữu cơ và thực vật thủy sinh xuất hiện với tần số cao nhất là (100%) kế đến là cá con (72%). Còn thực vật thượng đẳng; giáp xác và động vật hai mãnh vỏ xuất hiện với tần số lần lượt là: 28%; 32%; 32%. Như vậy, trong 6 nhóm thức ăn thì giáp xác và động vật hai mãnh vỏ có cùng tần số xuất hiện (32%). Mùn bã hữu cơ và thực vật thủy sinh tuy bắt gặp ở đoạn đầu ống tiêu hóa của cá nhưng cũng hiện diện ở ruột sau, với lược mang của cá Ngát ngắn, thưa, ruột cá lại ngắn, các cấu tạo này hoàn toàn không thích hợp cho các loài cá ăn mùn bã hữu cơ và phiêu sinh thực vật. Bên cạnh đó các loài thức ăn ở đáy như: động vật hai mãnh vỏ, giáp xác cao cho thấy mùn bã hữu cơ bị cá Ngát ăn vào cùng với các loại thức ăn ở đáy. Các loại thức ăn như: sò, cua, tép xuất hiện ở đoạn đầu ống tiêu hóa với tần số khá cao nhưng ở đoạn sau chỉ thấy còn lại phần vỏ. Điều đó cho thấy các loại thức ăn này được cá thường ăn và tiêu hóa tốt. Tương tự, thực vật thượng đẳng xuất hiện ở đoạn đầu của ống tiêu hóa không cao và ở phần ruột sau lại không thấy. Điều đó cũng cho thấy loại thức ăn này cá không ăn thường xuyên nhưng cũng được cá tiêu thụ tốt. Kết quả này dự đoán cá Ngát là loài ăn tạp. Theo kết quả phân tích phổ thức ăn của Lâm Văn Minh (2000) cho thấy: Cá con vẫn chiếm ưu thế nhất, giáp xác chiếm thứ hai, động vật hai mãnh vỏ đứng thứ ba, thấp nhất là mùn bã hữu cơ và thực vật thượng đẳng. Cho thấy phổ thức ăn của cá phong phú phù hợp với hình thái cấu tạo ống tiêu hóa của cá. 2.3.2 Đặc điểm sinh sản 2.3.2.1 Phương pháp xác định giai đoạn thành thục cá theo bậc thang thành thục Phương pháp thông thường để đánh giá giai đoạn thành thục của cá là xác định giai đoạn thành thục của từng cá thể theo bậc thang thành thục trong đó có những đặc điểm khác biệt có thể nhận biết được bằng mắt thường. Bậc thang thành thục cho phép đánh giá nhanh mức độ thành thục và khả năng sinh sản của một số lượng lớn cá thể. Rất nhiều tác giả đã đưa ra các bậc thang thành thục của cá (Qasim, 1957; Kesteven, 1960; Nikoxki, 1963; Laevastu, 1965; Crosland, 1977; Beumer, 1979). Các tác giả này đã chia bậc thang thành thục ra nhiều giai đoạn (4-5 giai đoạn thậm chí nhiều hơn: 7-8 giai đoạn). Sự phân chia bậc thang thành thục ra nhiều giai đoạn cho phép phân chia khá chính xác mức độ thành thục của các cá thể trong cùng một loài hay giữa các loài cá khác nhau. Tuy nhiên, đánh giá nhanh bằng mắt chỉ có thể phân chia một cách tương đối số lượng trung bình của mẫu vật quan sát. Cho nên không thể sử dụng bậc thang thành thục có quá nhiều giai đoạn. Bậc thang thành thục có ít hơn 8 giai đoạn được xem là thích hợp cho việc đánh giá hầu hết các loài cá (Holden và Raitt, (1974) trích bởi: Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004) Các bậc thang thành thục còn được sử dụng để đánh giá nhanh tình trạng thành thục của tuyến sinh dục trong điều kiện ít trang thiết bị khảo sát và cho phép khảo sát một lượng lớn mẫu ngoài hiện trường. Nhìn chung, có 2 bậc thang thành thục sinh dục thường được sử dụng: Bậc thang thành thục 7 giai đoạn dành cho các loài cá đẻ trứng một lượt. Các loài đẻ trứng một lượt có buồng trứng phát triển đồng nhất và tất cả các loài trứng đều rụng cùng một thời điểm. Xác định giai đoạn thành thục các loài cá này thường không khó, vì hầu hết các tế bào trứng đều phát triển với cùng một giai đoạn trong cùng một thời điểm. Bậc thang thành thục 5 giai đoạn dành cho các loài đẻ trứng nhiều đợt. Việc xác định giai đoạn thành thục ở các loài cá này là vấn đề khá khó khăn vì thời gian sinh sản của cá kéo dài và cá đẻ thành nhiều đợt. Buồng trứng của các loài này có nhiều lứa trứng với các giai đoạn thành thục khác nhau. Bảng 2.2: Bậc thang thành thục của cá đẻ trứng một lượt (theo Kesteven (1960), trích bởi: Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004) Giai đoạn Mức độ thành thục Mô tả I Chưa thành thục Tuyến sinh dục chưa phát triển, còn rất nhỏ nằm sát vào cột sống. Tinh sào và noãn sào là 2 sợi dây dài hẹp không màu hoặc màu xám. Tế bào trứng không phân biệt được II III IV V VI VII Trưởng thành Sinh trưởng Sinh trưởng & dinh dưỡng Thành thục Rụng và đẻ trứng Thoái hóa bằng mắt thường. Tuyến sinh dục bắt đầu phát triển và dài thêm. Tinh sào có màu hơi đục, màu hơi xám đến hồng. Chiều dài tuyến sinh dục chiếm khoảng ½ hay hơn so với chiều dài xoang bụng. Hạt trứng nhỏ và có thể quan sát được bằng kính lúp. Các cá thể sau khi đẻ trứng cũng được xếp vào giai đoạn này. Tuyến sinh dục mờ đục, màu hơi đỏ với nhiều mạch máu chiếm khoảng ½ thể tích xoang bụng. Buồng trứng chứa đầy những hạt trứng nhỏ, màu trắng đục và có thể nhận biết được bằng mắt thường. Tinh sào có màu đỏ nhạt đến trắng, không có sẹ lỏng chảy ra khi ấn nhẹ vào. Buồng trứng có màu vàng (cam) hơi đỏ. Các hạt trứng có màu đục và có thể phân biệt rõ từng hạt trứng. Tuyến sinh dục chiếm khoảng 2/3 thể tích xoang bụng. Tuyến sinh dục chiếm gần hết thể tích xoang bụng. Tinh sào có màu trắng, có sẹ trắng chảy ra khi ấn vào. Hạt trứng lớn, tròn, một số trứng số trứng bắt đầu trong và chín. Trứng và sẹ chín muồi, khi ấn nhẹ vào bụng các trứng và sẹ chảy ra từng tia. Nếu nhấc ngược cá lên và lắc nhẹ, trứng và sẹ chảy ra tự do. Tất cả trứng trở nên trong suốt chỉ còn một vài trứng màu trắng đục sót lại trong buồng trứng. Tuyến sinh dục trở nên mềm nhũn, co lại và có màu đỏ sẫm. Xoang bụng hầu như trống rỗng, thường trong buồng trứng còn sót lại một ít trứng nhỏ, các trứng này sẽ chuyển biến và thoái hóa. Sau đó buồng trứng trở về giai đoạn II . Bảng 2.3 Bậc thang thành thục sinh dục theo Nikolxki (1963); trích bởi: Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004) Giai đoạn Mô tả I II III IV V VI Cá thể non chưa thành thục sinh dục Tuyến sinh dục có kích thước rất nhỏ, mắt thường không nhìn thấy hạt trứng. Giai đoạn thành thục. Bằng mắt thường nhìn thấy những hạt trứng. Khối lượng tuyến sinh dục tăng lên rất nhanh, tinh sào có màu trắng trong, chuyển sang màu hồng nhạt. Giai đoạn chín muồi. Tuyến sinh dục có kích thướt lớn nhất, nhưng khi ấn nhẹ các sản phẩm sinh dục chưa chảy ra. Giai đoạn đẻ trứng. Các sản phẩm sinh dục chảy ra khi ấn nhẹ vào bụng cá. Khối lượng tuyến sinh dục từ đầu đến cuối giảm đi rất nhanh. Giai đoạn sau khi đẻ. Các sản phẩm sinh dục được phóng thích hết, lỗ sinh dục phồng lên, tuyến sinh dục trong dạng túi mềm nhão. Ở con cái thường có những trứng nhỏ còn sót lại, ở con đực còn sót lại một ít tinh trùng 2.3.2.2 Phương pháp xác định mức độ thành thục theo chiều dài cơ thể: (trích bởi: Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004) Trong những trường hợp thực tế, việc thu mẫu để xác định mức độ thành thục sinh dục rất khó thực hiện. Có một mối liên hệ khá chặt chẽ giữa giai đoạn thành thục và chiều dài cơ thể và cá chỉ thành thục sinh dục sau khi đạt một chiều dài nhất định. Do vậy, xác định thang thành thục theo chiều dài cơ thể sẽ rất hữu ích trong việc đánh giá mức độ thành thục của một quần thể cá. Khi đã xác định được thang thành thục theo chiều dài cơ thể, tỉ lệ thành thục (%) tại một thời điểm nhất định có thể ước tính được dựa trên số đo chiều dài của cá. Mối quan hệ giữa sức sinh sản và các chỉ tiêu sinh học khác (trích bởi: Phạm thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004) Nhiều tác giả (Bhatnagar, 1964; Rao, 1972; Varghese, 1973) cho rằng sức sinh sản của cá có liên quan với lập phương của chiều dài cơ thể (chiều dài lũy thừa 3), một số tác giả khác thì quan sát thấy sức sinh sản của cá thì tăng theo tỉ lệ của bình phương chiều dài cơ thể. Tương tự, có sự tồn tại của tương quan giữa sức sinh sản và
Luận văn liên quan